Thứ Ba, 31 tháng 12, 2013

Luận văn giải quyết tranh chấp biển đông thông qua các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế

1. Tính cấp thiết của đề tài . . . . . . . . .
Lịch sử đất nước Việt Nam từ buổi đầu lập quốc cho đến nay là một hành trình dài đăng
đẳng của quá trình dựng nước và giữ nước. Lịch sử cũng đã cho thấy những cuộc binh biến,
những cuộc đấu tranh giữ yên bờ cõi và những khúc ca khải hoàn luôn là niềm tự hào của dân
tộc. Thế nhưng nhìn lại những bước đường người xưa đã đi qua, sau cuộc chiến còn sót lại là
máu của người chiến thắng và nước mắt của kẻ bại trận … và còn là những cảnh hoang tàn trên
quê hương nơi giao tranh. Việt Nam nói riêng hay thế giới nói chung cũng đều không tránh khỏi
những yếu tố đó, bởi hậu quả của chiến tranh luôn là như vậy. Từ thời Trung cổ, khi các quốc
gia hùng mạnh mang trong mình cái triết lý “Công lý thuộc về kẻ mạnh” hay “Kẻ chiến thắng là
kẻ mạnh nhất” thì họ sẵn sàng đem xương máu các đạo quân gửi bốn phương như là một minh
chứng cho triết lý hùng hồn đó. Không một quốc gia nào và cũng không có một tiếng nói chung
lớn mạnh nào có thể ngăn cản được dã tâm đó. Lịch sử thế giới cận đại lại một lần nữa chứng
kiến hai cuộc chiến tranh tàn khốc nhất mà khi cuộc chiến đã đi qua thì dư âm của nó là những
đau thương không kể hết cho loài người. Lúc này, thế giới chợt nhận ra rằng văn minh của loài
người đã đem lại cho chính loài người những vũ khí tối tân với sức mạnh hủy diệt, và khi các
quốc gia mang nó vào trong cuộc chiến thì cũng giống như đặt loài người trên một chiếc chảo
lửa, có thể thành tro bụi bất cứ lúc nào.
Thế giới cảm thấy sợ hãi với điều này!
Hay nói cách khác, thế giới luôn mong muốn hòa bình. Chính sự khao khát quý giá này và
cũng chính vì người ta quá hiểu căn nguyên của mọi cuộc chiến là do những bất đồng và những
xung đột về mặt lợi ích không thể giải quyết được; là động lực tìm đến một giải pháp hữu hiệu
vừa có thể giải quyết được các mâu thuẫn này lại vừa có thể bảo vệ và duy trì nền hòa bình. Từ
những tư duy xuất phát điểm đó, mục đích đầu tiên của Hiến Chương Liên Hợp Quốc là duy trì
hòa bình, an ninh quốc tế và để đạt được mục đích này thì hội viên Liên Hợp Quốc giải quyết
các tranh chấp quốc tế thông qua các biện pháp hòa bình; làm thế nào khỏi phương hại đến hòa
bình và an ninh quốc tế cũng như đến công lý. Như vậy, có thể nói hòa bình giải quyết các tranh
chấp quốc tế mà Liên Hợp Quốc ghi nhận như là một “đường gươm” cắt ngọt những toan tính
của các nước lớn, lại như vừa là “tấm khiên” bảo vệ lợi ích cho nước yếu thế hơn. Nhưng ý
nghĩa trên hết của nó chính là phương thức để các quốc gia không phân biệt lớn mạnh giải quyết
Trang 5
tranh chấp với nhau mà không dùng đến sức mạnh, qua đó hạn chế phương hại nền hòa bình và
duy trì công lý. Tinh hoa của thế giới đã được xây dựng như vậy!
Do đó, Việt Nam không có lý do gì để ngần ngại hay từ chối tinh hoa này, nhất là trong bối
cảnh quyền hợp pháp của Việt Nam trên Biển Đông đang dậy lên những làn sóng tranh chấp
mạnh mẽ … !!!
