Thứ Hai, 30 tháng 12, 2013

Xây dựng phát triển vùng nguyên liệu giai đoạn năm 2011 2015 của công ty cổ phần mía đường 333


5
1.2.1.1. Đặc điểm về công nghệ:
Hiện nay, trên thế giới đang áp dụng phổ biến các loại quy trình công nghệ sản
xuất đường .
- Quy trình sản xuất đường thô
- Quy trình sản xuất đường trắng (RS)
- Quy trình sản xuất đường tinh luyện (RE)
Tuỳ theo điều kiện về nguồn vốn đầu tư, hiện trạng của máy móc thiết bị, yêu
cầu về tịêu chuẩn chất lượng, nhu cầu của thị trường mà người ta lựa chọn quy trình
sản xuất khác nhau. Sự khác biệt giữa các quy trình công nghệ chủ yếu là ở phương
pháp làm sạch nước mía. Có nhiều phương pháp làm sạch nước mía hiện nay như :
Phương pháp Các-bo-nát hóa; Phương pháp sun-fít hóa; Phương pháp kết hợp Các-bo-
nát và sunfít hóa; Kết hợp Cát-bônát và trao đổi ion; Phương pháp Blanco Director;
Phương pháp SAT ….
Dù áp dụng phương pháp nà , quy trình chung của công nghệ chế biến đường
cũng theo các bước như sau : Mía nguyên liệu  Xử lý mía  Trích li nước mía
làm sạch nước mía Cô đặc nước mía chè đặc  nấu đường kết tinh li tâm,
sấy, đóng bao  đường thành phẩm.
Mỗi quy trình công nghệ khác nhau sẽ cho ra thành phẩm có chất lượng, giá
thành và giá bán khác nhau. Hiện nay ở Việt Nam, ngoài một số Nhà máy xây dựng
mới gần đây có công suất lớn và hiện đại đủ điều kiện sản xuất đường tinh luyện RE,
hầu hết các Nhà máy đường đều sản xuất đường trắng RS theo phương pháp Sun-fít
hóa theo tiêu chuẩn VN 6959:2011. Ưu điểm của phương pháp này là chi phí đầu tư
thiết bị thấp, vận hành và quản lý thiết bị đơn giản. Nhược điểm: hệ số ăn mòn thiết bị
lớn, dư lượng SO
2
trong đường thành phẩm cao, hạn chế về thời gian bảo quản.
1.2.1.2. Đặc điểm về nguyên liệu mía :
- Đặc điểm sinh học :
Mía có tên khoa học là saccharum ssp. Thuộc họ Graminaea (Họ Hòa thảo) là
cây trồng có khả năng tái sinh mạnh, chu kỳ sản xuất từ 3 đến 4 năm gồm 1 vụ mía tơ
và 2-3 vụ mía gốc. Tuỳ theo nhóm giống chín sớm, chín trung bình hoặc chín muộn,
thời gian sinh trưởng từ lúc trồng hoặc tái sinh gốc đến khi thu hoạch trung bình từ 10
đến 12 tháng. Chu kỳ sinh trưởng gồm 4 thời kỳ chính:
+ Thời kỳ mọc mầm: Cây non mọc lên, rễ sơ sinh bắt đầu phát triển

6
+ Thời kỳ đẻ nhánh: Thời kỳ đẻ nhánh rất quan trọng vì nó có quan hệ trực tiếp
đến mật độ cây, một trong hai yếu tố quyết định năng suất của ruộng mía.
+ Thời kỳ vươn lóng: Quyết định đến độ lớn của cây mía, tác động lớn đến năng
suất và chất lượng mía, thời kỳ này mía cần được chăm sóc tốt
+ Thời kỳ mía chín: Ở thời kỳ này tốc độ sinh trưởng chậm lại, tốc độ tích lũy
đường tăng nhanh, ruộng mía đã ổn định về cơ bản số cây và độ lớn. Thời điểm bắt
đầu cây mía tích luỹ đường từ tháng thứ 8 cho đến khi đạt đường ở mức cao nhất khi
mía chín hoàn toàn. Sau thời kỳ chín, lượng đường giảm dần cho đến mức thấp nhất,
vì vậy nó mang tính mùa vụ rất cao.
Mía là cây trồng nhiệt đới và á nhiệt đới, sức sống cao, khả năng thích ứng rộng
nhưng những yếu tố về khí hậu và đất đai đều có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sinh
trưởng và phát triển của cây mía:
Về nhiệt độ: Thích hợp trong phạm vi 20-32
o
C. Nhiệt độ cao quá hoặc thấp quá
ảnh hưởng đến sinh trưởng bình thường và giảm tốc độ quang hợp. Thời kỳ mía chín
cần nhiệt độ thấp dưới 20
o
C và biên độ nhiệt lớn giữa ngày và đêm giúp cho quá trình
chuyển hóa và tích lũy đường thuận lợi.
Về ánh sáng: Trong cả chu kỳ sinh trưởng cây mía cần khoảng 2.000 – 3.000 giờ
chiếu sáng, tối thiểu cũng phải từ 1.200 giờ trở lên
Lượng nước và ẩm độ đất: Trong thân cây mía chứa nhiều nước (70% khối
lượng). Lượng mưa thích hợp 1.500 – 2.000 mm/năm, phân bố trong khoảng thời gian
từ 8-10 tháng, từ khi cây mía mọc mầm đến thu hoạch
Về đất đai: Cây mía thuộc loại không kén đất, có thể trồng trên các loại đất khác
nhau. Đất thích hợp nhất cho cây mía là những loại đất có độ phì nhiêu cao, xốp, sâu,
giữ ẩm tốt và dễ thoát nước. Độ pH thích hợp cho mía phát triển tốt là từ 5,5 - 7,5.
Những đặc điểm sinh học trên của cây mía không chỉ ảnh hưởng đến việc bố trí
vùng nguyên liệu mía mà còn ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất của vùng mía đó. Vì
vậy, không phải vùng đất nào cũng có thể đáp ứng yêu cầu sinh trưởng và phát triển
của cây mía để trở thành một vùng nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến một
cách tốt nhất.
- Đặc điểm mía nguyên liệu: Mía thuộc loại nguyên liệu tươi. Các chỉ tiêu để
đánh giá chất lượng mía: mía sạch loại bỏ ngọn non, lá , rễ và các tạp chất khác không
phải là mía; Mía phải đủ tuổi chín; Quan trọng nhất là chỉ số đánh giá về chữ đường

7
(CCS), tức là hàm lượng đường có thể thu hồi thực tế trong sản xuất. CCS trong mía
>9,5; AP (độ tinh khiết) nước mía hỗn hợp >79. Mía tươi từ khi đốn đến khi đưa vào
chế biến không quá 48 giờ. Lượng mía đưa về nhà máy hàng ngày phù hợp với công
suất ép nhằm tránh giảm chất lượng mía do để trên sân mía quá lâu. Nếu mía non, khô,
nhiều tạp chất - chất lượng kém tạo keo, nhớt gây khó khăn cho các khâu sau mía của
quy trình chế biến, việc thực hiện các chỉ tiêu KTKT trở nên khó khăn, phải điều chỉnh
chỉ tiêu phù hợp làm giảm hiệu suất tổng thu hồi, giảm chất lượng đường thành phẩm.
Tỷ lệ đường trong mía rất thấp, trung bình khoảng 10% khối lượng mía. Do đó,
chi phí vận chuyển nguyên liệu từ nơi sản xuất đến cơ sở chế biến chiếm tỷ trọng lớn
trong giá thành khoảng từ 10% đến 15%. Chính vì vậy Nhà máy chế biến phải được
xây dựng gần các vùng nguyên liệu mía tập trung chuyên canh, cự li trung bình dưới
50km, các nhà máy đường muốn giảm chi phí vận tải nguyên liệu phải đặt tại trung
tâm vùng nguyên liệu mía. Ngoài ra, hệ thống giao thông vận chuyển mía phải thuận
lợi để có thể kịp thời vận chuyển sau khi thu hoạch.
Do điều kiện khí hậu, thời tiết, do đặc điểm, tính chất của cây mía, nên việc trồng
và thu hoạch mía mang tính chất thời vụ rất cao. Chất lượng nguyên liệu mía phụ
thuộc rất lớn vào giống mía, điều kiện thời tiết, khí hậu, kỹ thuật canh tác mía và công
tác thu hoạch, vận chuyển mía. Mùa vụ sản xuất chỉ có thể kéo dài tối đa 6 tháng vào
mùa khô.
1.2.2. Các tiêu chí đánh giá một vùng nguyên liệu:
Một nhà máy chế biến đường muốn phát huy hết công suất thiết kế, hiệu quả sản
xuất kinh doanh cao. Một nhân tố vô cùng quan trọng là phải có một vùng nguyên liệu
tập trung, gần nhà máy, chất lượng, ổn định và phát triển bền vững. Vùng nguyên liệu
mía thường được đánh giá thông qua rất nhiều các tiêu chí:
1.2.2.1. Các chỉ tiêu đánh giá quy mô vùng mía nguyên liệu
- Sự tập trung của vùng chuyên canh mía: Mía là loại cây có sinh khối lớn, để
sản xuất 1 tấn đường trung bình cần đến 10 tấn mía nên chi phí vận chuyển nguyên
liệu cao. Nhà máy có công suất 3.000 TMN, phải có vùng nguyên liệu 7.000 ha mới có
đủ nguyên liệu sản xuất hết công suất. Một vùng nguyên liệu tập trung, chuyên canh
gần nhà máy là điều kiện để giảm chi phí, hạ giá thành nâng cao hiệu quả sản xuất
- Cơ sở hạ tầng vùng nguyên liệu:

8
+ Hạ tầng về giao thông trong vùng nguyên liệu là một trong những yếu tố phụ
trợ cần phải tính đến trong việc hình thành nên một vùng nguyên liệu vì với khối
lượng vận chuyển lớn, cung đường vận chuyển xa, chi phí vận chuyển mía nguyên liệu
rất lớn trong giá thành sản xuất, nên hệ thống giao thông và giao thông nội đồng trong
vùng nguyên liệu có ý nghĩa quan trọng trong việc đáp ứng kịp thời mía cho sản xuất
và giảm chi phí cho cơ sở chế biến và người trồng mía.
+ Về thuỷ lợi, đặc điểm sinh học của cây mía là cây tạo sinh khối lớn, cần nhiều
nước để phát triển, để đủ nước cho mía, lượng nước từ nước mưa hàng năm tối thiểu
phải từ 1.500mm trở lên, phân bổ đều trong năm. Từng thời kỳ sinh trưởng, cây mía
cần lượng nước khác nhau, nên nếu chủ động được nguồn nước tưới tiềm năng tăng
năng suất và chất lượng mía thông qua việc điều tiết lượng nước cho cây mía là rất
lớn. Mía có tưới năng suất cao hơn từ 25 đến 30% so với trồng tự nhiên.
+ Sự phát triển của hệ thống các dịch vụ hỗ trợ trong vùng như: thông tin liên
lạc, nguồn điện, vật tư nông nghiệp (xăng dầu, phân bón, thuốc trừ sâu,. ) cũng phải
đảm bảo theo kịp yêu cầu phát triển của vùng nguyên liệu.
- Sản lƣợng mía: Sản lượng mía bao gồm toàn bộ khối lượng sản phẩm mía tạo
ra trong năm của toàn vùng mía nguyên liệu. Sản lượng mía hàng hóa là toàn bộ khối
lượng mía hàng hóa được thu mua tại các cơ sở chế biến không kể đến những hao hụt
trong quá trình thu hoạch và thu mua.
-Cơ cấu cây trồng và diện tích đất trồng mía: Là tỷ lệ phần trăm diện tích mía
so với tổng diện tích đất nông nghiệp hoặc đất canh trong vùng; Là diện tích đất nông
nghiệp dùng để trồng mía của toàn vùng
- Số lượng lao động, giá trị máy móc, nông cụ và tư liệu sản xuất khác tham gia
vào sản xuất mía; Số hộ hoặc cơ sở sản xuất kinh doanh tham gia vào sản xuất mía
trong vùng.
1.2.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất và sự phát triển của vùng mía
nguyên liệu
- Năng suất bình quân : Là khối lượng trung bình mía sản xuất được trên 1 ha
của toàn vùng nguyên liệu mía.
- Khả năng đáp ứng công suất chế biến: Là sản lượng mía mà vùng nguyên liệu
cung cấp cho nhà máy so với công suất thiết kế của nhà máy.

9
- Chất lƣợng nguyên liệu mía: Bao gồm chữ đường(CCS) và phần trăm thu hồi
của mía nguyên liệu.
- Hiệu quả tài chính của việc trồng mía nguyên liệu đối với từng hộ sản xuất
hoặc cơ sở kinh doanh sản xuất mía nguyên liệu trong vùng.
- Hiệu quả kinh tế xã hội của vùng mía nguyên liệu: Là hiệu quả tổng hợp về
những lợi ích mà vùng mía nguyên liệu tao ra cho toàn vùng.
1.2.3. Ý nghĩa, vai trò của vùng nguyên liệu đối với ngành công nghiệp chế biến
đƣờng:
- Trong quá trình thực chương trình mía đường quốc gia, giai đoạn từ năm 2004
trở về trước, ngoại trừ những năm 1999-2000 xảy ra tình trạng “ mía đắng” do chưa
đồng bộ giữa cơ sở chế biến và xây dựng vùng nguyên liệu, hầu hết các Nhà máy
đường đều thua lỗ chủ yếu do thiếu hụt trầm trọng nguyên liệu, các Nhà máy đường
hoạt động cầm chừng, dưới công suất thiết kế, một số nhà máy phải di dời, ngừng hoạt
động do không có hoặc vùng nguyên liệu không tương thích với quy mô sản xuất.
- Sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến đường của thế giới và ở Việt
Nam đã chứng minh hiệu quả của chế biến tỷ lệ thuận với quy mô sản xuất có tính
đến các yếu tố về khả năng đáp ứng đủ nguyên liệu cho sản xuất, về tiết kiệm chi phí
sản xuất thông qua việc hạ giá thành nguyên liệu, tăng khả năng thu hồi đường trong
mía.
- Việc hình thành các vùng nguyên liệu được quy hoạch tập trung, được đầu tư
đúng mức để sản xuất mía đáp ứng nhu cầu về nguyên liệu phù hợp với quy mô công
suất chế biến có tính đến các yếu tố về năng suất, chất lượng để đảm bảo thu nhập cho
người trồng mía là điều kiện rất quan trọng để các Nhà máy chế biến đường có thể tồn
tại và phát triển.
- Vùng nguyên liệu và Nhà máy chế biến đường có mối quan hệ phụ thuộc chặt
chẽ với nhau. Do khối lượng vận chuyển lớn, chi phí vận chuyển cao, nên mỗi vùng
nguyên liệu chỉ có thể bán được mía cho một hoặc một vài Nhà máy chế biến nhất
định trong khu vực khi vào vụ thu hoạch. Những biến động về tình hình sản xuất của
Nhà máy đều tác động trực tiếp đến vùng nguyên liệu.Vì vậy luôn phải có sự gắn kết
giữa Nhà máy chế biến đường với vùng nguyên liệu.
Sản xuất nguyên liệu- Chế biến đường mía có tính thời vụ rất cao. Thời gian thu
hoạch từ khi mía chín cho đến khi mía giảm mạnh chất lựong là có hạn. Trong khi đó

10
có nhiều yếu tố tác động đến việc có thu hoạch kịp thời hay không như: Yếu tố thời
tiết, nguồn lao động, đường giao thông, phương tiện vận tải và khả năng tiêu thụ
nguyên liệu của Nhà máy. Cần phải có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các khâu trong
chuỗi giá trị ngành hàng này.
Mặt khác, đặc điểm công nghệ của sản xuất đường là thiết bị chuyên dùng, công
nghệ phức tạp. Nhà máy đường không thể dùng dây chuyền này để sản xuất các sản
phẩm từ nguồn nguyên liệu khác (như các nhà máy chế biến nông sản: thức ăn gia súc,
hoa quả, nước giải khát…) khi không đủ nguyên liệu mía để sản xuất.
Có thể kết luận rằng: Hoạt động của các Nhà máy chế biến đường phụ thuộc rất
lớn vào khả năng đáp ứng đủ nguyên liệu về số lượng, chất lượng, thời gian cung cấp
của vùng nguyên liệu.
1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN VIỆC XÂY DỰNG VÙNG NGUYÊN
LIỆU.
1.3.1. Các chính sách của Nhà nƣớc và định hƣớng phát triển của địa phƣơng:
Chính sách của Nhà nước là sự can thiệp của Nhà nước đến các hoạt động kinh tế
xã hội theo những mục tiêu nhất định trong những điều kiện nhất định. Đối với sản
xuất nông nghiệp, do đặc điểm sản xuất và vai trò sản phẩm, các chính sách thường
theo hướng khuyến khích, hỗ trợ phát triển trực tiếp về vật chất, kỹ thuật hoặc hỗ trợ
gián tiếp thông qua tạo lập môi trường pháp lý, môi trường kinh tế.
Đối với vùng nguyên liệu mía thì các chính sách hỗ trợ của Nhà nước và định
hướng của chính quyền địa phương đóng vai trò là động lực cho phát triển. Liên quan
đến các yếu tố của quá trình sản xuất mía nguyên liệu như quy hoạch sử dụng đất đai,
nguồn nhân lực, vốn đầu tư, tín dụng, phát triển cơ sở hạ tầng, khoa học công nghệ,
tiêu thụ sản phẩm.
1.3.2. Công tác quy hoạch vùng nguyên liệu:
Để chủ động nguyên liệu, các Nhà máy chế biến phải phối hợp với địa phương
tổ chức quy hoạch vùng nguyên liệu dựa trên các điều kiện về: quỹ đất, về năng lực
chế biến, về vốn đầu tư, các điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội trong vùng. Quy
hoạch phải đảm bảo mía nguyên liệu sản xuất ra phải được tiêu thụ hết, không gây ra
sự mất cân đối giữa nhà máy chế biến đường và vùng nguyên liệu. Tránh quy hoạch
chồng chéo gây ra hiện tượng tranh chấp nguyên liệu giữa các nhà máy hay nguyên
liệu mía sản xuất ra không tiêu thụ được. Khai thác và sử dụng có hiệu quả tiềm năng

11
và lợi thế đất đai, lao động. Hình thành các vùng chuyên canh tập trung, tăng cường
đầu tư thâm canh để nâng cao năng suất, chất lượng mía để nâng cao hiệu quả trên đơn
vị diện tích canh tác mía. Kết hợp hài hoà lợi ích giữa người sản xuất mía nguyên liệu
và nhà máy chế biến gắn với bảo vệ môi trường.
1.3.3. Các điều kiện về kinh tế-Xã hội:
Bao gồm nhiều nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của vùng
nguyên liệu mía tập trung như:
- Nguồn lao động: Nguồn lao động phải được xem xét đến mức độ đáp ứng cho
sản xuất về số lượng và chất lượng của lao động. Số lượng nguồn lao động là tất cả
những người lao động có khả năng tham gia lao động và những người ngoài độ tuổi
thực tế có tham gia lao động. Chất lượng nguồn lao động bao gồm trình độ văn hóa,
chuyên môn, sức khỏe, ý thức…
- Giá mua mía và sự hài hòa lợi ích giữa các bên tham gia vào chuỗi giá trị ngành
mía đường: Nếu giá mía cao, mang lại hiệu quả kinh tế lớn hơn những cây trồng mà
người dân trong vùng đang canh tác thì họ sẽ chuyên đổi sang trồng mía, và ngược lại,
nếu hiệu quả kinh tế từ trồng mía không cao thì người dân sẽ quay lưng lại với cây
mía. Như vậy, các chính sách về giá của cơ sở chế biến để cho người trồng mía yên
tâm sản xuất lâu dài là rất quan trọng. Để làm được điều này, doanh nghiệp chế biến
cần quan tâm các biện pháp tiết kiệm chi phí, nâng cao năng lực thu hồi của thiết bị
nhằm hạ giá thành sản xuất để có thể đầu tư vào giá mía. Người trồng mía quan tâm
đến việc thâm canh, ứng dụng, giống mới, cơ giới hóa, . để tăng năng suất, chất lượng
mía để nâng cao hiệu quả sản xuất trên một đơn vị diện tích.
- Khả năng huy động vốn để đầu tư cho cây mía: Yếu tố này làm tăng năng lực
sản xuất và quy mô sản xuất của vùng mía.
- Các yếu tố về bản sắc văn hóa các dân tộc, phong tục địa phương, truyền thống
cần cù trong lao động, tập quán canh tác của nhân dân trong vùng và tính năng động
của người dân có ảnh hưởng lớn đến việc hình thành và phát triển của vùng mía
nguyên liệu.
- Các điều kiện về cơ sở hạ tầng, sự đầu tư Nhà nước, các chính sách, chương
trình phát triển ưu tiên cho miền núi, vùng sâu, vùng xa… là những tiền đề thuận lợi
cho việc xây dựng vùng nguyên liệu.
1.3.4. Các nhân tố về điều kiện tự nhiên:

12
Các điều kiện tự nhiên như khí hậu, đất đai, nguồn nước, có ảnh hưởng lớn đến
việc hình thành các vùng nguyên liệu mía tập trung chuyên canh.
- Ảnh hƣởng của khí hậu: Bao gồm các yếu tố ảnh hưởng như nhiệt độ, độ ẩm,
mưa, gió, bão, ánh nắng ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển của cây mía trong từng thời
kỳ. Các yếu tố này có biều hiện khác nhau theo từng vùng, từng địa phương trong
nước ta. Khi lựa chọn vùng trồng mía nguyên liệu cần lựa chọn những vùng có điều
kiện thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của cây mía mới có thể có vùng mía
năng suất, chất lượng cao.
- Ảnh hƣởng của đất đai: Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt của sản
xuất nông nghiệp. Chất lượng đất có chứa các thành phần chất dinh dưỡng phù hợp
cây mía có vai trò hết sức quan trọng đảm bảo cho cây mía phát triển. Vì vậy khi lựa
chọn vùng nguyên liệu trồng mía phải quan tâm đến đất có phù hợp cho cây mía phát
triển hay không. Vì vậy, đây là một trong các nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự
hình thành vùng mía nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến đường.
- Ảnh hƣởng của nguồn nƣớc: Nước cung cấp cho các hoạt động sản xuất nông
nghiệp nói chung. Tuy mía là loại cây trồng cạn, nhưng trong quá trình sinh trưởng và
phát triển mía cần nhiều nước và nhu cầu nước trong từng giai đoạn là khác nhau. Một
vùng có các nguồn nước cung cấp đủ cho cây mía sẽ là yếu tố tạo nên năng suất và
chất lượng mía của vùng đó cao. Xem xét các yếu tố về nguồn nước cung cấp cho mía
cũng là một trong những yếu tố quan trọng để hình thành vùng nguyên liệu mía.
1.3.5. Về trình độ kỹ thuật và công nghệ
Hiện nay trang thiết bị,công nghệ chế biến đường không ngừng thay đổi, ngày
càng hiện đại hơn, đẩy mạnh tự động trong một số công đoạn chế biến, nâng cao hiệu
suất thu hồi, dây chuyền sản xuất ngày càng có công suất lớn, do vậy, việc sản xuất
chế biến đường ngày càng có hiệu quả. Tuy nhiên, điều này cũng đòi hỏi mía nguyên
liệu phải đáp ứng về cả số lượng và chất lượng, quy trình sản xuất và thu hoạch mía
phải ngày càng được cải tiến phù hợp với công nghệ chế biến, đẩy mạnh cơ giới hóa
trong nông nghiệp, máy móc thay thế dần con người để hạ giá thành, giải quyết tình
trạng thiếu lao động diễn ra ngày càng gay gắt.
1.3.6. Các yếu tố canh tranh trong ngành (Theo mô hình 5 yếu tố cạnh tranh )

13
- Cường độ cạnh tranh trong ngành: sự cạnh tranh nguyên liệu của các nhà máy
đường trong khu vực là yếu tố chính tác động đến hiệu quả sản xuất chế biến và xây
dựng vùng nguyên liệu.
- Đe dọa của sản phẩm thay thế: đường thốt nốt, đường củ cải. Nhưng không
đáng ngại và gần như là không có vì số lượng ít, giá thành sản xuất cao, thêm vào đó,
thị hiếu người tiêu dùng trong nước và nước ngoài không ưu chuộng vị ngọt của các
loại đường trên. Một đe dọa khác đến từ vùng nguyên liệu của công ty: đó là sự cạnh
tranh của các cây trồng ngắn ngày như cây mì, bắp, đậu… và dài ngày như cao su, cây
nguyên liệu giấy, cà phê, ca cao… đối với cây mía.
- Sức mạnh của nhà cung cấp: hộ nông dân, HTX nông nghiệp trồng mía. Cần
phải có sự hài hòa lợi ích giữa các bên để đảm bảo cho sự phát triển bền vững của
vùng nguyên liệu.
- Sức mạnh của người mua: Các nhà phân phối trung gian, các doanh nghiệp chế
biến thực phẩm mà đường là nguyên liệu chính, tác động đến hiệu quả sản xuất, gián
tiếp tác động đến vùng nguyên liệu.
- Đe dọa xâm nhập mới: Với đặc thù của Ngành đường, Sự xâm nhập mới có
những rào cản hạn chế nhất định, đối với áp lực cạnh tranh này là phải có vùng nguyên
liệu mới có thể xây dựng mới, chính sách của Nhà nước (QĐ 26/2007) hạn chế xây
mới, chỉ nâng cấp trên cơ sở phải đảm bảo đủ nguyên liệu.
1.4. HỢP ĐỒNG TIÊU THỤ NÔNG SẢN HÀNG HÓA THEO TINH THẦN
QUYẾT ĐỊNH 80/2002/QĐ-TTg
1.4.1. Khái niệm về hợp đồng – Hợp đồng tiêu thụ nông sản.
Hợp đồng là một cam kết thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên để làm hoặc không
làm một việc nào đó trong khuôn khổ pháp luật. Hợp đồng có thể được thể hiện bằng
văn bản hay bằng miệng (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia )
Theo Pháp lệnh hợp đồng kinh tế: “Hợp đồng kinh tế là sự thoả thuận bằng văn
bản, tài liệu giao dịch giữa các bên ký kết về việc thực hiện công việc sản xuất, trao
đổi hàng hoá, dịch vụ, nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật và các thoả
thuận khác có mục đích kinh doanh với sự quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của
mỗi bên để xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình”.

14
Về Hợp đồng tiêu thụ nông sản: Quyết định 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002
của Thủ tướng chính phủ về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa
thông qua hợp đồng có nêu:
“ Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ký kết
hợp đồng tiêu thụ nông sản hàng hóa với người sản xuất ,nhằm gắn sản xuất với chế
biến và tiêu thụ nông sản để phát triển sản xuất ổn định và bền vững.
Hợp đồng sau khi đã ký kết là cơ sở pháp lý để gắn trách nhiệm và nghĩa vụ các
bên , bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp giữa người sản xuất nguyên liệu và các
doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh chế biến và xuất khẩu theo các quy định của hợp
đồng.”
Thực hiện việc ký kết hợp đồng tiêu thụ nông sản có lợi cho cả hai phía: người
nông dân, các tổ chức kinh tế nông nghiệp và doanh nghiệp chế biến. Đối với người
nông dân là lời giải cho bài toán đầu ra của sản phẩm, đối với doanh nghiệp sẽ giải
quyết được sự đảm bảo tương đối chắc chắn đủ nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản
xuất, trên cơ sở hài hòa, cùng chia sẻ lợi ích giữa các bên.
Về hình thức hợp đồng, Quyết định 80 quy định các hình thức :
- Ứng trước vốn, vật tư, hỗ trợ kỹ thuật, công nghệ và mua lại nông sản hàng hóa.
- Bán vật tư mua lại nông sản hàng hóa
- Trực tiếp tiêu thụ nông sản hàng hóa.
- Liên kết sản xuất (Liên kết giữa nông dận và doanh nghiệp bằng quyền sử dụng
đất, tạo sự gắn kết giữa nông dân và doanh nghiệp)
Theo Bảo Trung: “Hình thức ứng trước vốn, vật tư, hỗ trợ kỹ thuật, công nghệ
và mua lại nông sản hàng hóa” xét về bản chất có thể xem là “ hình thức Hợp đồng sản
xuất”; Hình thức “ bán vật tư mua lại nông sản hàng hóa” và “ trực tiếp tiêu thụ nông
sản hàng hóa” về bản chất là hợp đồng bao tiêu sản phẩm “…
Vận dụng các hình thức trên theo tinh thần của Quyềt định 80, hầu hết các Nhà
máy đường trong cả nước ký kết hợp đồng tiêu thụ mía với hộ nông dân, các nhóm hộ,
các HTX dưới hình thức Hợp đồng đầu tư & mua bán nguyên liệu và Hợp đồng bao
tiêu sản phẩm.
1.4.2. Mối quan hệ giữa ngƣời trồng mía và doanh nghiệp chế biến mía đƣờng :
Trong chuỗi giá trị ngành mía đường người trồng mía thực hiện khâu sản xuất
nguyên liệu, doanh nghiệp chế biến đường thực hiện khâu chế biến và tổ chức tiêu thụ,

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét