Thứ Ba, 31 tháng 12, 2013

Luận văn giải quyết tranh chấp biển đông thông qua các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế

1. Tính cấp thiết của đề tài . . . . . . . . .
Lịch sử đất nước Việt Nam từ buổi đầu lập quốc cho đến nay là một hành trình dài đăng
đẳng của quá trình dựng nước và giữ nước. Lịch sử cũng đã cho thấy những cuộc binh biến,
những cuộc đấu tranh giữ yên bờ cõi và những khúc ca khải hoàn luôn là niềm tự hào của dân
tộc. Thế nhưng nhìn lại những bước đường người xưa đã đi qua, sau cuộc chiến còn sót lại là
máu của người chiến thắng và nước mắt của kẻ bại trận … và còn là những cảnh hoang tàn trên
quê hương nơi giao tranh. Việt Nam nói riêng hay thế giới nói chung cũng đều không tránh khỏi
những yếu tố đó, bởi hậu quả của chiến tranh luôn là như vậy. Từ thời Trung cổ, khi các quốc
gia hùng mạnh mang trong mình cái triết lý “Công lý thuộc về kẻ mạnh” hay “Kẻ chiến thắng là
kẻ mạnh nhất” thì họ sẵn sàng đem xương máu các đạo quân gửi bốn phương như là một minh
chứng cho triết lý hùng hồn đó. Không một quốc gia nào và cũng không có một tiếng nói chung
lớn mạnh nào có thể ngăn cản được dã tâm đó. Lịch sử thế giới cận đại lại một lần nữa chứng
kiến hai cuộc chiến tranh tàn khốc nhất mà khi cuộc chiến đã đi qua thì dư âm của nó là những
đau thương không kể hết cho loài người. Lúc này, thế giới chợt nhận ra rằng văn minh của loài
người đã đem lại cho chính loài người những vũ khí tối tân với sức mạnh hủy diệt, và khi các
quốc gia mang nó vào trong cuộc chiến thì cũng giống như đặt loài người trên một chiếc chảo
lửa, có thể thành tro bụi bất cứ lúc nào.
Thế giới cảm thấy sợ hãi với điều này!
Hay nói cách khác, thế giới luôn mong muốn hòa bình. Chính sự khao khát quý giá này và
cũng chính vì người ta quá hiểu căn nguyên của mọi cuộc chiến là do những bất đồng và những
xung đột về mặt lợi ích không thể giải quyết được; là động lực tìm đến một giải pháp hữu hiệu
vừa có thể giải quyết được các mâu thuẫn này lại vừa có thể bảo vệ và duy trì nền hòa bình. Từ
những tư duy xuất phát điểm đó, mục đích đầu tiên của Hiến Chương Liên Hợp Quốc là duy trì
hòa bình, an ninh quốc tế và để đạt được mục đích này thì hội viên Liên Hợp Quốc giải quyết
các tranh chấp quốc tế thông qua các biện pháp hòa bình; làm thế nào khỏi phương hại đến hòa
bình và an ninh quốc tế cũng như đến công lý. Như vậy, có thể nói hòa bình giải quyết các tranh
chấp quốc tế mà Liên Hợp Quốc ghi nhận như là một “đường gươm” cắt ngọt những toan tính
của các nước lớn, lại như vừa là “tấm khiên” bảo vệ lợi ích cho nước yếu thế hơn. Nhưng ý
nghĩa trên hết của nó chính là phương thức để các quốc gia không phân biệt lớn mạnh giải quyết
Trang 5
tranh chấp với nhau mà không dùng đến sức mạnh, qua đó hạn chế phương hại nền hòa bình và
duy trì công lý. Tinh hoa của thế giới đã được xây dựng như vậy!
Do đó, Việt Nam không có lý do gì để ngần ngại hay từ chối tinh hoa này, nhất là trong bối
cảnh quyền hợp pháp của Việt Nam trên Biển Đông đang dậy lên những làn sóng tranh chấp
mạnh mẽ … !!!
Thực tế trong nhiều năm qua, chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam trên Biển
Đông bị vi phạm nghiêm trọng, đặc biệt là hai Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đáng lưu ý
hơn là bên cạnh các tranh cãi vốn đã tồn tại về chủ quyền và lãnh thổ, đã xảy ra nhiều va chạm
liên quan đến an ninh và an toàn hàng hải, và liên quan đến quản lý, khai thác tài nguyên biển.
Vùng biển Đông có 7 quốc gia xung quanh gồm Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Brunei,
Indonesia, Singapore và Việt Nam. Đây là một khu vực có diện tích tương đối hẹp, là vùng biển
nửa kín. Biển Đông là nơi có nguồn tài nguyên phong phú, đồng thời là con đường quan trọng
nối liền Đông Á với Ấn Độ Dương và châu Âu, có vị trí chiến lược vô cùng quan trọng. Do
nhiều nguyên nhân khác nhau, giữa các quốc gia xung quanh biển Đông đã phát sinh nhiều xung
đột. Bảo vệ cục diện an ninh ở biển Đông trở thành vấn đề được các nước xung quanh và thậm
chí các nước khác trên thế giới cùng quan tâm. Điều này đặt ra một bối cảnh tranh chấp là chúng
ta cần phải xây dựng một lộ trình giải quyết an toàn, vừa phải đảm bảo toàn vẹn lãnh thổ dựa
trên pháp luật quốc tế, lại vừa phải đảm bảo mối quan hệ ổn định với các bên tranh chấp. Người
phát ngôn Bộ Ngoại Giao Việt Nam đã thể hiện quan điểm của Việt Nam trong đường lối giải
quyết tranh chấp này: “Về Biển Đông, chủ trương của Việt Nam là thông qua đàm phán, giải
quyết một cách hoà bình mọi tranh chấp trên cơ sở luật pháp và thực tiễn quốc tế, đặc biệt là
Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 và tinh thần của Tuyên bố về Cách ứng xử
của các bên trên biển Đông năm 2002 (DOC); nhằm giữ gìn hoà bình, ổn định và tìm kiếm giải
pháp cơ bản, lâu dài mà các bên đều có thể chấp nhận được”. Như vậy, có thể nói hòa bình giải
quyết tranh chấp Biển Đông là thông điệp mà Việt Nam gửi đến các bên và cho thế giới. Trong
cuộc hội thảo khoa học quốc tế về Biển Đông được khai mạc ngày 11-11-2010, GS Stein
Tennesson của Viện nghiên cứu Hòa bình quốc tế (NaUy) cho rằng Biển Đông là một vấn đề
luật pháp chứ không chỉ là một vấn đề chính trị, nên giải quyết chính đáng nhất là Luật pháp.
Qua đó, có thể thấy rằng quan điểm đúng đắn của Việt Nam đã được sự đồng thuận của dư luận
thế giới. Sự đồng thuận này có giá trị rất lớn trong việc cũng cố quan điểm và lập trường giải
Trang 6
quyết tranh chấp Biển Đông của Việt Nam, cùng với đó là ý nghĩa quan trọng để những nghiên
cứu về tranh chấp Biển Đông xác định được phương hướng.
Trong pháp luật quốc tế, hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế là một khái niệm bao gồm
những biện pháp và các cách thức để tiến hành. Nghiên cứu tất cả những cách thức để lựa chọn
và áp dụng một biện pháp hữu hiệu nhất để giải quyết tranh chấp trên Biển Đông, hay là tiến
hành đồng bộ nhiều biện pháp … ??? Lộ trình áp dụng những cách thức để giải quyết vấn đề
tranh chấp Biển Đông sẽ được xây dựng ra sao ??? Đó cũng chính là những công việc cần thiết
hiện nay của các học giả nghiên cứu pháp luật. Dưới góc độ nghiên cứu về pháp luật quốc tế
hiện hành và tiếp thu có chọn lọc những công trình nghiên cứu, bài viết của các học giả trước,
chúng tôi chọn đề tài “Giải quyết tranh chấp Biển Đông thông qua các biện pháp hòa bình giải
quyết tranh chấp quốc tế” trong khuôn khổ một công trình nghiên cứu khoa học.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu . . . . . . . . . .
Trong những năm qua, tình hình tranh chấp Biển Đông ngày càng có chiều hướng phức
tạp, ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi hợp pháp của quốc gia. Giới nghiên cứu khoa học pháp lý
đã quan tâm nhiều đến vấn đề này và cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu có thể kể ra như:
Căng thẳng Biển Đông và lựa chọn của Việt Nam (TS Nguyễn Trọng Bình), Chủ quyền Việt
Nam và luật pháp quốc tế (Lê Vĩnh Trương – Quỹ nghiên cứu Biển Đông), Giải pháp nào cho
tranh chấp Biển Đông (Ths Hoàng Việt – ĐH Luật TPHCM), Tranh chấp Biển Đông và vai trò
của Liên Hợp Quốc (Dương Danh Huy, Phạm Thu Xuân, Nguyễn Thái Linh, Lê Vĩnh Trương,
Lê Minh Phiếu – Quỹ nghiên cứu Biển Đông), …
Đặc biệt, trong cuộc hội thảo khoa học quốc tế về Biển Đông lần 1 được tổ chức tại Hà
Nôi, các học giả trong và ngoài nước đã đóng góp những tham luận về hòa bình giải quyết tranh
chấp Biển Đông hiện nay. Có thể kể ra như: Liệu có thể giải quyết được các tranh chấp chủ
quyền và phân định trên biển đối với các đảo ở Biển Đông (GS Stein Tennesson – Viện nghiên
cứu hòa bình quốc tế Na Uy), Giải quyết các tranh chấp biển quốc tế thông qua các biện pháp tài
phán (Matthias Fueracker – Chuyên viên pháp luật của Tòa án quốc tế về Luật Biển), Quyền tài
phán biển và hợp tác Biển Đông (GS Ji Guo Xing – Trường các vấn đề công và vấn đề quốc tế,
Đại học Giao Thông Thượng Hải, Trung Quốc)…
Trang 7
Tại Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 11-11-2010, đã diễn ra cuộc Hội thảo khoa học quốc tế
về Biển Đông lần 2, các học giả cũng đã tranh luận và đóng góp nhiều ý kiến về vấn đề giải
quyết tranh chấp Biển Đông hiện nay của Việt Nam.
Trong tháng 3 và tháng 4 năm 2011, đã diễn ra hai cuộc Hội thảo quốc gia về Biển Đông
do Học viện ngoại giao và Hội Luật sư toàn quốc phối hợp tổ chức.
3. Mục tiêu nghiên cứu đề tài . . . . . . . . . . .
Đề tài không nghiên cứu và phân tích các chứng cứ và lập luận của Việt Nam đối với yêu
sách chủ quyền và quyền chủ quyền trên Biển Đông mà nghiên cứu các khía cạnh pháp lý của
các giải pháp hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế dựa trên những chuyển biến của quan hệ
quốc tế. Tuy nhiên từ các chứng cứ và lập luận mà các học giả trước đã phân tích, nhóm nghiên
cứu kế thừa và vận dụng một cách phù hợp trong đề tài.
Do đó, làm rõ những vấn đề hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế, là cơ sở lý luận để
nghiên cứu các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế trong pháp luật quốc tế, trong
đó đặt vấn đề giải quyết tranh chấp Biển Đông trong những biện pháp này.
Cung cấp một cái nhìn tổng quan nhất về thực trạng tranh chấp Biển Đông hiện nay trên
trường quốc tế. Mọi cách thức giải quyết đều phụ thuộc vào diễn biến thực tế của tranh chấp.
Yếu tố thực tế này khi vận dụng các giải pháp sẽ làm sáng tỏ các hướng giải quyết tranh chấp.
Tổng kết và phân tích tất cả các vấn đề trình bày để đi kết luận được các giải pháp mang
tính khoa học nhằm vận dụng vào trong vấn đề giải quyết tranh chấp Biển Đông, một tranh chấp
đang diễn ra vô cùng phức tạp.
4. Phương pháp nghiên cứu . . . . . . . . . . . . . .
Phương pháp lược sử,
Phương pháp biện chứng,
Phương pháp so sánh,
Phương pháp phân tích,
Phương pháp diễn dịch,
Phương pháp quy nạp.
Trang 8
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu . . . . . . . . . .
• Đối tượng nghiên cứu: Pháp luật quốc tế về tranh chấp quốc tế và cơ chế giải quyết tranh
chấp quốc tế bằng biện pháp hòa bình.
• Phạm vi nghiên cứu: Tranh chấp vùng Biển Đông, đặc biệt là tranh chấp giữa Việt Nam
và Trung Quốc.
6. Ý nghĩa nghiên cứu . . . . . . . . . . . . .
Tranh chấp Biển Đông cần phải giải quyết, là lựa chọn để xây xựng một môi trường hòa
bình và ổn định, tiến tới thiết lập những cơ chế hợp tác trong khu vực đối với yêu cầu phát triển
kinh tế và toàn vẹn lãnh thổ.
Con đường giải quyết tranh chấp Biển Đông nên là lựa chọn của các giải pháp pháp lý.
Những giải pháp này đối với yêu cầu giải quyết tranh chấp Biển Đông của Việt Nam là phù hợp.
Kiên trì với lựa chọn này là lựa chọn hợp lý để bảo vệ lợi ích hợp pháp trên Biển Đông.
Đối với nhóm nghiên cứu, sẽ góp phần tăng cường kiến thức về môn học Luật Quốc tế và
các môn học liên quan, cũng như các kiến thức về chính trị, xã hội. Điều này có giá trị bổ trợ
kiến thức cho định hướng nghề nghiệp trong tương lai. Bên cạnh đó, góp một phần công sức và
chính kiến của mình vào công việc nghiên cứu tranh chấp Biển Đông của các học giả, qua đó
khẳng định sự quan tâm của lớp thanh niên đến vấn đề hệ trọng của đất nước.
7. Bố cục đề tài . . . . . . . . . . . . . . . . .
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ NGHĨA VỤ HÒA BÌNH GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
QUỐC TẾ TRONG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ CÓ ẢNH HƯỞNG TRỰC
TIẾP ĐẾN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG GIỮA
VIỆT NAM – TRUNG QUỐC VÀ CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á.
CHƯƠNG 3: TỪ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG ĐẾN ĐỀ XUẤT CÁC PHƯƠNG
HƯỚNG PHÙ HỢP ĐỂ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG
Trang 9
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN VỀ NGHĨA VỤ HÒA BÌNH GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP QUỐC TẾ
TRONG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ CÓ ẢNH HƯỞNG TRỰC TIẾP ĐẾN GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG
1.1. Lý luận về nghĩa vụ hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế trong pháp luật
quốc tế . . . . . . . . . . . . .
1.1.1. Đặc tính của quan hệ quốc tế hiện đại . . . . . . .
Quan hệ quốc tế là quan hệ giữa nhà nước này với nhà nước khác, là sự tổng hợp của
những mối quan hệ trên lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của các chủ thể trong cộng
đồng quốc tế, là công việc chính trị quốc tế mà các nhà nước và các tập đoàn chính trị tham gia,
là tổng hợp những chế định và hình thức hoạt động quốc tế. Trong điều kiện giao lưu và hội
nhập hiện nay, không một quốc gia nào tồn tại biệt lập lại có thể phát triển được. Vì vậy, việc
chủ động tham gia hội nhập quốc tế, tạo dựng cho mình một vị thế vững vàng trên thế giới là
mối quan tâm của gần như hầu hết các quốc gia trên thế giới.
Quan hệ giữa các quốc gia dân tộc trên thế giới kể từ sau năm 1917 được hình thành và
vận động trên cơ sở tác động tổng hòa của đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc và đấu tranh để
giải quyết vấn đề toàn cầu. Đó là kết quả ý thức hệ của cuộc cách mạng tháng 10 Nga. Những
cuộc đấu tranh này không chỉ đồng thời diễn ra mà còn diễn ra trong mối quan hệ hữu cơ, tác
động và quyết định lẫn nhau. Mối quan hệ giữa các quốc gia dân tộc được vận động trong quỹ
đạo của quá trình quốc tế hóa, toàn cầu hóa. Đây là một xu thế vận động của quan hệ quốc tế,
cũng là một hình thức tập hợp lực lượng của quốc gia – dân tộc.
Quan hệ giữa các quốc gia dân tộc trong thời đại ngày nay trở nên thật sự phong phú, đa
dạng. Về mục tiêu, quan hệ quốc tế của mỗi quốc gia dân tộc tiếp tục mục tiêu chính trị nhằm
cải thiện vị trí của nước mình trên bản đồ thế giới, đồng thời hướng vào mục tiêu phát triển theo
nhu cầu lịch sử của nhân loại hiện nay. Chính vì những mục tiêu này, các quốc gia không ngừng
đấu tranh để giành quyền lợi cho nước mình, từ đó, dẫn dắt hành vi của mình khi tham gia vào
quan hệ quốc tế. Cũng chính là cơ sở phát sinh những tranh chấp quốc tế thường gặp trong mọi
khía cạnh của đời sống quốc tế.
Trang 10
1.1.1.1. Đồng thuận lợi ích là cơ sở thiết lập quan hệ quốc tế giữa các chủ thể
Trong bối cảnh hiện nay, với sự phát triển vũ bão của khoa học và công nghệ, với xu thế
tất yếu của toàn cầu hóa, quan hệ giữa các dân tộc trong thời đại ngày nay có nhiều biểu hiện
mới. Trong bối cảnh toàn cầu hóa đang tác động đến tất cả các quốc gia, trong bối cảnh cùng tồn
tại giữa các quốc gia có chế độ xã hội khác nhau, trong bối cảnh cùng nhau hợp sức chống lại
nhiều vấn đề toàn cầu, hợp tác trở thành một xu thế tất yếu vì những lợi ích chung của mỗi quốc
gia và lợi ích chung của toàn nhân loại trong quan hệ quốc tế hiện nay. Các nước không ngừng
quan hệ hợp tác với nhau trên khắp các lĩnh vực đời sống kinh tế và xã hội. Quan hệ hợp tác
giữa các nước càng có sự cân bằng về lợi ích bao nhiêu thì mối quan hệ hợp tác càng phát triển
bấy nhiêu, đó cũng là nguyên nhân chính thúc đẩy sự phát triển bền vững trong mối quan hệ
quốc tế. Từ việc đồng thuận nhau cùng về lợi ích thì sẽ dẫn đến những động thái tích cực của
các bên nhằm thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết, nhưng chỉ cần có sự chênh lệch về lợi ích giữa
các bên trong quan hệ quốc tế thì thường sẽ dẫn đến những tranh chấp và có thể nghiêm trọng
hơn sẽ xảy ra những xung đột gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến mối quan hệ hợp tác và đồng
thời tác động tiêu cực đến nền kinh tế cũng như an ninh của các bên.
Và vấn đề tranh chấp Biển Đông hiện nay cũng là một minh chứng rõ ràng cho việc xung
đột về lợi ích giữa các nước tham gia tranh chấp như Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Đài
Loan, Malaysia, Brunei… Nguồn gốc chính của căng thẳng và bất ổn định ở Biển Đông xuất
phát từ vị trí chiến lược của Biển Đông, các quốc gia không ngừng tiến hành cuộc chạy đua
giành quyền kiểm soát các tài nguyên thiên nhiên tại khu vực này dẫn đến các tranh chấp lãnh
thổ tại Biển Đông. Từ những nguồn lợi mà các nước có được ở Biển Đông, các quốc gia đã đưa
ra những yêu sách khác nhau để tối đa hóa được lợi ích của mình. Và những hành vi cụ thể đó
đã phần nào nói lên được qui luật tất yếu trong quan hệ quốc tế khi có sự xung đột về lợi ích thì
sẽ dẫn đến những hành động để bảo vệ quyền lợi của chính mình. Từ những lợi ích nhận được
mà các nước có những mối quan hệ hợp tác với nhau, thông qua các điều ước, hiệp định với
mục đích cùng hợp tác để phát triển. Nhưng cũng chính từ những quyền lợi mà không có sự
dung hòa giữa các bên thì cũng rất dễ dàng dẫn đến xung đột. Trong quan hệ quốc tế ngày nay,
việc lợi ích được cân bằng giữa các bên trong hợp tác là rất cần thiết để khuyến khích các bên có
thiện chí. Vì thế, việc quan hệ quốc ngày càng được gắn kết hơn thì vấn đề cốt yếu là về “quyền
lợi”, nó sẽ là nhân tố thúc đẩy phát triển nhưng cũng chính nó sẽ dễ dàng làm quan hệ trở nên
Trang 11
xấu đi. Và trong việc giải quyết vấn đề về biển Đông hiện nay là rất khó khăn vì các nước tin
rằng sự giàu có biển sẽ làm giàu cho nền kinh tế của nước sỡ hữu khu vực biển chính xác.
Quyền sở hữu các khu vực biển được cho là giàu có vẫn bị coi là thuật ngữ được ăn cả, ngã về
không, các nước vẫn muốn yêu sách của mình sẽ được chấp thuận tất cả chứ không phải là hợp
tác cùng phát triển.
1.1.1.2. Trong quan hệ quốc tế, luôn tồn tại khả năng phát sinh tranh chấp .
Hiện nay, hợp tác cùng phát triển trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh
thổ là xu hướng tất yếu mà các quốc gia lựa chọn. Nhưng sự gia tăng của quan hệ hợp tác quốc
tế lại tiềm ẩn nguy cơ nảy sinh mâu thuẫn, bất đồng trong quá trình chủ thể thiết lập các mối
quan hệ hợp tác quốc tế. Một khi giữa các quốc gia có sự va chạm về quyền lợi, nhưng không có
các yêu sách rõ ràng, tình trạng này sẽ dễ dàng gây ra mâu thuẫn và dẫn đến tranh chấp. Như
vậy, từ thực tiễn quốc tế có thể thấy được, trong quan hệ quốc tế, sẽ luôn luôn tồn tại những
mâu thuẫn về quyền lợi giữa các chủ thể tham gia. Những chủ thể này có quan điểm trái ngược
nhau hoặc mâu thuẫn và có những yêu cầu, hay đòi hỏi cụ thể trái ngược nhau. Do không thỏa
thuận được với nhau về quyền hay sự kiện, đưa đến mâu thuẫn, đối lập về quan điểm pháp lý
hoặc quyền giữa các bên với nhau. Khi đó, những yếu tố này sẽ làm tranh chấp quốc tế xuất
hiện.
Do đó, trong quan hệ quốc tế luôn tồn tại khả năng phát sinh tranh chấp. Thậm chí, có thể
nói, số lượng tranh chấp thường tỷ lệ thuận với tốc độ phát triển của quan hệ quốc tế. Điều này
cho phép nhận định rằng khi thiết lập quan hệ quốc tế cần phải chấp nhận những tranh chấp phát
sinh, việc chấp nhận là nhân tố động lực để xây dựng những cơ chế giải quyết hoặc kiềm chế
các hành vi vì lợi ích thái quá dẫn đến tranh chấp. Trên thực tế, những Điều ước hợp tác quốc tế
song phương hay khu vực luôn có một phần quy định cách giải quyết các tranh chấp. Ví dụ:
Trong hiến chương ASEAN, từ điều 22 đến điều 26 của Chương 8 đã quy định về các cách thức
giải quyết tranh chấp thể hiện nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp của Hiến Chương Liên
Hợp Quốc.
Như vậy, tranh chấp luôn tồn tại và giải quyết được những tranh chấp là thể hiện các thiện
chí về hợp tác, nếu không giải quyết triệt để sẽ để lại tiền lệ xấu trong quan hệ hợp tác giữa các
bên, ảnh hưởng nghiêm trọng đến những vấn đề khác cần hợp tác.
Trang 12
Do đó, định hình nên những khả năng tồn tại tranh chấp quốc tế là một đặc tính cố hữu của
quan hệ quốc tế; đặc biệt trong xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập khu vực, mô hình hợp tác
giữa các quốc gia vì nhu cầu phát triển kinh tế là phương thức lựa chọn hữu hiệu thì đặc tính này
cần phải được lưu ý. Điều lưu ý này thể hiện ở việc tiên lượng và triệt tiêu những yếu tố có khả
năng gây ra tranh chấp.
1.1.1.3. Xây dựng cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế là vai trò quan trọng của luật
pháp quốc tế . . . . . . . . . . . . .
Luật quốc tế là kết quả của quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh giữa các chủ thể của luật
quốc tế với nhau, trước tiên và chủ yếu là giữa các quốc gia trên bình diện quốc tế. Trong quá
trình này, việc phát sinh các tranh chấp là điều không thể tránh khỏi, nói cách khác sự xuất hiện
các tranh chấp quốc tế có mối quan hệ chặt chẽ, không thể tách rời với các quan hệ pháp lý quốc
tế là đối tượng điều chỉnh của Luật quốc tế. Bên cạnh đó, tranh chấp quốc tế có thể phát sinh từ
đường lối chính sách của các chủ thể Luật quốc tế và quan điểm tiếp cận khác nhau của họ về
các vấn đề pháp lý quốc tế.
Vai trò cực kì quan trọng và vô cùng cần thiết của Luật quốc tế khi giải quyết tranh chấp
quốc tế là thực tế hiển nhiên qua lý luận và thực tiễn. Trong luật quốc tế có chế định riêng biệt
về giải quyết tranh chấp quốc tế, đây là bộ phận cấu thành của luật quốc tế, là tổng thể các
nguyên tắc và quy phạm Luật quốc tế điều chỉnh các quan hệ pháp luật quốc tế, phát sinh trong
toàn bộ quá trình giải quyết tranh chấp. Ngày nay, không một quyết định chính trị nào có thể trở
thành niềm hy vọng và mang ý nghĩa trong đời sống quốc tế nếu như nó không được xây dựng
trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế. Kết luận này được coi là có cơ sở, vì hầu như
trong mọi văn kiện quốc tế quan trọng đồng thời được đề cập đến
(1)
.
Do những lý luận trên và những chế định trong lời nói đầu và các nguyên tắc, mục đích
của Hiến Chương Liên Hợp Quốc đã khái luận nên những vai trò vô cùng tiến bộ và quan trọng
đối với các mối quan hệ quốc tế. Với tư cách là bộ khung pháp lý hiện đại đầu tiên của nhân
loại, các vai trò này đã trở thành những vai trò quan trọng nhất của Luật quốc tế hiện đại:
• Vai trò gắn kết và chống chia rẽ cộng động quốc tế.
1. Trong báo cáo của Tổng thư ký Liên Hợp Quốc năm 1989: “Đã xảy ra sự thay đổi lớn lao mà cội nguồn của nó là
sự công nhận đương nhiên, rằng điều cần thiết cho mỗi quyết định dài hạn của Liên hợp quốc về các vấn đề quốc tế
là nó đều phải được dựa trên các nguyên tắc thừa nhận chung quy định trong Hiến chương”.
Trang 13
• Vai trò gìn giữ hòa bình và duy trì công lý.
• Vai trò là khung pháp lý trong quan hệ quốc tế và giải quyết tranh chấp quốc tế.
• Vai trò ghi nhận sự thừa nhận của thế giới: Hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế.
Việc đưa pháp luật quốc tế vào để giải quyết hòa bình tranh chấp quốc tế là một việc làm
khá hữu hiệu và là một biện pháp có tính khả thi cao và cũng thường được các nước áp dụng
nhiều để giải quyết các tranh chấp quốc tế hiện nay. Luật pháp quốc tế được các nước ưa
chuộng như thế là bởi vì luật quốc tế được cộng đồng quốc tế chấp nhận rộng rãi và có tính ràng
buộc về mặt pháp lý, có thể làm tiêu chuẩn để các nước phân định tính hợp pháp của các hành vi
giúp ngăn chặn và làm giảm bớt khả năng dẫn đến hành vi xung đột giữa các quốc gia. Luật
pháp quốc tế có thể đảm bảo quyền lợi hợp pháp chính đáng của các nước. Trong tình huống
xảy ra tranh chấp, có thể đảm bảo giải quyết vấn đề giữa các bên tranh chấp một cách công bằng
và hợp lý. Về nguyên tắc, luật pháp quốc tế đảm bảo cho các bên tranh chấp thông qua phương
pháp đàm phán để giải quyết hòa bình các tranh chấp trên cơ sở bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau,
thông qua cơ sở này chính là sự thể hiện của việc thỏa thuận ý chí; nếu những thỏa thuận ý chí
không thể kết hợp được thì thông qua con đường tài phán, bằng những phán quyết khách quan
không vì lợi ích của riêng một quốc gia hay vì những sức ép chính trị nào, đảm bảo cho việc giải
quyết tranh chấp một cách công bằng, minh bạch và hợp pháp. Chính vì vậy, việc sử dụng luật
pháp quốc tế làm nền tảng để giải quyết các tranh chấp quốc tế không chỉ là nhận thức chung
của cộng đồng quốc tế, mà còn được một nhiều văn bản luật quốc tế qui định trở thành một
nguyên tắc luật phải tuân theo.
Quá trình hợp tác và đấu tranh của các chủ thể trong luật quốc tế là một thực tế cho thấy
hành vi này nhằm loại trừ sự lấn ép của những quốc gia lớn mạnh và có vị thế trên trường quốc
tế đối với những quốc gia nhỏ bé hơn. Xây dựng những khung pháp lý minh bạch, trong đó ghi
nhận sự bình đẳng giữa các quốc gia và giải quyết các tranh chấp cũng dựa trên sự bình đẳng
chính là văn minh của thế giới hiện đại, vừa xây dựng sự phát triển mọi mặt trên toàn cầu vừa
bảo vệ tất cả các quyền lợi hợp pháp không biệt lớn bé giữa các quốc gia. Do đó, xét về tranh
chấp Biển Đông, khi Trung Quốc là một quốc gia mạnh và có thế lực thì việc sử dụng luật pháp
quốc tế để giải quyết tranh chấp là hy vọng lớn nhất và hữu hiệu đối với những quốc gia còn lại
yếu kém hơn. Vì Trung Quốc không thể pháp vỡ những trật tự pháp lý đã được xây dựng do
Trang 14

Thứ Hai, 30 tháng 12, 2013

Nghiên cứu ảnh hưởng của các phụ gia không truyền thống đến chất lượng xăng không chì

3

CHƯƠNG 1 − TỔNG QUAN

1.1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NHIÊN LIỆU DÙNG CHO
ĐỘNG CƠ XĂNG
Xăng thương phẩm bắt buộc phải bảo đảm được các yêu cầu
không những liên quan đến quá trình cháy trong động cơ, hiệu suất
nhiệt mà còn phải bảo đảm các yêu cầu về môi trường.
1.2. THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA NHIÊN LIỆU XĂNG
Thành phần hóa học chính của xăng là các hydrocacbon có số
nguyên tử từ C
4
÷ C
10
. Ngoài ra trong thành phần hóa học của xăng
còn chứa một hàm lượng nhỏ các hợp chất phi hydrocacbon của lưu
huỳnh, nitơ và oxy.
1.2.1. Thành phần hydrocacbon của xăng
1.2.2. Thành phần phi hydrocacbon của xăng
1.3. ĐẶC ĐIỂM QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG TRONG ĐỘNG
CƠ XĂNG
1.4. TỔNG QUAN VỀ CÁC LOẠI PHỤ GIA DÀNH CHO
XĂNG
Các phụ gia nâng cao chỉ số octane cho xăng về cơ bản có thể
được phân loại thành 3 loại: (i) Phụ gia có chứa hợp chất oxygenate;
(ii) Phụ gia chứa hợp chất thơm, amine thơm; (iii) Phụ gia có chứa
hợp chất cơ kim.
1.5. TIÊU CHUẨN VIỆT NAM VỀ XĂNG KHÔNG CHÌ –
TCVN 6776:2005




4

Bảng 1.3 TCVN 6776: 2005
Xăng
không chì
Tên chỉ tiêu
90 92 95

Phương pháp thử
1.Trị số Octane, min.
- Theo phương pháp
nghiên cứu (RON)
- Theo phương pháp môtơ
(MON)
90

79
92

81
95

84

TCVN 2703 : 2002
(ASTM D 2699)
ASTM D2700
2. Hàm lượng chì, g/l, max 0,013
TCVN 7143 : 2002
(ASTM D 3237)
3. Thành phần cất phân
đoạn:
- điểm sôi đầu,
o
C
- điểm sôi 10% thể tích,
o
C, max
- điểm sôi 50% thể tích,
o
C, max
- điểm sôi 90% thể tích,
o
C, max
- điểm sôi cuối,
o
C, max
- cặn cuối, % thể tích, max

Báo cáo
70
120
190
215
2,0



TCVN 2698 : 2002
(ASTM D 86)
4. Ăn mòn mảnh đồng ở
50
o
C/3giờ,max
Loại 1
TCVN 2694 : 2000
(ASTM D 130)
5. Hàm lượng nhựa thực tế
(đã rửa dung môi), mg/100
ml, max
5
TCVN 2693 : 2000
(ASTM D 381)
5

6. Độ ổn định ôxy hóa,
phút, min
480
TCVN 6778 : 2000
(ASTM D 525)
7. Hàm lượng lưu huỳnh,
mg/kg, max
500
TCVN 6701 : 2000
(ASTM D 2622)/
ASTM D 5453
8. Áp suất hơi bão hòa
Reid ở 37,8
o
C, kPa
43-75
TCVN 7023 : 2002
(ASTM D 4953)/
ASTM D 5191
9. Hàm lượng benzen, %
thể tích, max
2,5
TCVN 6703 : 2000
(ASTM D 3606)/
ASTM D 4420
10. Hydrocacbon thơm, %
thể tích, max
40
TCVN 7330 : 2003
(ASTM D 1319)
11. Olefin, % thể tích, max 38
TCVN 7330 : 2003
(ASTM D 1319)
12. Hàm lượng oxy, %
khối lượng, max
2,7
TCVN 7332 : 2003
(ASTM D 4815)
13. Khối lượng riêng (ở
15
o
C), kg/m
3

Báo cáo
TCVN 6594 : 2000
(ASTM D 1298)/
ASTM D 4052
14. Hàm lượng kim loại
(Fe, Mn), mg/l, max
5
TCVN 7331 : 2003
(ASTM D 3831)
15. Ngoại quan
Trong,
không có
tạp chất lơ
lửng
ASTM D 4176
6

Dưới đây chúng tôi xin tổng quan một số chỉ tiêu quan trọng
trong TCVN 6776:2005.
1.5.1. Trị số octane
1.5.2. Các chỉ tiêu liên quan đến độ bay hơi
1.5.3. Hàm lượng oxy
1.5.4. Hàm lượng lưu huỳnh
1.5.5. Hàm lượng benzen
1.6. TỔNG QUAN VỀ METHANOL, ACETONE, TOLUENE,
N-METHYLANILINE
1.6.1. Methanol
Methanol có RON 129-134 đơn vị Error! Reference source
not found., so với xăng A92 có RON = 92 thì methanol là phụ gia có
RON rất cao nên được xem như một phụ gia tiềm năng cho xăng.
Tuy nhiên methanol có sự tương tác với các vị liệu cấu thành các chi
tiết trong động cơ ô tô, xe máy đặc biệt là nhômError! Reference
source not found..
1.6.2. Acetone
Acetone ( propanone) là hợp chất thuộc nhóm chức ketone có
công thức (CH
3
)
2
CO. Việc dùng acetone với một lượng rất nhỏ có
thể giúp tăng chỉ số octane và làm tăng khả năng cháy của nhiên liệu.
Tuy nhiên acetone sẽ phá vở cấu trúc của một số polimer. Nếu
acetone dùng với tỉ lệ vài phần trăm theo thể tích sẽ gây trương nở
các vật liệu bằng nhựa hay cao su tổng hợp trong hệ thống cung cấp
xăngError! Reference source not found..
1.6.3. Toluene
Toluene có RON cao (RON =112-115) và có mặt trong xăng
thông qua các quá trình chế biến trong nhà máy lọc dầu. Tuy nhiên
toluene cũng được sử dụng như một phụ gia cho xăng vì ưu điểm
7

làm tăng RON và giá thành cạnh tranh so với xăng. Khi phối trộn
toluene vào xăng cũng gặp những vấn đề tương tự như các phụ gia
ancol, vì nó có khả năng gây trương nở, ăn mòn các chi tiết bằng
polimer hoặc kim loại trong động cơ ô tô, xe máy.
1.6.4. N-methylaniline
N-methylaniline là một hợp chất hữu cơ độc hại với công thức
hóa học C
6
H
5
NH(CH
3
). Là chất lỏng nhớt, không màu hoặc hơi
vàng, không tan trong nước và hóa nâu khi tiếp xúc với không khí.
Trong các hợp chất thơm amine được sử dụng như phụ gia cho xăng
vì hiệu quả làm tăng RON cao thì N-methylaniline được sử dụng
rộng rãi nhất vì hợp chất này có thể tăng trị số octane nhiều nhất với
hiệu ứng tạo nhựa thấp nhất. Tuy nhiên cần phải khống chế hàm
lượng N-methylaniline trong xăng vì tính độc hại cũng nó, cũng như
khả năng tăng phát thải NO
x
trong khí thải và tạo nhựa trong bồn
chứa cũng như trong buồng đốt.
1.7. CÁC NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
1.7.1. Các nghiên cứu trên thế giới
Theo các nghiên cứu được công bố của Viện Methanol thì việc
phối trộn methanol vào xăng cải thiện được chỉ số octane. Về hàm
lượng oxy trong xăng, với 7% methanol phối trộn vào sẽ làm hàm
ơtương tác với các vị liệu cấu thành các chi tiết trong động cơ oto, xe
máy do đó cần bổ sung thêm các chất gây ức chế ăn mòn hay việc
cẩn trọng trong việc sử dụng.
Việc dùng acetone với một lượng rất nhỏ có thể giúp tăng chỉ
số octane và làm tăng khả năng cháy của nhiên liệu, tuy nhiên
acetone sẽ phá vỡ cấu trúc của một số polime. Nếu acetone dùng với
tỉ lệ vài phần trăm theo thể tích sẽ gây trương nở các vật liệu bằng
nhựa hay cao su tổng hợp trong hệ thống cung cấp xăng.
8

Việc sử dụng N-methylaniline như một phụ gia cho xăng được
công bố trong bằng sáng chế số WO 2010/077161 A2 của
Vladulescu Constanin-Marius cho thấy hiệu quả làm tăng RON vượt
trội của loại phụ gia này. Khả năng tăng RON lên đến 20 đơn vị, tùy
vào hàm lượng phụ gia và chỉ số octane của xăng gốc ban đầu.
1.7.2. Các nghiên cứu trong nước
Metanol là chất phản ứng mạnh, dễ cháy. Nó hòa tan tốt trong
xăng. Việc rò rỉ do ống nhiên liệu, gioăng cao su, các chi tiết bằng
kim loại như đồng, kẽm , nhôm… bị ăn mòn khi nồng độ methanol
đạt 15% trở lên.
1.8. QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHẤT LƯỢNG XĂNG DẦU
Xăng dầu là sản phẩm, hàng hóa nhóm 2 (Sản phẩm, hàng hóa có
khả năng gây mất an toàn trong điều kiện vận chuyển, lưu giữ, bảo
quản, sử dụng hợp lý và đúng mục đích, vẫn tiềm ẩn khả năng gây hại
cho người, động vật, thực vật, tài sản, môi trường) thuộc sự quản lý của
Bộ Khoa học và Công nghệ.
Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Quy chuẩn kỹ thuật
QCVN 1:2009/BKHCN – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về xăng,
nhiên liệu diesel và nhiên liệu sinh học.
9

CHƯƠNG 2 - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. QUY TRÌNH PHA CHẾ
Mẫu thí nghiệm được chuẩn bị bằng cách phối trộn lần lượt
methanol, acetone, toluene, antiknock 819 với những thể tích khác
nhau vào một lượng xăng A83 xác định. Sau khi khuấy đều tạo dung
dịch đồng nhất, mẫu được giữ trong tủ lạnh ở nhiệt độ từ 0
o
C ÷ 4
o
C
trước khi đưa vào phân tích các chỉ tiêu hóa lý quan trọng nhất của
xăng.
2.2. XÁC ĐỊNH TRỊ SỐ OCTANE THEO PHƯƠNG PHÁP
ASTM D-2699
2.2.1. Dụng cụ thiết bị và hóa chất
2.2.2. Tiến hành đo trị số octane
Trị số octane A được xác định trên máy: WAUKESHA - Mỹ,
No: C-14458/1
2.3. XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN CẤT THEO PHƯƠNG PHÁP
ASTM D86
Tiến hành phân tích mẫu trên máy sắc kí GC 6890N khí để xác
định hàm lượng oxy, benzen có trong mẫu. Hệ phần mềm xử lý dữ
liệu được phát triển riêng cho hệ thống phân tích các hợp chất thơm
và các hợp chất chứa oxi trong xăng theo phương pháp thử nghiệm
ASTM D4815/D5580 của AC.
2.4. XÁC ĐỊNH ÁP SUẤT HƠI BÃO HÒA THEO ASTM D-
5191
Thành phần chưng cất của xăng được phân tích theo phương
pháp ASTM D86.
2.5. XÁC ĐỊNH HÀM LƯỢNG BENZENE VÀ HÀM LƯỢNG
OXY
10

2.5.1. Ứng dụng sắc ký xác định hàm lượng Benzene theo
ASTM D5580
2.5.2. Ứng dụng sắc ký xác định hàm lượng oxy theo
ASTM D4815
2.6. PHƯƠNG PHÁP GC-MS
Trong luận văn này, phân tích thành phần antiknock 819 bằng
phương pháp GC-MS được tiến hành tại công ty cổ phần Dược
Danapha.
2.7. PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN CARBON,
HYDRO, NITƠ, LƯU HUỲNH (CHNS)
11

CHƯƠNG 3 – KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM VÀ THẢO LUẬN
Trong luận văn này, ngoài methanol, acetone, toluene,
antiknock 819, chúng tôi chọn thêm 2 phụ gia oxygenate khác là
ethanol và butanol để cùng tiến hành thực nghiệm.
3.1. NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN PHỤ GIA ANTIKNOCK
819
Theo tài liệu kỹ thuật được cung cấp kèm theo phụ gia cho biết
thành phần chính của phụ gia antiknock 819 là gốc amine, ngoài ra
còn có các thành phần khác như ethanol, hydrofuran, biobutanol
chiếm tổng là 98.1%, phụ gia antiknock 819 không chứa kim loại,
benzen, acetone và Pb.
Để xác định lại chính xác thành phần chính của phụ gia, chúng
tôi đã gửi mẫu đi phân tích thành phần các nguyên tố trên thiết bị
Elementary tại Trung tâm phân tích phân loại hàng hóa xuất nhập
khẩu thuộc Cục hải quan Đà Nẵng, chúng tôi nhận thấy thành phần
chính của phụ gia antiknock 819 có công thức phân tử C
7
H
9
N. Trên
cơ sở đó, chúng tôi tiếp tục xác định chính xác công thức cấu tạo
bằng GC-MS tại Công ty cổ phần Dược Danapha. Phổ GC thu được
tại hình 3.1 cho thấy xuất hiện peak chính với cường độ cao nhất tại
thời gian lưu 5.23 phút . Phân tích MS hợp chất tương ứng với peak
này ta thu được phổ MS tại hình 3.2, tra cứu trong ngân hàng phổ
chúng tôi nhận thấy rằng phổ thu được hoàn toàn tương ứng với hợp
chất N-methylaniline. Điều này khẳng định rằng thành phần chính
của phụ gia antiknock 819 là N-methylaniline.
12


Hình 3.1. Phổ GC của phụ gia antiknock 819

Hình 3.2. Phổ MS cuả hợp chất tương ứng peak GC tại 5.23 phút
3.2. SỰ THAY ĐỔI HÀM LƯỢNG OXY TRONG XĂNG THEO
THỂ TÍCH CÁC PHỤ GIA PHỐI TRỘN
3.2.1. Sự thay đổi hàm lượng oxy trong xăng theo thể tích
các phụ gia oxygenate
Kết quả nghiên cứu sự biến đổi hàm lượng oxy trong xăng
theo thể tích các phụ gia oxygenate phối trộn được trình bày trên đồ
thị hình 3.4.

Xây dựng phát triển vùng nguyên liệu giai đoạn năm 2011 2015 của công ty cổ phần mía đường 333


5
1.2.1.1. Đặc điểm về công nghệ:
Hiện nay, trên thế giới đang áp dụng phổ biến các loại quy trình công nghệ sản
xuất đường .
- Quy trình sản xuất đường thô
- Quy trình sản xuất đường trắng (RS)
- Quy trình sản xuất đường tinh luyện (RE)
Tuỳ theo điều kiện về nguồn vốn đầu tư, hiện trạng của máy móc thiết bị, yêu
cầu về tịêu chuẩn chất lượng, nhu cầu của thị trường mà người ta lựa chọn quy trình
sản xuất khác nhau. Sự khác biệt giữa các quy trình công nghệ chủ yếu là ở phương
pháp làm sạch nước mía. Có nhiều phương pháp làm sạch nước mía hiện nay như :
Phương pháp Các-bo-nát hóa; Phương pháp sun-fít hóa; Phương pháp kết hợp Các-bo-
nát và sunfít hóa; Kết hợp Cát-bônát và trao đổi ion; Phương pháp Blanco Director;
Phương pháp SAT ….
Dù áp dụng phương pháp nà , quy trình chung của công nghệ chế biến đường
cũng theo các bước như sau : Mía nguyên liệu  Xử lý mía  Trích li nước mía
làm sạch nước mía Cô đặc nước mía chè đặc  nấu đường kết tinh li tâm,
sấy, đóng bao  đường thành phẩm.
Mỗi quy trình công nghệ khác nhau sẽ cho ra thành phẩm có chất lượng, giá
thành và giá bán khác nhau. Hiện nay ở Việt Nam, ngoài một số Nhà máy xây dựng
mới gần đây có công suất lớn và hiện đại đủ điều kiện sản xuất đường tinh luyện RE,
hầu hết các Nhà máy đường đều sản xuất đường trắng RS theo phương pháp Sun-fít
hóa theo tiêu chuẩn VN 6959:2011. Ưu điểm của phương pháp này là chi phí đầu tư
thiết bị thấp, vận hành và quản lý thiết bị đơn giản. Nhược điểm: hệ số ăn mòn thiết bị
lớn, dư lượng SO
2
trong đường thành phẩm cao, hạn chế về thời gian bảo quản.
1.2.1.2. Đặc điểm về nguyên liệu mía :
- Đặc điểm sinh học :
Mía có tên khoa học là saccharum ssp. Thuộc họ Graminaea (Họ Hòa thảo) là
cây trồng có khả năng tái sinh mạnh, chu kỳ sản xuất từ 3 đến 4 năm gồm 1 vụ mía tơ
và 2-3 vụ mía gốc. Tuỳ theo nhóm giống chín sớm, chín trung bình hoặc chín muộn,
thời gian sinh trưởng từ lúc trồng hoặc tái sinh gốc đến khi thu hoạch trung bình từ 10
đến 12 tháng. Chu kỳ sinh trưởng gồm 4 thời kỳ chính:
+ Thời kỳ mọc mầm: Cây non mọc lên, rễ sơ sinh bắt đầu phát triển

6
+ Thời kỳ đẻ nhánh: Thời kỳ đẻ nhánh rất quan trọng vì nó có quan hệ trực tiếp
đến mật độ cây, một trong hai yếu tố quyết định năng suất của ruộng mía.
+ Thời kỳ vươn lóng: Quyết định đến độ lớn của cây mía, tác động lớn đến năng
suất và chất lượng mía, thời kỳ này mía cần được chăm sóc tốt
+ Thời kỳ mía chín: Ở thời kỳ này tốc độ sinh trưởng chậm lại, tốc độ tích lũy
đường tăng nhanh, ruộng mía đã ổn định về cơ bản số cây và độ lớn. Thời điểm bắt
đầu cây mía tích luỹ đường từ tháng thứ 8 cho đến khi đạt đường ở mức cao nhất khi
mía chín hoàn toàn. Sau thời kỳ chín, lượng đường giảm dần cho đến mức thấp nhất,
vì vậy nó mang tính mùa vụ rất cao.
Mía là cây trồng nhiệt đới và á nhiệt đới, sức sống cao, khả năng thích ứng rộng
nhưng những yếu tố về khí hậu và đất đai đều có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sinh
trưởng và phát triển của cây mía:
Về nhiệt độ: Thích hợp trong phạm vi 20-32
o
C. Nhiệt độ cao quá hoặc thấp quá
ảnh hưởng đến sinh trưởng bình thường và giảm tốc độ quang hợp. Thời kỳ mía chín
cần nhiệt độ thấp dưới 20
o
C và biên độ nhiệt lớn giữa ngày và đêm giúp cho quá trình
chuyển hóa và tích lũy đường thuận lợi.
Về ánh sáng: Trong cả chu kỳ sinh trưởng cây mía cần khoảng 2.000 – 3.000 giờ
chiếu sáng, tối thiểu cũng phải từ 1.200 giờ trở lên
Lượng nước và ẩm độ đất: Trong thân cây mía chứa nhiều nước (70% khối
lượng). Lượng mưa thích hợp 1.500 – 2.000 mm/năm, phân bố trong khoảng thời gian
từ 8-10 tháng, từ khi cây mía mọc mầm đến thu hoạch
Về đất đai: Cây mía thuộc loại không kén đất, có thể trồng trên các loại đất khác
nhau. Đất thích hợp nhất cho cây mía là những loại đất có độ phì nhiêu cao, xốp, sâu,
giữ ẩm tốt và dễ thoát nước. Độ pH thích hợp cho mía phát triển tốt là từ 5,5 - 7,5.
Những đặc điểm sinh học trên của cây mía không chỉ ảnh hưởng đến việc bố trí
vùng nguyên liệu mía mà còn ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất của vùng mía đó. Vì
vậy, không phải vùng đất nào cũng có thể đáp ứng yêu cầu sinh trưởng và phát triển
của cây mía để trở thành một vùng nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến một
cách tốt nhất.
- Đặc điểm mía nguyên liệu: Mía thuộc loại nguyên liệu tươi. Các chỉ tiêu để
đánh giá chất lượng mía: mía sạch loại bỏ ngọn non, lá , rễ và các tạp chất khác không
phải là mía; Mía phải đủ tuổi chín; Quan trọng nhất là chỉ số đánh giá về chữ đường

7
(CCS), tức là hàm lượng đường có thể thu hồi thực tế trong sản xuất. CCS trong mía
>9,5; AP (độ tinh khiết) nước mía hỗn hợp >79. Mía tươi từ khi đốn đến khi đưa vào
chế biến không quá 48 giờ. Lượng mía đưa về nhà máy hàng ngày phù hợp với công
suất ép nhằm tránh giảm chất lượng mía do để trên sân mía quá lâu. Nếu mía non, khô,
nhiều tạp chất - chất lượng kém tạo keo, nhớt gây khó khăn cho các khâu sau mía của
quy trình chế biến, việc thực hiện các chỉ tiêu KTKT trở nên khó khăn, phải điều chỉnh
chỉ tiêu phù hợp làm giảm hiệu suất tổng thu hồi, giảm chất lượng đường thành phẩm.
Tỷ lệ đường trong mía rất thấp, trung bình khoảng 10% khối lượng mía. Do đó,
chi phí vận chuyển nguyên liệu từ nơi sản xuất đến cơ sở chế biến chiếm tỷ trọng lớn
trong giá thành khoảng từ 10% đến 15%. Chính vì vậy Nhà máy chế biến phải được
xây dựng gần các vùng nguyên liệu mía tập trung chuyên canh, cự li trung bình dưới
50km, các nhà máy đường muốn giảm chi phí vận tải nguyên liệu phải đặt tại trung
tâm vùng nguyên liệu mía. Ngoài ra, hệ thống giao thông vận chuyển mía phải thuận
lợi để có thể kịp thời vận chuyển sau khi thu hoạch.
Do điều kiện khí hậu, thời tiết, do đặc điểm, tính chất của cây mía, nên việc trồng
và thu hoạch mía mang tính chất thời vụ rất cao. Chất lượng nguyên liệu mía phụ
thuộc rất lớn vào giống mía, điều kiện thời tiết, khí hậu, kỹ thuật canh tác mía và công
tác thu hoạch, vận chuyển mía. Mùa vụ sản xuất chỉ có thể kéo dài tối đa 6 tháng vào
mùa khô.
1.2.2. Các tiêu chí đánh giá một vùng nguyên liệu:
Một nhà máy chế biến đường muốn phát huy hết công suất thiết kế, hiệu quả sản
xuất kinh doanh cao. Một nhân tố vô cùng quan trọng là phải có một vùng nguyên liệu
tập trung, gần nhà máy, chất lượng, ổn định và phát triển bền vững. Vùng nguyên liệu
mía thường được đánh giá thông qua rất nhiều các tiêu chí:
1.2.2.1. Các chỉ tiêu đánh giá quy mô vùng mía nguyên liệu
- Sự tập trung của vùng chuyên canh mía: Mía là loại cây có sinh khối lớn, để
sản xuất 1 tấn đường trung bình cần đến 10 tấn mía nên chi phí vận chuyển nguyên
liệu cao. Nhà máy có công suất 3.000 TMN, phải có vùng nguyên liệu 7.000 ha mới có
đủ nguyên liệu sản xuất hết công suất. Một vùng nguyên liệu tập trung, chuyên canh
gần nhà máy là điều kiện để giảm chi phí, hạ giá thành nâng cao hiệu quả sản xuất
- Cơ sở hạ tầng vùng nguyên liệu:

8
+ Hạ tầng về giao thông trong vùng nguyên liệu là một trong những yếu tố phụ
trợ cần phải tính đến trong việc hình thành nên một vùng nguyên liệu vì với khối
lượng vận chuyển lớn, cung đường vận chuyển xa, chi phí vận chuyển mía nguyên liệu
rất lớn trong giá thành sản xuất, nên hệ thống giao thông và giao thông nội đồng trong
vùng nguyên liệu có ý nghĩa quan trọng trong việc đáp ứng kịp thời mía cho sản xuất
và giảm chi phí cho cơ sở chế biến và người trồng mía.
+ Về thuỷ lợi, đặc điểm sinh học của cây mía là cây tạo sinh khối lớn, cần nhiều
nước để phát triển, để đủ nước cho mía, lượng nước từ nước mưa hàng năm tối thiểu
phải từ 1.500mm trở lên, phân bổ đều trong năm. Từng thời kỳ sinh trưởng, cây mía
cần lượng nước khác nhau, nên nếu chủ động được nguồn nước tưới tiềm năng tăng
năng suất và chất lượng mía thông qua việc điều tiết lượng nước cho cây mía là rất
lớn. Mía có tưới năng suất cao hơn từ 25 đến 30% so với trồng tự nhiên.
+ Sự phát triển của hệ thống các dịch vụ hỗ trợ trong vùng như: thông tin liên
lạc, nguồn điện, vật tư nông nghiệp (xăng dầu, phân bón, thuốc trừ sâu,. ) cũng phải
đảm bảo theo kịp yêu cầu phát triển của vùng nguyên liệu.
- Sản lƣợng mía: Sản lượng mía bao gồm toàn bộ khối lượng sản phẩm mía tạo
ra trong năm của toàn vùng mía nguyên liệu. Sản lượng mía hàng hóa là toàn bộ khối
lượng mía hàng hóa được thu mua tại các cơ sở chế biến không kể đến những hao hụt
trong quá trình thu hoạch và thu mua.
-Cơ cấu cây trồng và diện tích đất trồng mía: Là tỷ lệ phần trăm diện tích mía
so với tổng diện tích đất nông nghiệp hoặc đất canh trong vùng; Là diện tích đất nông
nghiệp dùng để trồng mía của toàn vùng
- Số lượng lao động, giá trị máy móc, nông cụ và tư liệu sản xuất khác tham gia
vào sản xuất mía; Số hộ hoặc cơ sở sản xuất kinh doanh tham gia vào sản xuất mía
trong vùng.
1.2.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất và sự phát triển của vùng mía
nguyên liệu
- Năng suất bình quân : Là khối lượng trung bình mía sản xuất được trên 1 ha
của toàn vùng nguyên liệu mía.
- Khả năng đáp ứng công suất chế biến: Là sản lượng mía mà vùng nguyên liệu
cung cấp cho nhà máy so với công suất thiết kế của nhà máy.

9
- Chất lƣợng nguyên liệu mía: Bao gồm chữ đường(CCS) và phần trăm thu hồi
của mía nguyên liệu.
- Hiệu quả tài chính của việc trồng mía nguyên liệu đối với từng hộ sản xuất
hoặc cơ sở kinh doanh sản xuất mía nguyên liệu trong vùng.
- Hiệu quả kinh tế xã hội của vùng mía nguyên liệu: Là hiệu quả tổng hợp về
những lợi ích mà vùng mía nguyên liệu tao ra cho toàn vùng.
1.2.3. Ý nghĩa, vai trò của vùng nguyên liệu đối với ngành công nghiệp chế biến
đƣờng:
- Trong quá trình thực chương trình mía đường quốc gia, giai đoạn từ năm 2004
trở về trước, ngoại trừ những năm 1999-2000 xảy ra tình trạng “ mía đắng” do chưa
đồng bộ giữa cơ sở chế biến và xây dựng vùng nguyên liệu, hầu hết các Nhà máy
đường đều thua lỗ chủ yếu do thiếu hụt trầm trọng nguyên liệu, các Nhà máy đường
hoạt động cầm chừng, dưới công suất thiết kế, một số nhà máy phải di dời, ngừng hoạt
động do không có hoặc vùng nguyên liệu không tương thích với quy mô sản xuất.
- Sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến đường của thế giới và ở Việt
Nam đã chứng minh hiệu quả của chế biến tỷ lệ thuận với quy mô sản xuất có tính
đến các yếu tố về khả năng đáp ứng đủ nguyên liệu cho sản xuất, về tiết kiệm chi phí
sản xuất thông qua việc hạ giá thành nguyên liệu, tăng khả năng thu hồi đường trong
mía.
- Việc hình thành các vùng nguyên liệu được quy hoạch tập trung, được đầu tư
đúng mức để sản xuất mía đáp ứng nhu cầu về nguyên liệu phù hợp với quy mô công
suất chế biến có tính đến các yếu tố về năng suất, chất lượng để đảm bảo thu nhập cho
người trồng mía là điều kiện rất quan trọng để các Nhà máy chế biến đường có thể tồn
tại và phát triển.
- Vùng nguyên liệu và Nhà máy chế biến đường có mối quan hệ phụ thuộc chặt
chẽ với nhau. Do khối lượng vận chuyển lớn, chi phí vận chuyển cao, nên mỗi vùng
nguyên liệu chỉ có thể bán được mía cho một hoặc một vài Nhà máy chế biến nhất
định trong khu vực khi vào vụ thu hoạch. Những biến động về tình hình sản xuất của
Nhà máy đều tác động trực tiếp đến vùng nguyên liệu.Vì vậy luôn phải có sự gắn kết
giữa Nhà máy chế biến đường với vùng nguyên liệu.
Sản xuất nguyên liệu- Chế biến đường mía có tính thời vụ rất cao. Thời gian thu
hoạch từ khi mía chín cho đến khi mía giảm mạnh chất lựong là có hạn. Trong khi đó

10
có nhiều yếu tố tác động đến việc có thu hoạch kịp thời hay không như: Yếu tố thời
tiết, nguồn lao động, đường giao thông, phương tiện vận tải và khả năng tiêu thụ
nguyên liệu của Nhà máy. Cần phải có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các khâu trong
chuỗi giá trị ngành hàng này.
Mặt khác, đặc điểm công nghệ của sản xuất đường là thiết bị chuyên dùng, công
nghệ phức tạp. Nhà máy đường không thể dùng dây chuyền này để sản xuất các sản
phẩm từ nguồn nguyên liệu khác (như các nhà máy chế biến nông sản: thức ăn gia súc,
hoa quả, nước giải khát…) khi không đủ nguyên liệu mía để sản xuất.
Có thể kết luận rằng: Hoạt động của các Nhà máy chế biến đường phụ thuộc rất
lớn vào khả năng đáp ứng đủ nguyên liệu về số lượng, chất lượng, thời gian cung cấp
của vùng nguyên liệu.
1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN VIỆC XÂY DỰNG VÙNG NGUYÊN
LIỆU.
1.3.1. Các chính sách của Nhà nƣớc và định hƣớng phát triển của địa phƣơng:
Chính sách của Nhà nước là sự can thiệp của Nhà nước đến các hoạt động kinh tế
xã hội theo những mục tiêu nhất định trong những điều kiện nhất định. Đối với sản
xuất nông nghiệp, do đặc điểm sản xuất và vai trò sản phẩm, các chính sách thường
theo hướng khuyến khích, hỗ trợ phát triển trực tiếp về vật chất, kỹ thuật hoặc hỗ trợ
gián tiếp thông qua tạo lập môi trường pháp lý, môi trường kinh tế.
Đối với vùng nguyên liệu mía thì các chính sách hỗ trợ của Nhà nước và định
hướng của chính quyền địa phương đóng vai trò là động lực cho phát triển. Liên quan
đến các yếu tố của quá trình sản xuất mía nguyên liệu như quy hoạch sử dụng đất đai,
nguồn nhân lực, vốn đầu tư, tín dụng, phát triển cơ sở hạ tầng, khoa học công nghệ,
tiêu thụ sản phẩm.
1.3.2. Công tác quy hoạch vùng nguyên liệu:
Để chủ động nguyên liệu, các Nhà máy chế biến phải phối hợp với địa phương
tổ chức quy hoạch vùng nguyên liệu dựa trên các điều kiện về: quỹ đất, về năng lực
chế biến, về vốn đầu tư, các điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội trong vùng. Quy
hoạch phải đảm bảo mía nguyên liệu sản xuất ra phải được tiêu thụ hết, không gây ra
sự mất cân đối giữa nhà máy chế biến đường và vùng nguyên liệu. Tránh quy hoạch
chồng chéo gây ra hiện tượng tranh chấp nguyên liệu giữa các nhà máy hay nguyên
liệu mía sản xuất ra không tiêu thụ được. Khai thác và sử dụng có hiệu quả tiềm năng

11
và lợi thế đất đai, lao động. Hình thành các vùng chuyên canh tập trung, tăng cường
đầu tư thâm canh để nâng cao năng suất, chất lượng mía để nâng cao hiệu quả trên đơn
vị diện tích canh tác mía. Kết hợp hài hoà lợi ích giữa người sản xuất mía nguyên liệu
và nhà máy chế biến gắn với bảo vệ môi trường.
1.3.3. Các điều kiện về kinh tế-Xã hội:
Bao gồm nhiều nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của vùng
nguyên liệu mía tập trung như:
- Nguồn lao động: Nguồn lao động phải được xem xét đến mức độ đáp ứng cho
sản xuất về số lượng và chất lượng của lao động. Số lượng nguồn lao động là tất cả
những người lao động có khả năng tham gia lao động và những người ngoài độ tuổi
thực tế có tham gia lao động. Chất lượng nguồn lao động bao gồm trình độ văn hóa,
chuyên môn, sức khỏe, ý thức…
- Giá mua mía và sự hài hòa lợi ích giữa các bên tham gia vào chuỗi giá trị ngành
mía đường: Nếu giá mía cao, mang lại hiệu quả kinh tế lớn hơn những cây trồng mà
người dân trong vùng đang canh tác thì họ sẽ chuyên đổi sang trồng mía, và ngược lại,
nếu hiệu quả kinh tế từ trồng mía không cao thì người dân sẽ quay lưng lại với cây
mía. Như vậy, các chính sách về giá của cơ sở chế biến để cho người trồng mía yên
tâm sản xuất lâu dài là rất quan trọng. Để làm được điều này, doanh nghiệp chế biến
cần quan tâm các biện pháp tiết kiệm chi phí, nâng cao năng lực thu hồi của thiết bị
nhằm hạ giá thành sản xuất để có thể đầu tư vào giá mía. Người trồng mía quan tâm
đến việc thâm canh, ứng dụng, giống mới, cơ giới hóa, . để tăng năng suất, chất lượng
mía để nâng cao hiệu quả sản xuất trên một đơn vị diện tích.
- Khả năng huy động vốn để đầu tư cho cây mía: Yếu tố này làm tăng năng lực
sản xuất và quy mô sản xuất của vùng mía.
- Các yếu tố về bản sắc văn hóa các dân tộc, phong tục địa phương, truyền thống
cần cù trong lao động, tập quán canh tác của nhân dân trong vùng và tính năng động
của người dân có ảnh hưởng lớn đến việc hình thành và phát triển của vùng mía
nguyên liệu.
- Các điều kiện về cơ sở hạ tầng, sự đầu tư Nhà nước, các chính sách, chương
trình phát triển ưu tiên cho miền núi, vùng sâu, vùng xa… là những tiền đề thuận lợi
cho việc xây dựng vùng nguyên liệu.
1.3.4. Các nhân tố về điều kiện tự nhiên:

12
Các điều kiện tự nhiên như khí hậu, đất đai, nguồn nước, có ảnh hưởng lớn đến
việc hình thành các vùng nguyên liệu mía tập trung chuyên canh.
- Ảnh hƣởng của khí hậu: Bao gồm các yếu tố ảnh hưởng như nhiệt độ, độ ẩm,
mưa, gió, bão, ánh nắng ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển của cây mía trong từng thời
kỳ. Các yếu tố này có biều hiện khác nhau theo từng vùng, từng địa phương trong
nước ta. Khi lựa chọn vùng trồng mía nguyên liệu cần lựa chọn những vùng có điều
kiện thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của cây mía mới có thể có vùng mía
năng suất, chất lượng cao.
- Ảnh hƣởng của đất đai: Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt của sản
xuất nông nghiệp. Chất lượng đất có chứa các thành phần chất dinh dưỡng phù hợp
cây mía có vai trò hết sức quan trọng đảm bảo cho cây mía phát triển. Vì vậy khi lựa
chọn vùng nguyên liệu trồng mía phải quan tâm đến đất có phù hợp cho cây mía phát
triển hay không. Vì vậy, đây là một trong các nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự
hình thành vùng mía nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến đường.
- Ảnh hƣởng của nguồn nƣớc: Nước cung cấp cho các hoạt động sản xuất nông
nghiệp nói chung. Tuy mía là loại cây trồng cạn, nhưng trong quá trình sinh trưởng và
phát triển mía cần nhiều nước và nhu cầu nước trong từng giai đoạn là khác nhau. Một
vùng có các nguồn nước cung cấp đủ cho cây mía sẽ là yếu tố tạo nên năng suất và
chất lượng mía của vùng đó cao. Xem xét các yếu tố về nguồn nước cung cấp cho mía
cũng là một trong những yếu tố quan trọng để hình thành vùng nguyên liệu mía.
1.3.5. Về trình độ kỹ thuật và công nghệ
Hiện nay trang thiết bị,công nghệ chế biến đường không ngừng thay đổi, ngày
càng hiện đại hơn, đẩy mạnh tự động trong một số công đoạn chế biến, nâng cao hiệu
suất thu hồi, dây chuyền sản xuất ngày càng có công suất lớn, do vậy, việc sản xuất
chế biến đường ngày càng có hiệu quả. Tuy nhiên, điều này cũng đòi hỏi mía nguyên
liệu phải đáp ứng về cả số lượng và chất lượng, quy trình sản xuất và thu hoạch mía
phải ngày càng được cải tiến phù hợp với công nghệ chế biến, đẩy mạnh cơ giới hóa
trong nông nghiệp, máy móc thay thế dần con người để hạ giá thành, giải quyết tình
trạng thiếu lao động diễn ra ngày càng gay gắt.
1.3.6. Các yếu tố canh tranh trong ngành (Theo mô hình 5 yếu tố cạnh tranh )

13
- Cường độ cạnh tranh trong ngành: sự cạnh tranh nguyên liệu của các nhà máy
đường trong khu vực là yếu tố chính tác động đến hiệu quả sản xuất chế biến và xây
dựng vùng nguyên liệu.
- Đe dọa của sản phẩm thay thế: đường thốt nốt, đường củ cải. Nhưng không
đáng ngại và gần như là không có vì số lượng ít, giá thành sản xuất cao, thêm vào đó,
thị hiếu người tiêu dùng trong nước và nước ngoài không ưu chuộng vị ngọt của các
loại đường trên. Một đe dọa khác đến từ vùng nguyên liệu của công ty: đó là sự cạnh
tranh của các cây trồng ngắn ngày như cây mì, bắp, đậu… và dài ngày như cao su, cây
nguyên liệu giấy, cà phê, ca cao… đối với cây mía.
- Sức mạnh của nhà cung cấp: hộ nông dân, HTX nông nghiệp trồng mía. Cần
phải có sự hài hòa lợi ích giữa các bên để đảm bảo cho sự phát triển bền vững của
vùng nguyên liệu.
- Sức mạnh của người mua: Các nhà phân phối trung gian, các doanh nghiệp chế
biến thực phẩm mà đường là nguyên liệu chính, tác động đến hiệu quả sản xuất, gián
tiếp tác động đến vùng nguyên liệu.
- Đe dọa xâm nhập mới: Với đặc thù của Ngành đường, Sự xâm nhập mới có
những rào cản hạn chế nhất định, đối với áp lực cạnh tranh này là phải có vùng nguyên
liệu mới có thể xây dựng mới, chính sách của Nhà nước (QĐ 26/2007) hạn chế xây
mới, chỉ nâng cấp trên cơ sở phải đảm bảo đủ nguyên liệu.
1.4. HỢP ĐỒNG TIÊU THỤ NÔNG SẢN HÀNG HÓA THEO TINH THẦN
QUYẾT ĐỊNH 80/2002/QĐ-TTg
1.4.1. Khái niệm về hợp đồng – Hợp đồng tiêu thụ nông sản.
Hợp đồng là một cam kết thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên để làm hoặc không
làm một việc nào đó trong khuôn khổ pháp luật. Hợp đồng có thể được thể hiện bằng
văn bản hay bằng miệng (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia )
Theo Pháp lệnh hợp đồng kinh tế: “Hợp đồng kinh tế là sự thoả thuận bằng văn
bản, tài liệu giao dịch giữa các bên ký kết về việc thực hiện công việc sản xuất, trao
đổi hàng hoá, dịch vụ, nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật và các thoả
thuận khác có mục đích kinh doanh với sự quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của
mỗi bên để xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình”.

14
Về Hợp đồng tiêu thụ nông sản: Quyết định 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002
của Thủ tướng chính phủ về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa
thông qua hợp đồng có nêu:
“ Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ký kết
hợp đồng tiêu thụ nông sản hàng hóa với người sản xuất ,nhằm gắn sản xuất với chế
biến và tiêu thụ nông sản để phát triển sản xuất ổn định và bền vững.
Hợp đồng sau khi đã ký kết là cơ sở pháp lý để gắn trách nhiệm và nghĩa vụ các
bên , bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp giữa người sản xuất nguyên liệu và các
doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh chế biến và xuất khẩu theo các quy định của hợp
đồng.”
Thực hiện việc ký kết hợp đồng tiêu thụ nông sản có lợi cho cả hai phía: người
nông dân, các tổ chức kinh tế nông nghiệp và doanh nghiệp chế biến. Đối với người
nông dân là lời giải cho bài toán đầu ra của sản phẩm, đối với doanh nghiệp sẽ giải
quyết được sự đảm bảo tương đối chắc chắn đủ nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản
xuất, trên cơ sở hài hòa, cùng chia sẻ lợi ích giữa các bên.
Về hình thức hợp đồng, Quyết định 80 quy định các hình thức :
- Ứng trước vốn, vật tư, hỗ trợ kỹ thuật, công nghệ và mua lại nông sản hàng hóa.
- Bán vật tư mua lại nông sản hàng hóa
- Trực tiếp tiêu thụ nông sản hàng hóa.
- Liên kết sản xuất (Liên kết giữa nông dận và doanh nghiệp bằng quyền sử dụng
đất, tạo sự gắn kết giữa nông dân và doanh nghiệp)
Theo Bảo Trung: “Hình thức ứng trước vốn, vật tư, hỗ trợ kỹ thuật, công nghệ
và mua lại nông sản hàng hóa” xét về bản chất có thể xem là “ hình thức Hợp đồng sản
xuất”; Hình thức “ bán vật tư mua lại nông sản hàng hóa” và “ trực tiếp tiêu thụ nông
sản hàng hóa” về bản chất là hợp đồng bao tiêu sản phẩm “…
Vận dụng các hình thức trên theo tinh thần của Quyềt định 80, hầu hết các Nhà
máy đường trong cả nước ký kết hợp đồng tiêu thụ mía với hộ nông dân, các nhóm hộ,
các HTX dưới hình thức Hợp đồng đầu tư & mua bán nguyên liệu và Hợp đồng bao
tiêu sản phẩm.
1.4.2. Mối quan hệ giữa ngƣời trồng mía và doanh nghiệp chế biến mía đƣờng :
Trong chuỗi giá trị ngành mía đường người trồng mía thực hiện khâu sản xuất
nguyên liệu, doanh nghiệp chế biến đường thực hiện khâu chế biến và tổ chức tiêu thụ,