Thực tế trong nhiều năm qua, chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam trên Biển
Đông bị vi phạm nghiêm trọng, đặc biệt là hai Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đáng lưu ý
hơn là bên cạnh các tranh cãi vốn đã tồn tại về chủ quyền và lãnh thổ, đã xảy ra nhiều va chạm
liên quan đến an ninh và an toàn hàng hải, và liên quan đến quản lý, khai thác tài nguyên biển.
Vùng biển Đông có 7 quốc gia xung quanh gồm Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Brunei,
Indonesia, Singapore và Việt Nam. Đây là một khu vực có diện tích tương đối hẹp, là vùng biển
nửa kín. Biển Đông là nơi có nguồn tài nguyên phong phú, đồng thời là con đường quan trọng
nối liền Đông Á với Ấn Độ Dương và châu Âu, có vị trí chiến lược vô cùng quan trọng. Do
nhiều nguyên nhân khác nhau, giữa các quốc gia xung quanh biển Đông đã phát sinh nhiều xung
đột. Bảo vệ cục diện an ninh ở biển Đông trở thành vấn đề được các nước xung quanh và thậm
chí các nước khác trên thế giới cùng quan tâm. Điều này đặt ra một bối cảnh tranh chấp là chúng
ta cần phải xây dựng một lộ trình giải quyết an toàn, vừa phải đảm bảo toàn vẹn lãnh thổ dựa
trên pháp luật quốc tế, lại vừa phải đảm bảo mối quan hệ ổn định với các bên tranh chấp. Người
phát ngôn Bộ Ngoại Giao Việt Nam đã thể hiện quan điểm của Việt Nam trong đường lối giải
quyết tranh chấp này: “Về Biển Đông, chủ trương của Việt Nam là thông qua đàm phán, giải
quyết một cách hoà bình mọi tranh chấp trên cơ sở luật pháp và thực tiễn quốc tế, đặc biệt là
Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 và tinh thần của Tuyên bố về Cách ứng xử
của các bên trên biển Đông năm 2002 (DOC); nhằm giữ gìn hoà bình, ổn định và tìm kiếm giải
pháp cơ bản, lâu dài mà các bên đều có thể chấp nhận được”. Như vậy, có thể nói hòa bình giải
quyết tranh chấp Biển Đông là thông điệp mà Việt Nam gửi đến các bên và cho thế giới. Trong
cuộc hội thảo khoa học quốc tế về Biển Đông được khai mạc ngày 11-11-2010, GS Stein
Tennesson của Viện nghiên cứu Hòa bình quốc tế (NaUy) cho rằng Biển Đông là một vấn đề
luật pháp chứ không chỉ là một vấn đề chính trị, nên giải quyết chính đáng nhất là Luật pháp.
Qua đó, có thể thấy rằng quan điểm đúng đắn của Việt Nam đã được sự đồng thuận của dư luận
thế giới. Sự đồng thuận này có giá trị rất lớn trong việc cũng cố quan điểm và lập trường giải
Trang 6
quyết tranh chấp Biển Đông của Việt Nam, cùng với đó là ý nghĩa quan trọng để những nghiên
cứu về tranh chấp Biển Đông xác định được phương hướng.
Trong pháp luật quốc tế, hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế là một khái niệm bao gồm
những biện pháp và các cách thức để tiến hành. Nghiên cứu tất cả những cách thức để lựa chọn
và áp dụng một biện pháp hữu hiệu nhất để giải quyết tranh chấp trên Biển Đông, hay là tiến
hành đồng bộ nhiều biện pháp … ??? Lộ trình áp dụng những cách thức để giải quyết vấn đề
tranh chấp Biển Đông sẽ được xây dựng ra sao ??? Đó cũng chính là những công việc cần thiết
hiện nay của các học giả nghiên cứu pháp luật. Dưới góc độ nghiên cứu về pháp luật quốc tế
hiện hành và tiếp thu có chọn lọc những công trình nghiên cứu, bài viết của các học giả trước,
chúng tôi chọn đề tài “Giải quyết tranh chấp Biển Đông thông qua các biện pháp hòa bình giải
quyết tranh chấp quốc tế” trong khuôn khổ một công trình nghiên cứu khoa học.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu . . . . . . . . . .
Trong những năm qua, tình hình tranh chấp Biển Đông ngày càng có chiều hướng phức
tạp, ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi hợp pháp của quốc gia. Giới nghiên cứu khoa học pháp lý
đã quan tâm nhiều đến vấn đề này và cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu có thể kể ra như:
Căng thẳng Biển Đông và lựa chọn của Việt Nam (TS Nguyễn Trọng Bình), Chủ quyền Việt
Nam và luật pháp quốc tế (Lê Vĩnh Trương – Quỹ nghiên cứu Biển Đông), Giải pháp nào cho
tranh chấp Biển Đông (Ths Hoàng Việt – ĐH Luật TPHCM), Tranh chấp Biển Đông và vai trò
của Liên Hợp Quốc (Dương Danh Huy, Phạm Thu Xuân, Nguyễn Thái Linh, Lê Vĩnh Trương,
Lê Minh Phiếu – Quỹ nghiên cứu Biển Đông), …
Đặc biệt, trong cuộc hội thảo khoa học quốc tế về Biển Đông lần 1 được tổ chức tại Hà
Nôi, các học giả trong và ngoài nước đã đóng góp những tham luận về hòa bình giải quyết tranh
chấp Biển Đông hiện nay. Có thể kể ra như: Liệu có thể giải quyết được các tranh chấp chủ
quyền và phân định trên biển đối với các đảo ở Biển Đông (GS Stein Tennesson – Viện nghiên
cứu hòa bình quốc tế Na Uy), Giải quyết các tranh chấp biển quốc tế thông qua các biện pháp tài
phán (Matthias Fueracker – Chuyên viên pháp luật của Tòa án quốc tế về Luật Biển), Quyền tài
phán biển và hợp tác Biển Đông (GS Ji Guo Xing – Trường các vấn đề công và vấn đề quốc tế,
Đại học Giao Thông Thượng Hải, Trung Quốc)…
Trang 7
Tại Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 11-11-2010, đã diễn ra cuộc Hội thảo khoa học quốc tế
về Biển Đông lần 2, các học giả cũng đã tranh luận và đóng góp nhiều ý kiến về vấn đề giải
quyết tranh chấp Biển Đông hiện nay của Việt Nam.
Trong tháng 3 và tháng 4 năm 2011, đã diễn ra hai cuộc Hội thảo quốc gia về Biển Đông
do Học viện ngoại giao và Hội Luật sư toàn quốc phối hợp tổ chức.
3. Mục tiêu nghiên cứu đề tài . . . . . . . . . . .
Đề tài không nghiên cứu và phân tích các chứng cứ và lập luận của Việt Nam đối với yêu
sách chủ quyền và quyền chủ quyền trên Biển Đông mà nghiên cứu các khía cạnh pháp lý của
các giải pháp hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế dựa trên những chuyển biến của quan hệ
quốc tế. Tuy nhiên từ các chứng cứ và lập luận mà các học giả trước đã phân tích, nhóm nghiên
cứu kế thừa và vận dụng một cách phù hợp trong đề tài.
Do đó, làm rõ những vấn đề hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế, là cơ sở lý luận để
nghiên cứu các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế trong pháp luật quốc tế, trong
đó đặt vấn đề giải quyết tranh chấp Biển Đông trong những biện pháp này.
Cung cấp một cái nhìn tổng quan nhất về thực trạng tranh chấp Biển Đông hiện nay trên
trường quốc tế. Mọi cách thức giải quyết đều phụ thuộc vào diễn biến thực tế của tranh chấp.
Yếu tố thực tế này khi vận dụng các giải pháp sẽ làm sáng tỏ các hướng giải quyết tranh chấp.
Tổng kết và phân tích tất cả các vấn đề trình bày để đi kết luận được các giải pháp mang
tính khoa học nhằm vận dụng vào trong vấn đề giải quyết tranh chấp Biển Đông, một tranh chấp
đang diễn ra vô cùng phức tạp.
4. Phương pháp nghiên cứu . . . . . . . . . . . . . .
Phương pháp lược sử,
Phương pháp biện chứng,
Phương pháp so sánh,
Phương pháp phân tích,
Phương pháp diễn dịch,
Phương pháp quy nạp.
Trang 8
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu . . . . . . . . . .
• Đối tượng nghiên cứu: Pháp luật quốc tế về tranh chấp quốc tế và cơ chế giải quyết tranh
chấp quốc tế bằng biện pháp hòa bình.
• Phạm vi nghiên cứu: Tranh chấp vùng Biển Đông, đặc biệt là tranh chấp giữa Việt Nam
và Trung Quốc.
6. Ý nghĩa nghiên cứu . . . . . . . . . . . . .
Tranh chấp Biển Đông cần phải giải quyết, là lựa chọn để xây xựng một môi trường hòa
bình và ổn định, tiến tới thiết lập những cơ chế hợp tác trong khu vực đối với yêu cầu phát triển
kinh tế và toàn vẹn lãnh thổ.
Con đường giải quyết tranh chấp Biển Đông nên là lựa chọn của các giải pháp pháp lý.
Những giải pháp này đối với yêu cầu giải quyết tranh chấp Biển Đông của Việt Nam là phù hợp.
Kiên trì với lựa chọn này là lựa chọn hợp lý để bảo vệ lợi ích hợp pháp trên Biển Đông.
Đối với nhóm nghiên cứu, sẽ góp phần tăng cường kiến thức về môn học Luật Quốc tế và
các môn học liên quan, cũng như các kiến thức về chính trị, xã hội. Điều này có giá trị bổ trợ
kiến thức cho định hướng nghề nghiệp trong tương lai. Bên cạnh đó, góp một phần công sức và
chính kiến của mình vào công việc nghiên cứu tranh chấp Biển Đông của các học giả, qua đó
khẳng định sự quan tâm của lớp thanh niên đến vấn đề hệ trọng của đất nước.
7. Bố cục đề tài . . . . . . . . . . . . . . . . .
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ NGHĨA VỤ HÒA BÌNH GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
QUỐC TẾ TRONG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ CÓ ẢNH HƯỞNG TRỰC
TIẾP ĐẾN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG GIỮA
VIỆT NAM – TRUNG QUỐC VÀ CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á.
CHƯƠNG 3: TỪ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG ĐẾN ĐỀ XUẤT CÁC PHƯƠNG
HƯỚNG PHÙ HỢP ĐỂ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG
Trang 9
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN VỀ NGHĨA VỤ HÒA BÌNH GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP QUỐC TẾ
TRONG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ CÓ ẢNH HƯỞNG TRỰC TIẾP ĐẾN GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG
1.1. Lý luận về nghĩa vụ hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế trong pháp luật
quốc tế . . . . . . . . . . . . .
1.1.1. Đặc tính của quan hệ quốc tế hiện đại . . . . . . .
Quan hệ quốc tế là quan hệ giữa nhà nước này với nhà nước khác, là sự tổng hợp của
những mối quan hệ trên lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của các chủ thể trong cộng
đồng quốc tế, là công việc chính trị quốc tế mà các nhà nước và các tập đoàn chính trị tham gia,
là tổng hợp những chế định và hình thức hoạt động quốc tế. Trong điều kiện giao lưu và hội
nhập hiện nay, không một quốc gia nào tồn tại biệt lập lại có thể phát triển được. Vì vậy, việc
chủ động tham gia hội nhập quốc tế, tạo dựng cho mình một vị thế vững vàng trên thế giới là
mối quan tâm của gần như hầu hết các quốc gia trên thế giới.
Quan hệ giữa các quốc gia dân tộc trên thế giới kể từ sau năm 1917 được hình thành và
vận động trên cơ sở tác động tổng hòa của đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc và đấu tranh để
giải quyết vấn đề toàn cầu. Đó là kết quả ý thức hệ của cuộc cách mạng tháng 10 Nga. Những
cuộc đấu tranh này không chỉ đồng thời diễn ra mà còn diễn ra trong mối quan hệ hữu cơ, tác
động và quyết định lẫn nhau. Mối quan hệ giữa các quốc gia dân tộc được vận động trong quỹ
đạo của quá trình quốc tế hóa, toàn cầu hóa. Đây là một xu thế vận động của quan hệ quốc tế,
cũng là một hình thức tập hợp lực lượng của quốc gia – dân tộc.
Quan hệ giữa các quốc gia dân tộc trong thời đại ngày nay trở nên thật sự phong phú, đa
dạng. Về mục tiêu, quan hệ quốc tế của mỗi quốc gia dân tộc tiếp tục mục tiêu chính trị nhằm
cải thiện vị trí của nước mình trên bản đồ thế giới, đồng thời hướng vào mục tiêu phát triển theo
nhu cầu lịch sử của nhân loại hiện nay. Chính vì những mục tiêu này, các quốc gia không ngừng
đấu tranh để giành quyền lợi cho nước mình, từ đó, dẫn dắt hành vi của mình khi tham gia vào
quan hệ quốc tế. Cũng chính là cơ sở phát sinh những tranh chấp quốc tế thường gặp trong mọi
khía cạnh của đời sống quốc tế.
Trang 10
1.1.1.1. Đồng thuận lợi ích là cơ sở thiết lập quan hệ quốc tế giữa các chủ thể
Trong bối cảnh hiện nay, với sự phát triển vũ bão của khoa học và công nghệ, với xu thế
tất yếu của toàn cầu hóa, quan hệ giữa các dân tộc trong thời đại ngày nay có nhiều biểu hiện
mới. Trong bối cảnh toàn cầu hóa đang tác động đến tất cả các quốc gia, trong bối cảnh cùng tồn
tại giữa các quốc gia có chế độ xã hội khác nhau, trong bối cảnh cùng nhau hợp sức chống lại
nhiều vấn đề toàn cầu, hợp tác trở thành một xu thế tất yếu vì những lợi ích chung của mỗi quốc
gia và lợi ích chung của toàn nhân loại trong quan hệ quốc tế hiện nay. Các nước không ngừng
quan hệ hợp tác với nhau trên khắp các lĩnh vực đời sống kinh tế và xã hội. Quan hệ hợp tác
giữa các nước càng có sự cân bằng về lợi ích bao nhiêu thì mối quan hệ hợp tác càng phát triển
bấy nhiêu, đó cũng là nguyên nhân chính thúc đẩy sự phát triển bền vững trong mối quan hệ
quốc tế. Từ việc đồng thuận nhau cùng về lợi ích thì sẽ dẫn đến những động thái tích cực của
các bên nhằm thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết, nhưng chỉ cần có sự chênh lệch về lợi ích giữa
các bên trong quan hệ quốc tế thì thường sẽ dẫn đến những tranh chấp và có thể nghiêm trọng
hơn sẽ xảy ra những xung đột gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến mối quan hệ hợp tác và đồng
thời tác động tiêu cực đến nền kinh tế cũng như an ninh của các bên.
Và vấn đề tranh chấp Biển Đông hiện nay cũng là một minh chứng rõ ràng cho việc xung
đột về lợi ích giữa các nước tham gia tranh chấp như Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Đài
Loan, Malaysia, Brunei… Nguồn gốc chính của căng thẳng và bất ổn định ở Biển Đông xuất
phát từ vị trí chiến lược của Biển Đông, các quốc gia không ngừng tiến hành cuộc chạy đua
giành quyền kiểm soát các tài nguyên thiên nhiên tại khu vực này dẫn đến các tranh chấp lãnh
thổ tại Biển Đông. Từ những nguồn lợi mà các nước có được ở Biển Đông, các quốc gia đã đưa
ra những yêu sách khác nhau để tối đa hóa được lợi ích của mình. Và những hành vi cụ thể đó
đã phần nào nói lên được qui luật tất yếu trong quan hệ quốc tế khi có sự xung đột về lợi ích thì
sẽ dẫn đến những hành động để bảo vệ quyền lợi của chính mình. Từ những lợi ích nhận được
mà các nước có những mối quan hệ hợp tác với nhau, thông qua các điều ước, hiệp định với
mục đích cùng hợp tác để phát triển. Nhưng cũng chính từ những quyền lợi mà không có sự
dung hòa giữa các bên thì cũng rất dễ dàng dẫn đến xung đột. Trong quan hệ quốc tế ngày nay,
việc lợi ích được cân bằng giữa các bên trong hợp tác là rất cần thiết để khuyến khích các bên có
thiện chí. Vì thế, việc quan hệ quốc ngày càng được gắn kết hơn thì vấn đề cốt yếu là về “quyền
lợi”, nó sẽ là nhân tố thúc đẩy phát triển nhưng cũng chính nó sẽ dễ dàng làm quan hệ trở nên
Trang 11
xấu đi. Và trong việc giải quyết vấn đề về biển Đông hiện nay là rất khó khăn vì các nước tin
rằng sự giàu có biển sẽ làm giàu cho nền kinh tế của nước sỡ hữu khu vực biển chính xác.
Quyền sở hữu các khu vực biển được cho là giàu có vẫn bị coi là thuật ngữ được ăn cả, ngã về
không, các nước vẫn muốn yêu sách của mình sẽ được chấp thuận tất cả chứ không phải là hợp
tác cùng phát triển.
1.1.1.2. Trong quan hệ quốc tế, luôn tồn tại khả năng phát sinh tranh chấp .
Hiện nay, hợp tác cùng phát triển trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh
thổ là xu hướng tất yếu mà các quốc gia lựa chọn. Nhưng sự gia tăng của quan hệ hợp tác quốc
tế lại tiềm ẩn nguy cơ nảy sinh mâu thuẫn, bất đồng trong quá trình chủ thể thiết lập các mối
quan hệ hợp tác quốc tế. Một khi giữa các quốc gia có sự va chạm về quyền lợi, nhưng không có
các yêu sách rõ ràng, tình trạng này sẽ dễ dàng gây ra mâu thuẫn và dẫn đến tranh chấp. Như
vậy, từ thực tiễn quốc tế có thể thấy được, trong quan hệ quốc tế, sẽ luôn luôn tồn tại những
mâu thuẫn về quyền lợi giữa các chủ thể tham gia. Những chủ thể này có quan điểm trái ngược
nhau hoặc mâu thuẫn và có những yêu cầu, hay đòi hỏi cụ thể trái ngược nhau. Do không thỏa
thuận được với nhau về quyền hay sự kiện, đưa đến mâu thuẫn, đối lập về quan điểm pháp lý
hoặc quyền giữa các bên với nhau. Khi đó, những yếu tố này sẽ làm tranh chấp quốc tế xuất
hiện.
Do đó, trong quan hệ quốc tế luôn tồn tại khả năng phát sinh tranh chấp. Thậm chí, có thể
nói, số lượng tranh chấp thường tỷ lệ thuận với tốc độ phát triển của quan hệ quốc tế. Điều này
cho phép nhận định rằng khi thiết lập quan hệ quốc tế cần phải chấp nhận những tranh chấp phát
sinh, việc chấp nhận là nhân tố động lực để xây dựng những cơ chế giải quyết hoặc kiềm chế
các hành vi vì lợi ích thái quá dẫn đến tranh chấp. Trên thực tế, những Điều ước hợp tác quốc tế
song phương hay khu vực luôn có một phần quy định cách giải quyết các tranh chấp. Ví dụ:
Trong hiến chương ASEAN, từ điều 22 đến điều 26 của Chương 8 đã quy định về các cách thức
giải quyết tranh chấp thể hiện nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp của Hiến Chương Liên
Hợp Quốc.
Như vậy, tranh chấp luôn tồn tại và giải quyết được những tranh chấp là thể hiện các thiện
chí về hợp tác, nếu không giải quyết triệt để sẽ để lại tiền lệ xấu trong quan hệ hợp tác giữa các
bên, ảnh hưởng nghiêm trọng đến những vấn đề khác cần hợp tác.
Trang 12
Do đó, định hình nên những khả năng tồn tại tranh chấp quốc tế là một đặc tính cố hữu của
quan hệ quốc tế; đặc biệt trong xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập khu vực, mô hình hợp tác
giữa các quốc gia vì nhu cầu phát triển kinh tế là phương thức lựa chọn hữu hiệu thì đặc tính này
cần phải được lưu ý. Điều lưu ý này thể hiện ở việc tiên lượng và triệt tiêu những yếu tố có khả
năng gây ra tranh chấp.
1.1.1.3. Xây dựng cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế là vai trò quan trọng của luật
pháp quốc tế . . . . . . . . . . . . .
Luật quốc tế là kết quả của quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh giữa các chủ thể của luật
quốc tế với nhau, trước tiên và chủ yếu là giữa các quốc gia trên bình diện quốc tế. Trong quá
trình này, việc phát sinh các tranh chấp là điều không thể tránh khỏi, nói cách khác sự xuất hiện
các tranh chấp quốc tế có mối quan hệ chặt chẽ, không thể tách rời với các quan hệ pháp lý quốc
tế là đối tượng điều chỉnh của Luật quốc tế. Bên cạnh đó, tranh chấp quốc tế có thể phát sinh từ
đường lối chính sách của các chủ thể Luật quốc tế và quan điểm tiếp cận khác nhau của họ về
các vấn đề pháp lý quốc tế.
Vai trò cực kì quan trọng và vô cùng cần thiết của Luật quốc tế khi giải quyết tranh chấp
quốc tế là thực tế hiển nhiên qua lý luận và thực tiễn. Trong luật quốc tế có chế định riêng biệt
về giải quyết tranh chấp quốc tế, đây là bộ phận cấu thành của luật quốc tế, là tổng thể các
nguyên tắc và quy phạm Luật quốc tế điều chỉnh các quan hệ pháp luật quốc tế, phát sinh trong
toàn bộ quá trình giải quyết tranh chấp. Ngày nay, không một quyết định chính trị nào có thể trở
thành niềm hy vọng và mang ý nghĩa trong đời sống quốc tế nếu như nó không được xây dựng
trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế. Kết luận này được coi là có cơ sở, vì hầu như
trong mọi văn kiện quốc tế quan trọng đồng thời được đề cập đến
(1)
.
Do những lý luận trên và những chế định trong lời nói đầu và các nguyên tắc, mục đích
của Hiến Chương Liên Hợp Quốc đã khái luận nên những vai trò vô cùng tiến bộ và quan trọng
đối với các mối quan hệ quốc tế. Với tư cách là bộ khung pháp lý hiện đại đầu tiên của nhân
loại, các vai trò này đã trở thành những vai trò quan trọng nhất của Luật quốc tế hiện đại:
• Vai trò gắn kết và chống chia rẽ cộng động quốc tế.
1. Trong báo cáo của Tổng thư ký Liên Hợp Quốc năm 1989: “Đã xảy ra sự thay đổi lớn lao mà cội nguồn của nó là
sự công nhận đương nhiên, rằng điều cần thiết cho mỗi quyết định dài hạn của Liên hợp quốc về các vấn đề quốc tế
là nó đều phải được dựa trên các nguyên tắc thừa nhận chung quy định trong Hiến chương”.
Trang 13
• Vai trò gìn giữ hòa bình và duy trì công lý.
• Vai trò là khung pháp lý trong quan hệ quốc tế và giải quyết tranh chấp quốc tế.
• Vai trò ghi nhận sự thừa nhận của thế giới: Hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế.
Việc đưa pháp luật quốc tế vào để giải quyết hòa bình tranh chấp quốc tế là một việc làm
khá hữu hiệu và là một biện pháp có tính khả thi cao và cũng thường được các nước áp dụng
nhiều để giải quyết các tranh chấp quốc tế hiện nay. Luật pháp quốc tế được các nước ưa
chuộng như thế là bởi vì luật quốc tế được cộng đồng quốc tế chấp nhận rộng rãi và có tính ràng
buộc về mặt pháp lý, có thể làm tiêu chuẩn để các nước phân định tính hợp pháp của các hành vi
giúp ngăn chặn và làm giảm bớt khả năng dẫn đến hành vi xung đột giữa các quốc gia. Luật
pháp quốc tế có thể đảm bảo quyền lợi hợp pháp chính đáng của các nước. Trong tình huống
xảy ra tranh chấp, có thể đảm bảo giải quyết vấn đề giữa các bên tranh chấp một cách công bằng
và hợp lý. Về nguyên tắc, luật pháp quốc tế đảm bảo cho các bên tranh chấp thông qua phương
pháp đàm phán để giải quyết hòa bình các tranh chấp trên cơ sở bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau,
thông qua cơ sở này chính là sự thể hiện của việc thỏa thuận ý chí; nếu những thỏa thuận ý chí
không thể kết hợp được thì thông qua con đường tài phán, bằng những phán quyết khách quan
không vì lợi ích của riêng một quốc gia hay vì những sức ép chính trị nào, đảm bảo cho việc giải
quyết tranh chấp một cách công bằng, minh bạch và hợp pháp. Chính vì vậy, việc sử dụng luật
pháp quốc tế làm nền tảng để giải quyết các tranh chấp quốc tế không chỉ là nhận thức chung
của cộng đồng quốc tế, mà còn được một nhiều văn bản luật quốc tế qui định trở thành một
nguyên tắc luật phải tuân theo.
Quá trình hợp tác và đấu tranh của các chủ thể trong luật quốc tế là một thực tế cho thấy
hành vi này nhằm loại trừ sự lấn ép của những quốc gia lớn mạnh và có vị thế trên trường quốc
tế đối với những quốc gia nhỏ bé hơn. Xây dựng những khung pháp lý minh bạch, trong đó ghi
nhận sự bình đẳng giữa các quốc gia và giải quyết các tranh chấp cũng dựa trên sự bình đẳng
chính là văn minh của thế giới hiện đại, vừa xây dựng sự phát triển mọi mặt trên toàn cầu vừa
bảo vệ tất cả các quyền lợi hợp pháp không biệt lớn bé giữa các quốc gia. Do đó, xét về tranh
chấp Biển Đông, khi Trung Quốc là một quốc gia mạnh và có thế lực thì việc sử dụng luật pháp
quốc tế để giải quyết tranh chấp là hy vọng lớn nhất và hữu hiệu đối với những quốc gia còn lại
yếu kém hơn. Vì Trung Quốc không thể pháp vỡ những trật tự pháp lý đã được xây dựng do
Trang 14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét