Thứ Tư, 19 tháng 3, 2014

PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC KINH DOANH QUỐC TẾ CỦA TẬP ĐOÀN VIỄN THÔNG QUÂN ĐỘI VIETTEL


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC KINH DOANH QUỐC TẾ CỦA TẬP ĐOÀN VIỄN THÔNG QUÂN ĐỘI VIETTEL": http://123doc.vn/document/1036699-phan-tich-chien-luoc-kinh-doanh-quoc-te-cua-tap-doan-vien-thong-quan-doi-viettel.htm


3

Chương 1:Cơ sở lý luận về chiến lược kinh doanh
quốc tế

1. Khái niệm chiến lược kinh doanh quốc tế
Trước hết cần hiểu khái niệm “chiến lược” là gì? Chiến lược là phương
hướng và quy mô của một tổ chức trong dài hạn, chiến lược sẽ mang lại lợi
thế cho tổ chức thông qua việc sắp xếp tối ưu các nguồn lực trong một môi
trường cạnh tranh nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường và kỳ vọng của các nhà
góp vốn.
Chiến lược kinh doanh là chiến lược liên quan nhiều hơn tới việc làm
thế nào một doanh nghiệp có thể cạnh tranh thành công trên một thị trường cụ
thể. Nó liên quan đến các quyết định chiến lược về lựa chọn sản phẩm, đáp
ứn nhu cầu khách hàng, giảm lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ, khai thác
và tạo ra được các cơ hội mới .
Chiến lược kinh doanh quốc tế là tập hợp các mục tiêu, chính sách và
kế hoạch hoạt động của doanh nghiệp nhằm đảm bảo sự phát triển quốc tế
của doanh nghiệp
2. Chiến lược kinh doanh trên thị trường quốc tế
2.1. Chiến lược cạnh tranh
Chiến lược cạnh tranh là chiến lược dựa trên các nguồn lợi thế cạnh
tranh để thành công. Mỗi doanh nghiệp đều có thể tạo dựng cho mình một lợi
thế cạnh tranh, nếu nó thực hiện các bước đi hợp lý cho phép giành được vị
trí hàng đầu trong việc hấp dẫn khách hàng so với các đối thủ cạnh tranh,
mục tiêu để khách hàng cảm nhận được giá trị vượt trội so với những gì mà
đối thủ cung cấp Mặc dù có rất nhiều chiến lược cạnh tranh khác nhau, song
một cách khái quát có ba cách tiếp cận cơ bản để tạo dựng lợi thế cạnh tranh
đó là : chiến lược chi phí thấp; chiến lược khác biệt hóa; chiến lược trọng
tâm
4

2.1.1. Chiến lược chi phí thấp
Là chiến lược mà theo đó doanh nghiệp ưu tiên mọi nỗ lực của mình để
hướng tới một mục tiêu hàng đầu “giảm thiểu giá thành”.
Để đạt được vị thế về chi phí thấp doanh nghiệp tập trung vào công
nghệ và quản lý để giảm chi phí thông qua phát triển các kỹ năng chế tạo
linh hoạt và áp dụng kỹ thuật quản trị vật liệu hiệu quả. Do đó, các chức năng
quản trị vật liệu và chế tạo là trung tâm chú ý của một công ty đang theo đuổi
chiến lược chi phí thấp; các chức năng khác cần định hướng khả năng tạo sự
khác biệt của nó để đáp ứng yêu cầu của quản trị vật liệu và chế tạo .
Doanh nghiệp không tập trung vào khác biệt hóa sản phẩm bởi để tạo
sự khác biệt thường rất tốn kém , nếu công ty bỏ các nguồn lực của mình để
làm ra sản phẩm độc đáo thì chi phí có thể sẽ tăng lên. Doanh nghiệp thường
giữ sao cho mức độ khác biệt không quá thấp so với doanh nghiệp tạo sự
khác biệt với việc công ty bỏ nguồn lực của mình để phát triển sản phẩm,
song ở mức lại họ lại có thể có được lựoi thế chi phí thấp
Doanh nghiệp chi phí thấp không cố gắng trở đi tiên phong trong lĩnh
vực nghiên cứu, đưa ra tính năng mới, sản phẩm mới.Họ chờ cho đến khi các
khách hàng có mong muốn một đặc tính hay dịch vụ, rồi mới cung cấp đặc
tính hay dịch vụ đó.
Nhóm khách hàng mà doanh nghiệp phục vụ thường là nhóm “khách
hàng trung bình”. Lý do sử dụng phương án này bởi vì việc phát triển một
tuyến sản phẩm đáp ứng nhu cầu của các phân đoạn thị truờng khác nhau là
một cách làm tốn kém . Dù khách hàng có thể không hòan toàn thỏa mãn về
sản phẩm, nhưng điều quan trọng là công ty thường đòi hỏi mức giá thấp hơn
so với các đối thủ đang cố hấp dẫn khách hàng bằng các sản phẩm độc đáo,
chất lượng cáo , và công ty vẫn có lý khi giá cả vẫn còn hẫp dẫn ở phân đoạn
thị trường này.
 Ưu điểm
Sử dụng chiến lược chi phí thấp doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh
với các đối thủ trong ngành lớn. Các đối thủ cạnh tranh rất sợ canh tranh về
5

giá bởi họ có it lợi thế hơn hẳn về chi phí. Thay vì cạnh trang giá, các đối thủ
trường né tránh bằng một số công cụ tạo sự khác biệt. Tuy nhiên, ngay cả khi
các đổi thủ cạnh tranh trên cơ sở giá, doanh nghiệp đang theo đuổi chiến lược
chi phí thấp vẫn có thể thu được mức lợi nhuận tối thiểu sau khi các đổi thủ
cạnh tranh của nó đã bị thiệt hại đáng kể qua cạnh tranh
Doanh nghiệp có khả năng thương lượng với nhà cung cấp mạnh. Với
lợi nhuận cao tương đối so với đối thủ cạnh tranh , doanh nghiệp có khả năng
dễ dàng hấp thụ được sự tăng giá từ phía nhà cung cấp. Khi ngành phải đối
mặt với sự tăng chi phí từ nhà cung cấp, chỉ có doanh nghiệp mới có khả
năng trả cao hơn mà vẫn phải duy trì mức sinh lợi nhuận, cuối cùng danh
ngiệp có sức mạnh có thể thúc ép các nhà cung cấp giảm giá. Hơn nữa, doanh
nghiệp áp dụng chiến lược chi phí thấp thường có một thị phần lớn, họ sẽ
thực hiện mua sắm khối lượng tương đối lớn qua đó làm tăng năng lực
thương lượng với các nhà cung cấp.
Có thể tăng năng lực thương lượng với khách hàng. Những khách hang
có quyền lực mạnh có thể thúc ép doanh ngiệp giảm giá, nhưng dù sao giá
cũng không thể giảm xuống đến mức mà người cạnh tranh có hiệu quả kế tiếp
có thể thu đuợc lợi nhuận thấp. Mặc dù , những người mua quyền lực có thể
ép giá doanh nghiệp giảm xuống mức này, nhưng họ sẽ không làm như thế.
Bởi vì nếu giá vẫn hạ đến mức để cho đối thủ cạnh tranh không đạt được lợi
nhuận bình quân, khi đó họ rời khỏi thị trường , để lại cho doanh nghiệp ở vị
thí mạnh hơn. Bấy giờ khách hàng sẽ mất đi quyền năng của họ, giá lại tăng
vì trong ngành chỉ còn lại doanh nghiệp , không có đối thủ cạnh tranh
Sản phẩm của doanh nghiệp cạnh tranh tốt với sản phẩm thay thế. Khi
phải đối mặt với khả năng thay thế sản phẩm, doanh nghiệp có tính linh hoạt
cao hơn đối thủ . Nếu có sản phẩm thay thế bắt đầu đi vào thị trường , doanh
nghiệp sẽ giảm giá của mình để cạnh tranh với những sản phẩm này và duy
trì thị phần.
Lợi thế chi phí thấp giúp doanh nghiệp tạo lập một rào cản thâm nhập
thị trường vì các công ty khác không thể thâm nhập và thích ứng với giá mà
doanh nghiệp đã đề ra. Do đó doanh nghiệp tương đối an toàn chừng nào mà
6

duy trì lợi thế chi phí và giá cả vẫn là điều then chốt đối với một số lượng lớn
người mua.
 Nhược điểm
Công nghệ để đạt mức chi phí thấp là tốn kém, rủi ro.Công ty mới có thể
áp dụng các công nghệ mới với chi phí thấp hơn để tạo cho họ một lợi thế
cạnh tranh chi phí so với các công nghệ mà doanh nghiệp dùng đã trở nên lạc
hậu.
Sản phẩm dễ dàng bị bắt chước.Chi phí đầu tư không nhiều, sản phẩm
có sự khác biệt không lớn , do vậy khả năng những đối thủ cạnh tranh bắt
chước một cách dễ dàng các phương thức của doanh nghiệp là một mối de
doạ với chiến lược chi phí thấp.
Khi doanh nghiệp chuyên tâm vào giảm chi phí sản xuất, họ có thể
không chú ý đến thị hiếu và nhu cầu của khách hàng Họ có thể làm những
quyết định giảm chi phí nhưng lại tác động trầm trọng làm giảm chất lượng
sản phẩm .
2.1.2. Chiến lược khác biệt hóa
Là chiến lược mà theo đó doanh nghiệp tìm cách tạo ra lợi thế cạnh
tranh dựa trên tính đặc thù của sản phẩm cung cấp, được thị trường thừa
nhận và đánh giá cao.
Mục tiêu của chiến lược cố thỏa mãn nhu cầu khách hàng theo cách
thức mà các đối thủ cạnh tranh không thể làm với ý định sẽ đòi hỏi mức giá
tăng thêm và giành được lợi nhuận trên mức trung bình ngành.
Sử dụng chiến lược doanh nghiệp tập trung vào việc khác biệt hóa, tìm
cách tạo ra các sản phẩm ( hàng hóa hay dịch vụ ) mà được khách hàng nhận
thấy là độc đáo về một vài đặc tính quan trọng. Sự khác biết hóa về sản
phẩm có thể đạt được bằng ba cách: chất lượng, sự cải tiến và đáp ứng khách
hàng . Càng ít sự tương tự với các đối thủ công ty càng được bảo vệ trước sự
cạnh tranh và càng mở rộng sự hấp dẫn thị trường cho công ty.
7

Chính nhờ tạo sự khác biệt hóa ,doanh nghiệp có quyền định giá sản
phẩm của mình ở mức cao bởi họ đã tạo sự thoả mãn nhu cầu khách hàng
theo cách thức mà các đối thủ cạnh tranh không thể làm được. Doanh nghiệp
sẽ có thế để đòi hỏi mức giá tăng thêm, thu nhập tạo ra bằng cách yêu cầu
một mức giá tăng thêm cho phép doanh nghiệp làm tốt hơn các đối thủ cạnh
tranh của nó và giành được lợi nhuận trên mức trung bình ngành. Khách hàng
cũng sẵn lòng trả cho điều đó bởi họ tin vào chất lượng được khác biệt hóa
của sản phẩm .
Doanh nghiệp sử dụng chiến lược khác biệt hóa cần tập trung vào việc
phân đoạn thị trường của nó thành nhiều phân khúc khác nhau. Doanh nghiệp
cung cấp từng sản phẩm cho mỗi phân đoạn và sau đó phát triển trở thành
doanh nghiệp rộng rãi.
Việc phát triển khả năng khác biệt hóa để tạo ra lợi thế khác biệt chi phí
thường rất tốn kém. Tuy nhiên, sự tập trung vào chức năng nhất định không
có nghĩa là việc kiểm soát chi phí là không quan trọng với người khác biệt
hóa .Doanh nghiệp tạo khác biệt phải kiểm soát tất cả các chi phí để phát
hiện yếu tố nào đó không thực sự tác động tới lợi thế khác biệt hóa của nó,
chỉ có như vậy mới có thể làm cho giá của sản phẩm không vượt quá những
gì mà các khách hàng sẵn lòng trả.
 Ưu điểm
Sự trung thành của khách hàng với nhãn hiểu sản phẩm của doanh
nghiệp giúp doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh với các đối thủ trong ngành
lớn. Nó bảo vệ doanh về mọi mặt và bảo đảm cho công ty chống lại các đối
thủ cạnh tranh.
Công ty tạo khác biệt có khả năng thương lượng với nhà cung cấp là
mạnh, họ sẽ không cảm thấy khó khăn với nhà cung cấp quyền lực bởi vì
chiến lược của họ hướng tới việc đòi hỏi mức giá cao hơn chứ không phải
hướng về chi phí sản xuất. Như vậy người tạo khác biệt có thể chịu đựng
được việc tăng phần nào giá đầu vào .
Những người tạo khác biệt có khả năng thương lượng đối với khách
hàng cũng mạnh, họ dường như không cảm thấy có vấn đề với người mua,
8

bởi họ cung cấp cho người mua một sản phẩm độc đáo. Chỉ có nó mới có thể
cung cấp sản phẩm vì vậy nó cần có lòng trung thành nhãn hiệu. Những
người tạo khác biệt có thể chuyển sự tăng giá về phía khách hàng, bởi vì
khách hàng sẵn lòng trả mức giá tăng thêm.
Sự khác biệt và trung thành của khách hàng cũng tạo nên một rào cản
với các công ty khác cố thâm nhập ngành. Các công ty mới bị buộc phải phát
triển khả năng khác biệt hóa để có thể cạnh tranh và làm việc đó thì rất tốt
kém.
Sự đe doạ của các sản phẩm thay thế ít bới nó tuỳ thuộc khả năng đáp
ứng với nhu cầu của khách hàng mà các sản phẩm của đối thủ cạnh tranh tạo
ra so với các sản phẩm của doanh nghiệp và phá vỡ lòng trung thành nhãn
hiệu của khách hàng.
 Nhược điểm
Các vấn đề chính với một chiến lược tạo khác biệt là phải tập trung vào
khả năng dài hạn của công ty để duy trì tính khác biệt, độc đáo của sản phẩm
có thể nhận thấy được trong mắt của khách hàng. Các ưu thế của người đi
tiên phong cũng chỉ kéo dài đến khi chất lượng sản phẩm của tất cả các đối
thủ cạnh tranh nâng lên và sự trung thành nhãn hiệu giảm xuống.
Các đối thủ cạnh tranh đã vận động nhanh để bắt chước và sao chép một
cách thành công những người tạo khác biệt , khi đó họ khó có thể duy trì
mức giá tăng thêm. Khi sự khác biệt xuất phát từ thiết kế hay những đặc tính
vật lý của sản phẩm, những người tạo khác biệt có rủi ro lớn hơn vì dễ bị bắt
chước hơn. Khi sự khác biệt bắt nguồn từ chất lượng của sự phục vụ hay tin
cậy hoặc từ một nguồn vô hình nào đó như là sự bảo đảm ,uy tín … công ty
sẽ được bảo đảm nhiều hơn.
2.1.3. Chiến lược trọng tâm
Là chiến lược theo đó doanh nghiệp tìm cách tránh sự đối đầu trực tiếp
với các đối thủ để kiểm soát một “thị trường nhất định”
Sự khác biệt chủ yếu với hai chiến lược trên là nó hướng trực tiếp vào
phục vụ nhu cầu của nhóm hay phân đoạn khách hàng hạn chế. Sau khi đã
9

chọn một phân đoạn thị trường, có thể tiếp tạo sự khác biệt theo hướng chi
phí thấp hoặc khác biệt hóa.
Doanh nghiệp tập trung dường như phát triển một cách thành công về
chất lượng sản phẩm bởi vì những hiểu biết sâu sắc của họ về một nhóm nhỏ
khách hàng hay vùng. Hơn nữa, sự tập trung vào một phạm vi nhỏ của các
sản phẩm đôi khi cho phép phát triển sự cải tiến nhanh hơn một nhà khác
biệt rộng rãi có thể làm.
Những doanh nghiệp tập trung không cố gắng phục vụ tất cả các thị
trường mà chỉ tập trung phục vụ phân khúc mục tiêu, bởi vì làm như vậy sẽ
tránh được đối đầu trực tiếp với các nhà khác biệt rộng rãi. Thay vì điều đó,
họ thường hướng vào tạo dựng thị phần trên chỉ một phân đoạn cụ thể có thể
xác định về phương diện địa lý, loại khách hàng, hay bới phân đoạn của
tuyến sản phẩm.
 Ưu điểm
Khả năng cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ độc đáo, đặc biệt mà các đối
thủ cạnh tranh khác không thể làm được. Tuy nhiên ,doanh nghiệp vẫn phải
tự bảo vệ trước các đối thủ sao cho có thể liên tục cung cấp các sản phẩm hay
dịch vụ còn đối thủ của nó thì không thể làm như vậy. Khả năng này cũng
giúp cho người theo chiến lược tập trung có quyền lực với người mua, bởi vì
họ không thể nhận những thứ như vậy từ bất kỳ ai khác.
Doanh nghiệp là người hiểu rõ phân khúc mà mình phục vụ nhất, luôn
tập trung để đạt hiệu quả, chất lượng, sự cải tiến nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu
khách hàng.
 Nhược điểm
Với những nhà cung cấp có sức mạnh, doanh nghiệp ở vào thế bất lợi ,
bởi vì khối lượng mua của nó rất nhỏ, lúc đó sức mạnh thuộc về nhà cung
cấp. Mặc dù vậy, trong chừng mực nhất định những người mua trung thành
của công ty sẽ sẵn lòng chấp nhận sự dịch chuyển chi phí tăng thêm ở đầu
vào sang giá, bất lợi này vì thế không phải điều gì đó đáng kể.
10

Doanh nghiệp chỉ sản xuất khối lượng nhỏ nên chi phí sản xuất của nó
thường cao hơn chi phí sản xuất của các doanh nghiệp có chi phí thấp. Chi
phí cao hơn có thể làm giảm hẳn khả năng sinh lợi khi doanh nghiệp buộc
phải đầu tư mạnh vào việc phát triển một khả năng khác biệt hóa để cạnh
tranh với các công ty khác biệt.
Các khe hở tập trung có thể đột ngột mất do sự thay đổi công nghệ hay
sự thay đổi sở thích của khách hàng. Không giống như các doanh nghiệp
khác biệt rộng rãi, công ty không thể dịch chuuyển một cách dễ dàng tới các
khe hở mới chính bởi sự tập trung các nguồn lực và năng lực cạnh tranh của
nó vào một hay vài khe hở.
2.2. Chiến lược kinh doanh cấp công ty
2.2.1. Chiến lược đa quốc gia ( Multidomestic Strategy)
Công ty đa quốc gia áp dụng chiến lược quốc tế cố gắng tạo giá trị
bằng cách chuyển kỹ năng và sản phẩm có giá trị sang thị trường nước ngoài
nơi mà đối thủ cạnh tranh thiếu kỹ năng và những sản phẩm đó.
Hầu hết công ty quốc tế tạo giá trị bằng cách chuyển sản phẩm đề nghị
phát triển ở nhà sang thị trường mới. Họ tập trung chức năng phát triển sản
phẩm ở nhà (R&D). Tuy nhiên, họ cũng có xu hướng thành lập chức năng
chế tạo và marketing trong mỗi quốc gia chủ yếu mà họ kinh doanh. Trong
khi đó thực hiện biến đổi sản phẩm theo địa phương và chiến lược marketing
bị giới hạn. Đồng thời văn phòng chính duy trì kiểm soát chặt chẽ chiến lược
Marketing và sản phẩm ở hầu hết các công ty quốc tế.
 Ưu điểm
Chiến lược truyền thống có ý nghĩa nếu một công ty có giá trị mà các
đối thủ nước ngoài thiếu .
Nếu công ty đối mặt với áp lực yếu đối với yêu cầu của địa phương và
giảm chi phí chiến lược quốc tế rất có giá trị.
 Nhược điểm
11

Công ty áp dụng chiến lược này thiếu đáp ứng yêu cầu địa phương và
không có khả năng nhận ra kinh tế địa phương
Theo sự hình thành một cơ sở tương tự, công ty áp dụng chiến lược
quốc tế chịu chi phí hoạt động cao. Điều này làm cho chiến lược không thích
hợp trong ngành công nghiệp mà áp lực chi phí cao.
2.2.2. Chiến lược quốc tế ( International Stragegy)
Là chiến lược điều chỉnh sản phẩm và chiến lược marketing ở mỗi thị
trường quốc gia cho phù hợp với sở thích và điều kiện của mỗi địa phương.
Để thực hiện chiến lược đa nội địa, các công ty thường thành lập các cơ sở
độc lập lớn ở các quốc gia khác nhau.
Một chiến lược đa nội địa sẽ có ý nghĩa nhất khi mà có nhiều sức ép
về sự đáp ứng nội địa và ít sức ép về việc cắt giảm chi phí. Cấu trúc chi phí
cao kết hợp với sự gia tăng gấp 3 lần thiết bị sản xuất đã làm cho chiến lược
này không thích hợp trong các ngành công nghiệp mà sức ép về chi phí là
khắc nghiệt. Một sự kết hợp yếu kém khác với chiến lược này là một vài công
ty đa nội địa đã phát triển trong sự phân quyền của các liên bang mà trong đó
mỗi quốc gia có một chức năng phụ trợ trong một lãnh thổ tự trị lớn. Khi sự
thay đổi về môi trường giữa các quốc gia càng lớn, chiến lược đa nội địa của
công ty là một tập hợp các chiến lược cạnh tranh ở từng quốc gia cụ thể.
Các chiến lược đa nội địa thường thích hợp với các công ty trong các
ngành mà sở thích của người tiêu dùng là không giống nhau ở các quốc gia,
chẳng hạn như các sản phẩm thực phẩm và một số phương tiện thông tin. Kết
quả là, họ thường thất bại trong việc đạt được lợi ích của đường cong kinh
nghiệm và tính kinh tế của địa điểm. Vì thế, nhiều công ty đa quốc gia có cơ
cấu chi phí cao thường có xu hướng thực hiện không tốt tác dụng đòn bẩy của
khả năng vượt trội trong công ty.
 Ưu điểm
Doanh nghiệp có khả năng đáp ứng được yêu cầu địa phương. Chiến
lược này cho phép các công ty nghiên cứu kỹ sở thích của người tiêu dùng ở
thị trường các quốc gia khác nhau, đáp ứng nhanh chóng và có hiệu quả các sở
12

thích mới của người tiêu dùng. Kết quả mà các công ty mong đợi khi đưa ra
những sản phẩm mới là người tiêu dùng sẽ nhận biết được giá trị cao hơn so
với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh, cho phép công ty theo chiến lược đa nội
địa được định giá cao hơn và giành được thị phần lớn hơn.
 Nhược điểm
Doanh nghiệp sử dụng chiến lược này không khai thác lợi ích kinh tế
địa phương của qui mô trong việc phát triển, sản xuất hay marketing sản
phẩm được.
Thông thường một chiến lược đa nội địa làm tăng chi phí cho các công
ty quốc tế và buộc các công ty này phải định giá bán cao hơn để thu hồi
những chi phí đó. Do đó, chiến lược đa nội địa thường không thích hợp với
các ngành mà công cụ cạnh tranh bằng giá cả.
Khi quyết định thực hiện chiến lược này, định hướng chủ yếu của các
công ty là đáp ứng các điều kiện môi trường của từng quốc gia thị trường, vì
vậy sản phẩm của doanh nghiệp thiếu đáp ứng nhu cầu địa phương
2.2.3. Chiến lược toàn cầu ( Global Strategy)
Là chiến lược tung ra các sản phẩm giống nhau và sử dụng cùng một
chiến lược marketing ở tất cả các thị trường quốc gia.
Các công ty theo đuổi chiến lược toàn cầu sẽ tập trung việc gia tăng lợi
nhuận bằng việc cắt giảm chi phí để đạt được lợi ích kinh tế của đường cong
kinh nghiệm. Họ theo đuổi chiến lược hạ thấp chi phí. Sản xuất, marketing và
các hoạt động R&D của công ty theo đuổi chiến lược toàn cầu sẽ tập trung
vào một vài địa điểm thuận lợi. Các công ty toàn cầu sẽ không hướng đến
việc đáp ứng các yêu cầu của từng bộ phận khách hàng trong việc cung cấp
sản phẩm và chiến lược marketing bởi vì chi phí cho việc cá biệt hóa sản
phẩm cao. Thay vì vậy, các công ty toàn cầu hướng đến việc đưa ra thị
trường các sản phẩm tiêu chuẩn hóa trên toàn cầu. Vì vậy họ có thể thu hoạch
được tối đa lợi ích từ quy mô. Họ cũng đồng thời hướng đến việc sử dụng các
lợi thế về chi phí để hỗ trợ cho việc công kích giá trên thị trường thế giới.
 Ưu điểm

Thứ Hai, 17 tháng 3, 2014

Tài liệu TUBERCULOSIS - A Manual for Medical Students ppt


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tài liệu TUBERCULOSIS - A Manual for Medical Students ppt": http://123doc.vn/document/1037712-tai-lieu-tuberculosis-a-manual-for-medical-students-ppt.htm


ACKNOWLEDGEMENTS
This manual would not have been possible without the comments and suggestions
of colleagues with considerable experience as educators and managers of National
Tuberculosis Programmes.
We would particularly like to thank the following people for their contribution:
Professor Elisabeth Aka Danguy
Professor Oumou Younoussa Bah-Sow
Professor Fadila Boulahbal
Professor Anissa Bouhadef
Professor Pierre Chaulet
Dr Christopher Dye
Professor Martin Gninafon
Professor Abdoul Almamy Hane
Professor Ghali Iraki
Professor Bah Keita
Dr Salah-Eddine Ottmani
Dr Hans L. Rieder
TUBERCULOSIS A MANUAL FOR MEDICAL STUDENTS
v
CONTENTS
Introduction . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 1
Chapter 1: The basic science of tuberculosis . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 3

Transmission of the tubercle bacillus in humans and the immune
response . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 3

Tuberculosis bacteriology . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 13

Tuberculosis histology . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 27
Chapter 2: Tuberculosis in the individual patient . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 35

Pulmonary tuberculosis in adults . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 35

Extrapulmonary tuberculosis . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 45

Specific aspects of childhood tuberculosis . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 55

Tuberculosis and HIV infection . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 63

Treatment . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 67

Prevention . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 83
Chapter 3: Tuberculosis as it affects the community . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 91

Epidemiology of tuberculosis . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 91

National Tuberculosis Programme principles . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 103

Organization of treatment . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 111

Organization of case-finding . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 125

Prevention of tuberculosis and tuberculous infection . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 131

Evaluation of a National Tuberculosis Programme . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 135
Conclusion . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 141
TUBERCULOSIS A MANUAL FOR MEDICAL STUDENTS
vii
TUBERCULOSIS A MANUAL FOR MEDICAL STUDENTS
CHAPTER 1
THE BASIC SCIENCE OF TUBERCULOSIS
TRANSMISSION OF THE TUBERCLE BACILLUS IN HUMANS AND
THE IMMUNE RESPONSE
Tuberculosis is a bacterial disease spread from one person to another principally by
airborne transmission.The causal agent is Mycobacterium tuberculosis (the tubercle
bacillus).
In a small proportion of cases, the bacillus is transmitted to humans from infected
cows through drinking non-sterilized milk.This mode of transmission plays only a
minor role in the natural history of the disease in humans.
Tuberculosis can affect any organ in the body. Pulmonary tuberculosis is the most
frequent site of involvement; extrapulmonary tuberculosis is less frequent. Only
pulmonary tuberculosis is infectious.
The natural history of tuberculosis
❏ Sources of infection
The main reservoir of M. tuberculosis is the patient with pulmonary tuberculosis.
Such patients may have pulmonary “cavities” that are rich in bacilli (100 million
bacilli in a cavity of approximately 2cm in diameter).
The diagnosis of pulmonary tuberculosis is straightforward in such patients, as they
almost always have chronic respiratory symptoms such as cough and sputum
production.
The definitive diagnosis is simple when the patient has large numbers of bacilli in
the sputum (more than 5000 bacilli/ml), as these can be seen on microscopic
examination of a sputum smear; these patients are termed “smear-positive”.
Practical point:
Patients with cavitary pulmonary tuberculosis are almost always “smear-
positive”, and are the main source of infection in the transmission of
tuberculosis.
❏ Exposure and primary infection
When patients with pulmonary tuberculosis speak, and particularly when they
cough or sneeze, they produce an aerosol of droplets from the bronchial tree, each
of which contains a number of bacilli: these droplets are infectious.
3
The number of infectious droplets projected into the atmosphere by a patient
is very high when coughing (3500) or sneezing (1 million).When they come
into contact with the air these droplets rapidly dry and become very light
particles, still containing live bacilli, that remain suspended in the air. In an
enclosed space, the droplets can remain suspended for a long time, and
the bacilli remain alive for several hours in the dark: these are “infectious
particles”.
As direct sunlight rapidly destroys the bacilli, letting air and sunshine into rooms
where tuberculosis patients live can reduce the risk of infection for those living in
contact with them.
When people live or sleep near a patient, they are at risk of inhaling infectious
particles. When a person inhales infectious particles, the large particles, are
deposited on the mucous of the nasopharynx or the tracheo-bronchial tree and are
expelled by mucociliary clearance.The smallest particles, less than a few microns in
diameter, can penetrate to the alveoli.
The closer and the more prolonged the contact with an infectious patient, the
greater the risk of infection, as this risk is linked to the density of the bacilli in the
air the individual breathes and the amount of the air inhaled.As a result, children
living in the same household as a source of infection are at a particular risk of
becoming infected.
TUBERCULOSIS A MANUAL FOR MEDICAL STUDENTS
CHAPTER I
4
Practical point:
Two essential factors determine the risk of transmission of tubercle bacilli to a
healthy subject: the concentration of the infecting droplets suspended in the air,
and the period of time during which the exposed individual breathes this
contaminated air.
When a few virulent tubercle bacilli penetrate into the pulmonary alveoli of a
healthy person, they are phagocytosed by the alveolar macrophages, in which they
multiply. Other macrophages and monocytes are attracted, and participate in the
process of defence against infection.The resulting “infectious focus”, made up of
the inflammatory cells, is referred to as a primary focus.The bacilli and the
antigens that they liberate are drained by the macrophages through the lymphatic
system to the nearest lymph node. Inside the lymph node, the T lymphocytes
identify the M. tuberculosis antigens and are transformed into specific T
lymphocytes, leading to liberation of lymphokines and activation of macrophages
that inhibit the growth of the phagocytosed bacilli.The inflammatory tissue formed
in the primary focus is replaced by fibrous scar tissue in which the macrophages
containing bacilli are isolated and die.
This primary focus is the site of tuberculosis-specific caseating necrosis.This focus
contains 1000–10000 bacilli which gradually lose their viability and multiply more
and more slowly. Some bacilli can survive for months or years: these are known as
“latent bacilli”.
The same evolution occurs in the lymph node, leading to the formation of caseating
lymph nodes that resolve spontaneously in the majority of cases towards fibrosis,
followed by calcification.
Animal experiments have shown that 2 to 3 weeks on average after experimental
infection, humoral and cell-mediated immunity (delayed-type hypersensitivity)
occur simultaneously.
Delayed-type hypersensitivity is demonstrated by tuberculin skin testing.
Tuberculin, which is prepared from metabolic products of M. tuberculosis, contains
no live bacilli but consists of antigens related to the bacilli.When a tuberculin
injection is given to a person who is already infected with M. tuberculosisis,the
patient develops a delayed-type hypersensitivity reaction.This appears after 48
hours as a local inflammatory reaction due to the concentration of lymphocytes at
the site of injection.
This reaction, called the “tuberculin reaction”, can be observed and measured
(Appendix 1).A person who has never been infected does not develop a delayed-
type hypersensitivity reaction, and there is no significant reaction to tuberculin.
All of these clinical and immunological phenomena observed after infection of a
healthy individual constitute primary tuberculous infection.They furnish the
individual with a certain level of immunity.
In most cases primary tuberculous infection is asymptomatic and goes unnoticed.
Its presence is indicated by tuberculin conversion: the tuberculin skin test reaction
of an individual who previously had no significant reaction becomes significant in
size 6 to 12 weeks after infection.Tuberculin conversion is the proof of recent
infection and reflects the resulting immunity.
TUBERCULOSIS A MANUAL FOR MEDICAL STUDENTS
CHAPTER I
5
Practical point:
Infection of a healthy individual by the tubercle bacillus, or primary infection, is
indicated by the appearance of a delayed-type hypersensitivity reaction to
tuberculin caused by cell-mediated immunity occurring more than one month
after first exposure to M. tuberculosis.
❏ Development of secondary foci
Before immunity is established, bacilli from the primary infectious focus or from
the nearest lymph node are transported and disseminated throughout the body by
the lymph system and then via the bloodstream. Secondary foci containing a
limited number of bacilli are thus constituted, particularly in the lymph nodes,
serous membranes, meninges, bones, liver, kidneys and lungs. As soon as an
immune response is mounted most of these foci spontaneously resolve. However, a
number of bacilli may remain latent in the secondary foci for months or even
years.
Different factors that can reduce the organism’s system of defence can lead to
reactivation of the bacilli and their multiplication in one or more of these foci.This
reactivation is the cause of clinical disease at extrapulmonary sites and of a
proportion of cases of pulmonary tuberculosis — those due to endogenous
reactivation. Extrapulmonary tuberculosis and the infrequent generalized
tuberculosis (miliary with or without meningitis) do not constitute sources of
infection.
❏ Pulmonary tuberculosis
Pulmonary tuberculosis occurs in a previously infected individual when there are
large quantities of bacilli and/or when there is immune deficiency, by one of the
three following mechanisms:

infrequently, by progression of the primary focus during primary infection;

by endogenous reactivation of bacilli that have remained latent after primary
infection. In the absence of treatment and of immune deficiency, this risk is
estimated at 5–10% in the 10 years following primary infection, and 5% for the
remainder of the individual’s life-time;

by exogenous re-infection: the bacilli causing these cases come from a new
infection in a previously infected person.
The mechanism that comes into play depends on the density of the sources of
infection (particularly smear-positive cases) in a community: in a country where the
number of sources of infection is high, exogenous re-infection is more common; in
countries where sources of infection are less frequent, endogenous reactivation is
the most frequent cause of post-primary pulmonary tuberculosis.
Whichever mechanism is responsible, the immune reaction to primary infection is
insufficient to prevent the multiplication of bacilli in a focus, which can then
become the site of caseating necrosis. The resulting liquefaction and evacuation of
caseous material via the bronchi leads to the formation of a cavity in the lung.
❏ Evolution of the disease and cycle of transmission
The natural evolution of pulmonary tuberculosis in the absence of treatment
explains how the disease perpetuates itself: 30% of patients are spontaneously
cured by the body’s defence mechanisms, 50% die within 5 years, and 20%
continue to excrete bacilli and remain sources of infection for many years before
dying.
Patients with extrapulmonary tuberculosis will either die or reach spontaneous
cure, at times with crippling sequelae.
TUBERCULOSIS A MANUAL FOR MEDICAL STUDENTS
CHAPTER I
6
Practical point:
Individuals infected with the tubercle bacillus can develop tuberculosis disease
at any time. Cases of pulmonary tuberculosis are highly contagious when they
are smear-positive and represent potent sources of infection, thus completing
the cycle of transmission.
❏ Factors that modify the natural history of tuberculosis
The natural history of the disease explains how it perpetuates itself: a smear-
positive patient who is not treated can infect approximately 10 individuals per year,
for an average duration of infectiousness of 2 years, before becoming non-
infectious (due to spontaneous cure or death).A smear-positive patient can infect
20 people during his/her lifetime and create two new cases of tuberculosis, at least
one of which will be infectious. As long as at least one new case of tuberculosis is
created by each existing case, the disease is maintained in the community.
For an individual, the likelihood of getting the disease is directly related to the
likelihood of becoming infected and the efficiency of the body’s immune
defence.The natural history of the disease can thus be modified by a number of
factors.

Factors that increase the likelihood of becoming infected
Factors that increase the risk of infection in a non-infected individual:
These are factors that increase the rate of transmission due to increases in the
intensity and/or duration of exposure.Transmission typically occurs within the
household of the patient with tuberculosis. It may be enhanced by overcrowding, in
buildings that are poorly ventilated.This type of overcrowding occurs in the most
underprivileged population groups: impoverished families living in crowded
dwellings, prisoners, migrant workers accommodated in collective dormitories, or
refugee or displaced populations living in inadequate conditions. These conditions
are often associated with delays in diagnosis of patients with tuberculosis,
increasing the length of time that their families are exposed to the bacilli.
Factors that accelerate progression from infection to disease:
These are factors that are likely to reduce the efficiency of the body’s means of
defence: malnutrition, conditions leading to immune deficiency such as HIV
infection, diabetes, or long-term treatment with corticosteroids or
immunosuppressive medications.
Among these risk factors, HIV infection plays a major role: it increases the
probability of progression from infection to disease, and it increases the risk of
reactivation of old tuberculosis. The risk of an HIV-positive subject developing
tuberculosis disease is 5–8% per year.
TUBERCULOSIS A MANUAL FOR MEDICAL STUDENTS
CHAPTER I
7
Practical point:
The cumulative risk of tuberculosis disease is around 50% in the lifetime of an
HIV-positive individual, whereas it is around 5–10% in non-HIV-infected
individuals.

Factors that reduce the likelihood of becoming infected
These are factors that interrupt the chain of transmission:

Chủ Nhật, 16 tháng 3, 2014

Tài liệu Déjà Vu All Over Again: The Causes of U.S. Commercial Bank Failures This Time Around* docx


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tài liệu Déjà Vu All Over Again: The Causes of U.S. Commercial Bank Failures This Time Around* docx": http://123doc.vn/document/1038833-tai-lieu-deja-vu-all-over-again-the-causes-of-u-s-commercial-bank-failures-this-time-around-docx.htm



5
the bottom ranks of banks when measured by Tier 1 capital
9
For our purposes, Torna’s study is different from ours in at least four important respects:
First, his study focuses on the distinction between “traditional” and “modern” banking activities,
but doesn’t explore the finer detail among “traditional” banking activities, such as types of loans,
which is a central feature of our study. Second, his study looks back for only a year to find the
determinants of healthy banks’ becoming troubled and troubled banks’ failing, whereas we look
back as far as five years prior to the failures. Third, by including only troubled banks among the
candidates for failure (which is consistent with the one-year look-back period), his study is
limited in its ability to consider longer and broader influences, whereas all commercial banks are
included in our analysis. Fourth, a ranking based only upon capital ignores five of the six
CAMELS components and likely seriously misclassifies “problem banks.” For all of these
reasons, we do not consider Torna’s study to be a close substitute for ours.
) and what causes a troubled bank to
fail (i.e., to become insolvent and have a receivership declared by the FDIC), based on quarterly
identifications of troubled banks and failures from Q4-2007 through Q3-2009. Torna employs
proportional hazard and conditional logit analyses and uses quarterly FDIC Call Report data for a
year prior to the quarterly identification. Torna finds that the influences on a healthy bank’s
becoming troubled are somewhat different from those that cause a troubled bank to fail.
The second point that we wish to make in this section concerns the studies of the bank
and thrift failures of the 1980s and early 1990s – e.g., Cole and Fenn (2008) for commercial

9
Torna (2010) cannot directly identify the banks that are on the FDIC’s “troubled banks” list
each quarter because the FDIC releases the total number of troubled banks, but keeps their
identities confidential. As an estimate of those identities, Torna considers “troubled banks”
specifically to be the number of banks at the bottom of the Tier 1 capital ranking that is equal to
the number of banks that are on the FDIC’s “troubled banks” list for each quarter. Torna’s
method provides only a crude approximation to these identities because this method ignores all
but one of the CAMELS components that likely go into the FDIC’s determination of “troubled
bank” status.

6
banks and Cole, McKenzie, and White (1995) for thrift institutions – that show how commercial
real estate investments and construction lending have often proved to be significant influences on
depository institutions’ failures. In our current study, we find that construction loans continue to
be a harbinger of failure and that commercial real estate lending and multifamily mortgages, at
least for earlier years, are significantly associated with bank failures.

3. Model, Data, and Univariate Comparisons
3.1. Empirical Model.
In our empirical model of bank failure, the dependent variable FAIL is binary (fail or
survive), so that it would be inappropriate to use ordinary-least-squares regression (see Maddala
1983, pp. 15-16). Consequently, we turn to the multivariate logistic regression model, where we
assume that Failure*
i, 2009
is an unobservable index of the probability that bank i fails during
2009 and is a function of bank-specific characteristics x
t
, so that:
Failure*
i, 2009
= β’ X
i,2009-t
+ μ
i
, (1)
where X
i,2009-t
are a set of financial characteristics of bank i as of December 31
st
in the calendar
year that was t years before 2009, where t ranges from 1 to 5; β is a vector of parameter estimates
for the explanatory variables, μ
i
is a random disturbance term, i = 1, 2, . . . , N, where N is the
number of banks. Let FAIL
i, 2009
be an observable variable that is equal to one if Failure*
i, 2009
>
0 and zero if Failure*
i, 2009
≤ 0. In this particular application, FAIL
,i, 2009
is equal to one if a bank
fails during 2009 and zero otherwise. Since Failure*
i, 2009
is equal to β’ X
i,2009-t
+ μ
i
, the
probability that FAIL
i, 2009
> 0 is equal to the probability that β’ X
i,2009-ti
> 0, or, equivalently, the
probability that (μ
i
> - β’ X
i,2009-t
). Therefore, one can write the probability that FAIL
i, 2009
is
equal to one as the probability that (μ
it
> - β’ X
i,2009-t
) , or, equivalently, that Prob(FAIL
i, 2009
= 1)

7
= 1 - Φ (-β’ X
i,2009-t
), where Φ is the cumulative distribution function of ε, here assumed to be
logistic. The probability that FAIL
i, 2009
is equal to zero is then simply Φ (-β’ X
i,2009-t
). The
likelihood function L for this model is:
L = Π [Φ (-β’ X
i,2009-t
)] Π [1 - Φ (-β’ X
i,2009-t
)] ,
FAIL
i
= 0 FAIL
i
= 1
where:
Φ (-β’ X
i,2009-t
) = exp(-β’ X
i,2009-t
) / [1 - exp(-β’ X
i,2009-t
)] = 1 / [1 + exp(-β’ X
i,2009-t
)]
and
1 - Φ (-β’ X
i,2009-t
) = exp(-β’ X
i,2009-t
) / [1 +(-β’ X
i,2009-t
)] .
There were 117 commercial banks that failed during 2009; but, clearly, there are many
more banks that will fail during 2010 – 2012 from the same or similar underlying causes. To
ignore this latter group is to impose a form of right-hand censoring; but, of course, the identities
of the banks in this latter group could not be known as of year-end 2009. Rather than ignore
them, we estimate their identities as follows: We count as a “technical failure” any bank
reporting that the sum of equity plus loan loss reserves was less than half the value of its
nonperforming assets, or, more formally:
(Equity + Reserves – 0.5 x NPA) < 0 ,
where NPA equals the sum of loans past due 30-89 days and still accruing interest, loans past
due 90+ days and still accruing interest, nonaccrual loans, and foreclosed real estate. Our
“technical failure” is equivalent to book-value insolvency when a bank is forced to write off half
the value of its bad loans. There were 148 such banks as of year-end 2009.
10
Thus, we place
265 (117 + 148) in the FAIL category.
11

10
It is worth noting that of the 57 of the 74 commercial banks that failed during the first half of
2010 (77%) are members of our “technically failed” group.


8

3.2. Data and Explanatory Variables
The data that we use come from the FDIC Call Reports. Because the Call Reports for
thrifts are different from those used for commercial banks, and because thrifts operate under a
different charter and are usually focused in directions that are different from those of commercial
banks, we use only the commercial bank data.
12
Our explanatory variables are primarily the financial characteristics of the banks, drawn
from their balance sheets and their profit-and-loss statements as of the fourth quarters of 2008
and earlier years, that we believe are likely to influence the likelihood of a bank’s failing. In
almost all instances, the variables are expressed as a ratio with respect to the bank’s total assets.
The variable acronyms and full names are provided in Table 1. Our expectations for these
variables’ influences are as follows:

TE (Total Equity): Since equity is a buffer between the value of the bank’s assets and the value
of its liabilities, we expect TE to have a negative influence on the likelihood of failure.
LLR (Loan Loss Reserves): Since loan loss reserves represent a reduction in assets against
anticipated losses on specific assets (e.g., a loan), they provide a source of strength against
subsequent losses. Consequently, we expect LLR to have a negative influence on bank failures.
ROA (Return on Assets): This is, effectively, net income, which we expect to have a negative
influence on the likelihood of a bank’s failing.


11
However, in our logit regressions for 2008 and 2007, there are only 263 banks in the FAIL
category because two (of the 265 FAIL) banks were denovo start-ups in 2009 and, thus, filed no
financial data for 2008 or 2007.

12
We also exclude savings banks, even though they use the same Call Report forms as
commercial banks, because they too are usually focused in directions that are different from
those of commercial banks. Their inclusion does not qualitatively affect our results.

9
NPA (Non-performing Assets): Since non-performing assets are likely to be recognized as losses
in a subsequent period, we expect NPA to have a positive influence on the likelihood of a bank’s
failing.
SEC (Securities Held for Investment plus Securities Held for Sale): Securities (e.g., bonds) have
traditionally been considered to be safe, low-risk investments for banks – especially since banks
are prohibited from investing in “speculative” (i.e., “junk”) bonds. The subprime RMBS debacle
has shown that not all bonds that are rated as “investment grade” by the major credit rating
agencies will necessarily remain in that category for very long. Nevertheless, as a general matter
we expect this category (which includes the RMBS) to have a negative effect on a bank’s failing,
especially for smaller banks that generally refrained from purchasing the subprime-based
RMBS that proved so toxic.
BD (Brokered Deposits): These are deposits that are raised through national brokers rather than
from local customers. Although there is nothing inherently wrong with a bank’s deciding to
raise its funds in this way, brokered deposits have traditionally been seen as a way for a bank to
gather funds and grow quickly; and rapid growth has often been synonymous with risky growth.
Consequently, we expect this variable to have a positive effect on failure.
LNSIZE (Log of Bank Total Assets): Smaller banks, especially younger ones, are generally more
prone to failure than are larger banks. On the other hand, larger banks were more likely to have
invested in the toxic RMBS. Consequently, though this variable could well be important, it is
difficult to predict a priori the direction of the influence.
CASHDUE (Cash & Items Due from Other Banks): Since this represents a liquid stock of assets,
we expect it to have a negative effect on failure.

10
GOODWILL (Intangible Assets): For banks, this largely represents the undepreciated excess
over book value that a bank paid when acquiring another bank. Though it can represent
legitimate franchise value, it can often represent simply the overpayment in an acquisition. We
expect it to have a positive influence on a bank’s failing.
RER14 (Real Estate Residential Single-Family (1-4) Mortgages): Prior to the current crisis,
single-family
13
REMUL (Real Estate Multifamily Mortgages): Lending on commercial multifamily properties
has had a history of being troublesome for banks and other lenders (including Fannie Mae and
Freddie Mac); consequently, we expect it to have a positive influence on failing.
residential mortgages were generally considered to be safe, worthwhile loans for
banks; the failure of millions of subprime mortgages has thrown some doubt on this proposition.
Because most residential mortgages are not subprime, our general expectation is that RER14
would have a negative influence on a bank’s failing.
RECON (Real Estate Construction & Development Loans): This is a category of lending that
has been extraordinarily risky for banks in the past; we expect it to have a positive influence on
failure.
RECOM (Real Estate Nonfarm Nonresidential Mortgages): This is a category of commercial real
estate loans, such as office buildings, and retail malls that proved especially toxic during the
previous banking crisis. We expect it to be positively related to failure.
CI (Commercial & Industrial Loans): This is a category of lending in which commercial banks
are expected to have a comparative advantage. We expect it to have a negative influence on
failure.

13
Almost all U.S. housing statistics lump one-to-four residential units into the single-family
category.

11
CONS (Consumer Loans): This encompasses automobile loans, other consumer durables loans,
and credit card loans, as well as personal unsecured loans. Again, this is an area where banks
should have a comparative advantage. We expect a negative influence on failure.
14


3.3. Univariate Comparisons
Tables 2A – 2E provides the means and standard errors for all banks and separately for
the subsamples of surviving banks and failed banks, along with t-tests for statistically significant
differences in the means of the surviving and failing groups. Tables 2A – 2E provide descriptive
statistics for 2008, 2007, 2006, 2005, and 2004, respectively, so that we can see how the
differences in the two subsamples evolved over the five years prior to the 2009 failures.
In Table 2A are the univariate comparisons based upon year-end 2008 Call Report data.
Not surprisingly, during this period just prior to the 2009 failures, we see that the difference in
the means of virtually every variable is highly significant and with the expected sign. Among
the traditional CAMELS proxies, failing banks have significantly lower capital ratios (0.076 vs.
0.124), higher ratios of NPAs (0.126 vs. 0.026), lower earnings (-0.026 vs. 0.005), and fewer
liquid assets (0.045 vs. 0.062 for Cash & Due, 0.106 vs. 0.204 for Securities, and 0.172 vs. 0.043
for Brokered Deposits). Of course, this is not surprising, as regulators based their decisions to
close a bank largely upon the CAMELS rating of the bank, and that rating is closely proxied by
these variables (see Cornyn, Cole, and Gunther 1995).
More interesting are the loan portfolio variables, especially those that are related to real
estate. Failing banks have significantly higher allocations to commercial real estate of all

14
Other financial variables that we tried, but that generally failed to yield significant results,
included Trading Assets; Premises; Restructured Loans; Insider Loans; Home Equity Loans; and
Mortgage-Backed Securities (classified into a number of categories).

12
kinds—most notably to Construction & Development loans (0.232 vs. 0.070), but also to
Nonfarm Nonresidential Mortgages (0.226 vs. 0.164) and Multifamily Mortgages (0.029 vs.
0.014). In contrast, failing banks have significantly lower allocations to Residential Single-
Family Mortgages (0.104 vs. 0.143) and Consumer Loans (0.016 vs. 0.046).
In Table 2E are the univariate comparisons based upon 2004 data, which should reflect
the portfolio allocations that led to the shockingly high rates of NPAs and associated losses
reflected in ROA and Total Equity found in Table 2A. Surprisingly, the failed banks had higher
capital ratios than did the surviving banks back in 2004, although the difference is not
statistically significant. Asset quality as measured by NPAs was virtually identical at 0.014.
Profitability (ROA) was significantly lower for the failed banks (0.007 vs. 0.011) as was
liquidity (0.036 vs. 0.049 for Cash &Due, 0.140 vs. 0.240 for Securities, and 0.065 vs. 0.019 for
Brokered Deposits). However, once again, it is the loan portfolio variables that are most
interesting. Even five years before failure, the group of failed banks had much higher
concentrations of commercial real estate loans (0.171 vs. 0.051 for Construction/Development
Loans, 0.221 vs. 0.144 for Nonfarm Nonresidential Mortgages, and 0.029 vs. 0.012 for
Multifamily Mortgages) and much lower concentrations of Residential Single-Family Mortgages
(0.109 vs. 0.146) and Consumer Loans (0.031 vs. 0.059).
Table 3 provides a summary of significant differences in means across the five years
analyzed. As can be seen, most of the variables across the five time periods are consistently
associated (positively or negatively) with failures in 2009.
One point concerning the comparisons of the results using 2008 data with those that use
earlier years’ data – whether the simple comparisons of means that are discussed here or the
multivariate logit results that are discussed in Section 4 – should be stressed: To the extent that a

13
category of assets from an earlier year generates losses, those losses will reduce (via write-
downs) the magnitude of the assets (cet. par.) in that category in later years. Thus, if (say)
investments in construction loans in 2006 lead to large losses in 2008 and the eventual failure of
banks in 2009, then the regression involving 2006 data will capture the positive effect of
construction loans on bank failure; but the regression involving 2008 data may fail to find a
significant effect from construction loans, since the write-downs may be so substantial as to
make the importance of construction loans (as of 2008) appear to be relatively modest.

4. Logit Regression Results
In Table 4 are the results of a set of logistic regression models that provide the main
results of our study. In these models, the dependent variable is equal to one if a bank failed
during 2009 or was technically insolvent (as previously defined) as of year-end 2009; and is
equal to zero otherwise. The five pairs of columns present results that are based upon data (i.e.,
explanatory variables) from 2008, 2007, 2006, 2005, and 2004, respectively. The coefficients in
the table represent the marginal effect of a change in the relevant independent variable, when all
variables are evaluated at their means.
The results in the first pair of columns, which are based upon the financial data reported
just prior to failure, we find that the standard CAMELS proxies have the expected signs and are
highly significant. Lower capital as measured by equity to assets was associated with a higher
probability of failure, as was worse asset quality as measured by NPAs to assets, lower earnings
as measured by ROA, and worse liquidity as measured by Cash & Due to assets, Investment
Securities to assets, and Brokered Deposits to assets. These results closely follow the univariate
results presented in Panel A of Table 2. The loan portfolio variables indicate that failed banks

14
had significantly higher concentrations of Construction & Development loans and significantly
lower concentrations of Residential Single-Family Mortgages and Consumer Loans. Overall,
this model explains more than 60 percent of the variability in the dependent variable as measured
by the pseudo-R2 statistic (also known as McFadden’s LRI).
As we move back in time in the subsequent pairs of columns in Table 4, our explanatory
power falls off to only 20 percent for the results in the last pair of columns, which are based upon
2004 data, but we find that most of the explanatory variables that are significant for the 2008
data retain significance for the 2004 data—five years prior to the observed outcome of failure or
survival. Only the capital ratio loses significance. Moreover, the prominence of the real estate
loan variables rises as we go back in time, most notably the ratio of Construction &
Development Loans to total assets.
In Table 5, we present a summary of the results in Table 4. As can be seen, there are six
variables that are consistently significant for at least four of the five years prior to measurement
of our outcome of failure or survival. Two are standard CAMELS proxies: asset quality as
measured by the ratio of Nonperforming Assets to total assets, and earnings as measured by
ROA. Brokered deposits, as an indicator of rapid growth and likely a negative indicator of asset
quality and of management quality, has a clear negative influence. The remaining three are real-
estate loan portfolio variables that neatly summarize the underpinnings of not only this banking
crisis but also the underpinnings of the previous crisis during the 1980s: High allocations to
Construction & Development Loans, Nonfarm Nonresidential Mortgages (i.e., commercial real
estate), and Multifamily Mortgages are strongly associated with failure.
15

15
A potential issue of multicollinearity should be mentioned: If the variable Nonfarm
Nonresidential Mortgages is excluded from the regressions, most of the other variables retain the

Tài liệu Tòa án hình sự quốc tế - một thiết chế pháp lý bảo vệ các quyền con người (Tiếp theo kỳ trước) docx


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tài liệu Tòa án hình sự quốc tế - một thiết chế pháp lý bảo vệ các quyền con người (Tiếp theo kỳ trước) docx": http://123doc.vn/document/1039454-tai-lieu-toa-an-hinh-su-quoc-te-mot-thiet-che-phap-ly-bao-ve-cac-quyen-con-nguoi-tiep-theo-ky-truoc-docx.htm




Tòa án hình sự quốc tế - một
thiết chế pháp lý bảo vệ các
quyền con người
(Tiếp theo kỳ trước)
3. Một số vấn đề đặt ra từ việc nghiên cứu ICC và các quyền con
người
Việc bảo đảm và thúc đẩy CQCN là trách nhiệm của mỗi quốc gia.
Có thể nói rằng việc tham gia ICC là một trong những cách thức hữu
hiệu cho việc nhận thức CQCN, tạo điều kiện cho sự đảm bảo và thúc
đẩy CQCN. Là thành viên ICC thì quốc gia cần hoàn thiện hệ thống
pháp luật của mình cho phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của luật
pháp quốc tế. Do hoàn cảnh ở mỗi nước khác nhau nên cách tiếp cận về
CQCN ở mỗi quốc gia ít nhiều có sự khác nhau. Chính vì vậy nên sự
giao lưu, hợp tác về nhiều mặt, đặc biệt là sự đồng thuận trong các văn
bản pháp lý quốc tế đa phương như Quy chế Rome là yêu cầu cần thiết
và khách quan, tạo điều kiện cho CQCN được nhận thức và bảo vệ ở
bất kỳ đâu trên thế giới. Việt Nam có hàng triệu người đang lao động
và học tập tại nước ngoài, trong số này có cả những quốc gia có sự bất
ổn lớn về chính trị như Iraq. ICC là thiết chế có thể bảo đảm được
CQCN trong trường hợp họ trở thành nạn nhân của các tội phạm nguy
hiểm thuộc thẩm quyền tài phán nếu như Việt Nam tham gia Quy chế
Rome.
Từ việc nghiên cứu cơ chế bảo vệ CQCN của ICC trên các phương
diện khác nhau, theo chúng tôi, có một số vấn đề đặt ra cho Việt Nam
như sau:
3.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật và thể chế bảo vệ các quyền
con người
Không thể phủ nhận rằng những nguyên tắc được thừa nhận chung
trong các văn bản pháp lý quốc tế (công ước, hiệp ước, quy chế…)
chính là những thành tựu mà cộng đồng quốc tế đã đạt được bằng lịch
sử của chính mình. Những thành tựu này cũng chính là những chuẩn
mực quốc tế có giá trị tham khảo cho bất cứ quốc gia nào. Hiện nay cơ
hội đang mở ra cho các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia châu Á, trong
đó có Việt Nam, tham gia ICC. Khi tham gia ICC, năng lực tố tụng tư
pháp và hành chính tư pháp của quốc gia sẽ được tăng cường. Thông
qua việc ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Quy chế Rome,
chúng ta có thể hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nước, nội luật hoá
các chuẩn mực được quy định trong Quy chế Rome, những chuẩn mực
được thừa nhận rộng rãi và là thành tựu quan trọng của lịch sử pháp
luật quốc tế.
Trong giai đoạn xem xét gia nhập Quy chế Rome, Việt Nam phải
tiến hành nghiên cứu Quy chế hết sức kỹ lưỡng bởi có như vậy mới đưa
ra các kiến nghị, bổ sung, bãi bỏ hay ban hành một cách xác đáng
những văn bản quy phạm pháp luật bởi những sửa đổi, bổ sung cần
thiết lại nằm trong những văn bản pháp luật quan trọng và tương đối ổn
định như Bộ luật Hình sự (BLHS), Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS),
Luật Tương trợ tư pháp… Qua nghiên cứu so sánh Quy chế Rome với
hệ thống pháp luật cho thấy một số điểm hạn chế, không tương thích và
cần hoàn thiện để bảo vệ tốt hơn CQCN, mà cụ thể là:
- Theo Điều 20 Quy chế Rome quy định nguyên tắc công minh,
không xét xử hai lần đối với cùng một tội phạm, ICC không xét xử một
cá nhân phạm tội về những tội mà người đó đã bị một toà án khác kết
án hoặc tha bổng (trừ trường hợp vi phạm những thủ tục tố tụng được
pháp luật quốc tế thừa nhận) và toà án khác cũng không xét xử một cá
nhân phạm tội về những tội mà ICC đã kết án và tha bổng. Còn căn cứ
vào BLHS Việt Nam năm 1999 quy định không một người phạm tội
nào có thể chịu trách nhiệm hình sự hai lần về một tội phạm, khả năng
Tòa án Việt Nam xét xử những cá nhân phạm tội đã được ICC tha bổng
trước đó vẫn có thể xảy ra. Bởi vì, việc quy định tội danh, hình phạt
giữa pháp luật hình sự nước ta và Quy chế Rome không đồng nhất mặc
dù tính chất, mức độ hành vi phạm tội là như nhau.
- Về nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật, Điều 27 Quy chế Rome
giải thích, việc tiến hành các hành vi tố tụng áp dụng đối với tất cả cá
nhân bị coi là phạm tội mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử về địa
vị pháp lý, kể cả các cá nhân được hưởng quy chế miễn trừ ngoại giao.
Tuy nhiên, Điều 3, Điều 5, Điều 19 BLTTHS năm 2003, Điều 44 Luật
Tổ chức Hội đồng nhân dân năm 2003, Điều 58 Luật Tổ chức Quốc hội
năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2007) của Việt Nam lại có khác biệt.
Cụ thể, đối với đại biểu Quốc hội, “không có sự đồng ý của Quốc hội
và trong thời gian Quốc hội không họp, không có sự đồng ý của Uỷ ban
thường vụ Quốc hội thì không được bắt giam, truy tố đại biểu Quốc hội
và không được khám xét nơi ở và nơi làm việc của đại biểu Quốc hội”;
đối với đại biểu HĐND, “trong thời gian HĐND họp, nếu không được
sự đồng ý của chủ toạ kỳ họp thì không được bắt giữ đại biểu HĐND”.
- Có khá nhiều điểm khác biệt giữa pháp luật hình sự Việt Nam với
Quy chế Rome như vấn đề tội danh, loại và khung hình phạt, dẫn độ
công dân, thi hành án, thẩm quyền điều tra của công tố viên, bắt khẩn
cấp người phạm tội… Cũng có điểm khác biệt cơ bản giữa Quy chế
Rome và pháp luật hình sự Việt Nam về vấn đề cá thể hoá trách nhiệm
của người chỉ huy. Theo Điều 28 Quy chế Rome, người chỉ huy quân
sự, người làm việc như chỉ huy quân sự hoặc cấp trên vẫn phải chịu
trách nhiệm hình sự về các tội phạm thuộc quyền tài phán của ICC
ngay cả khi người này không phạm tội một cách độc lập hoặc với vai
trò đồng phạm. Trong khi đó, chế định đồng phạm và các tội về phá
hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh của BLHS
năm 1999 chỉ quy định trách nhiệm của người chỉ huy khi người đó
tham gia với tư cách độc lập hoặc với vai trò đồng phạm.
- Về quy định tội danh, Điều 5 Quy chế Rome quy định bốn loại tội
phạm thuộc quyền tài phán của ICC: tội diệt chủng, tội chống nhân
loại, tội phạm chiến tranh và tội xâm lược. Trừ tội xâm lược còn nhiều
quan điểm khác nhau về định nghĩa, còn lại các tội khác đã được định
nghĩa rõ ràng tại các Điều 6, 7, 8 của Quy chế. BLHS Việt Nam 1999
chưa quy định tội diệt chủng. Ngoài ra về nội dung cũng chưa bao quát
hết được các hành vi cụ thể được nhóm vào cùng một tội danh, chẳng
hạn Điều 7 Quy chế Rome quy định 11 hành vi cấu thành của tội chống
nhân loại, trong khi đó Điều 342 BLHS về tội chống loài người chỉ xác
định 3 hành vi trong cấu thành (diệt chủng, diệt sinh, diệt môi trường)
mà lại không đưa ra khái niệm cụ thể hơn cho từng hành vi này.
- Về bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự, Quy chế Rome
quy định quyền im lặng của bị can, bị cáo, người bị tình nghi khi bị
thẩm vấn, hỏi cung. Nghĩa là, họ có quyền không bắt buộc phải khai
báo và sự im lặng của họ không được xem xét theo hướng bất lợi cho
họ khi kết tội sau này tại phiên toà. Nếu các quy định trên bị vi phạm,
ICC hoàn toàn có quyền không chấp nhận các chứng cứ thu thập được
từ việc vi phạm. Không những thế, để tránh tình trạng lạm dụng quyền
lực cũng như để bảo vệ quyền con người, gần như tất cả các biện pháp
điều tra, cưỡng chế (bắt, triệu tập…) đều phải có sự phê chuẩn của Hội
đồng tiền xét xử ICC trên cơ sở đề nghị của công tố viên. Nhưng, pháp
luật tố tụng hình sự Việt Nam mới đang nghiên cứu xây dựng chế định
này.
- Về chứng cứ trong tố tụng hình sự, Quy chế Rome cho phép công
tố viên được đưa ra bằng chứng dưới hình thức ghi âm, ghi hình của
nhân chứng thông qua các phương tiện điện tử. Tuy nhiên, BLTTHS
Việt Nam lại quy định việc lấy lời khai của nhân chứng bắt buộc phải
bằng biên bản và khi cần thiết, toà án có thể triệu tập nhân chứng tham
gia phiên toà. Hơn nữa, pháp luật nước ta cũng chưa quy định việc ứng
dụng công nghệ trong các hoạt động tố tụng.
- Về tương trợ tư pháp: i) Một trong những nghĩa vụ của quốc gia
thành viên của ICC là hỗ trợ tư pháp về hình sự. Tuy nhiên cả BLTTHS
2003 và Luật Tương trợ tư pháp không có quy định nào về việc hợp tác
giữa Việt Nam với bất kỳ tòa án quốc tế nào, kể cả với ICC. Điều này
hạn chế Việt Nam trong việc tham gia bảo vệ công lý và CQCN ở tầm
quốc tế; ii) Điều 89 Quy chế Rome quy định khi có yêu cầu thì quốc
gia thành viên (hoặc quốc gia không phải thành viên nhưng có thỏa
thuận về hợp tác dẫn độ) dẫn độ người phạm tội cho ICC để truy tố, xét
xử. Trong khi đó cả BLTTHS, Luật Tương trợ tư pháp và Luật Quốc
tịch của Việt Nam đều không cho phép dẫn độ công dân Việt Nam cho
nước ngoài; iii) Điều 92 Quy chế Rome quy định ICC có thể yêu cầu
bắt khẩn cấp người phạm tội khi chưa có văn bản yêu cầu chính thức.
Tuy nhiên việc bắt khẩn cấp trong tương trợ tư pháp hình sự lại chưa
được quy định trong Luật Tương trợ tư pháp do e ngại vấn đề bồi
thường thiệt hại do bắt oan sai, do vậy cơ quan tiến hành tố tụng của
Việt Nam sẽ không có căn cứ pháp lý để thực hiện việc bắt khẩn cấp
theo yêu cầu của ICC.
Theo báo cáo của Bộ Tư pháp, năng lực hoạt động của các cơ quan
tư pháp Việt Nam chưa đáp ứng được các yêu cầu nêu trong Quy chế
Rome. Cơ chế phối hợp hoạt động giữa các cơ quan trong lĩnh vực hợp
tác và tương trợ tư pháp vẫn còn yếu kém và không chặt chẽ, hiệu quả
hoạt động chưa cao
1
.
Tham gia vào quá trình tố tụng của Việt Nam không chỉ có Tòa án,
mà còn các cơ quan khác như Viện kiểm sát thực hành chức năng công
tố; hệ thống cơ quan điều tra đặt tại một số cơ quan của Chính phủ có
nhiệm vụ cùng Viện kiểm sát thực hiện chức năng công tố tại giai đoạn
điều tra. Ngoài ra còn một số cơ quan bổ trợ tư pháp cũng tham gia quá
trình tố tụng như tổ chức luật sư, giám định. Trong khi đó, cơ cấu, tổ
chức và điều hành của ICC (Phần IV Quy chế Rome) quy định Tòa án,
ngoài Ban chánh án, Bộ phận phúc thẩm, Bộ phận sơ thẩm còn có Bộ
phận dự thẩm, Văn phòng công tố, Văn phòng lục sự. Cơ cấu tổ chức
này khác với cơ cấu các cơ quan tiến hành tố tụng của Việt Nam. Vấn
đề này có thể khắc phục được, vì bộ máy tư pháp của Nhà nước Việt
Nam đang trong tiến trình cải cách tư pháp, theo hướng chuyển Viện
Kiểm sát thành Viện công tố, tăng cường trách nhiệm của công tố trong
hoạt động điều tra; đổi mới tổ chức phiên tòa xét xử theo hướng đảm
bảo công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng
tại phiên tòa
2
, mà đích cuối cùng là bảo vệ và bảo đảm CQCN. Tuy
nhiên, tiến trình cải cách này cần phải có thời gian.
3.2. Tuyên truyền, giáo dục và đào tạo quyền con người
Chúng ta đang có trong tay món quà quý giá và nhân đạo do các
quốc gia trao tặng và cam kết thực hiện thông qua các văn bản pháp lý
quốc tế, đó là CQCN. Thật đáng tiếc khi mà hàng triệu con người trong
suốt cả cuộc đời không hề biết rằng mình là chủ nhân của những quyền
đó. Giáo dục nhân quyền là những hoạt động giảng dạy, tập huấn và
phổ biến thông tin về quyền con người, nhằm xây dựng một nền văn
hóa nhân quyền trong đó hướng tới: (i) Tăng cường sự tôn trọng các
quyền và tự do cơ bản của con người; (ii) Phát triển đầy đủ nhân phẩm
và ý thức về nhân phẩm của con người; iii) Thúc đẩy sự hiểu biết,
khoan dung, bình đẳng giới và tình hữu nghị giữa các quốc gia, các
nhóm dân tộc, chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ; (iv) Tạo điều kiện cho
tất cả mọi người tham gia một cách hiệu quả vào các hoạt động của xã
hội, và (v) Hỗ trợ các hoạt động của LHQ về duy trì hòa bình và an
ninh quốc tế
3
. Giáo dục quyền con người thông qua chuyển giao kiến
thức, xây dựng kỹ năng và hình thành quan điểm được coi là nền tảng
của một nền văn hóa đích thực về phòng ngừa
4
.
Là tổ chức quốc tế tiên phong trong hoạt động thúc đẩy và bảo vệ
nhân quyền, LHQ đặc biệt quan tâm đến vấn đề giáo dục nhân quyền,
xem đó như là một biện pháp cốt yếu và một chiến lược hiệu quả để
ngăn chặn các vi phạm nhân quyền cũng như để xây dựng các xã hội
bình đẳng, tự do và hòa bình
5
. Để phổ biến và vận động cho hoạt động
giáo dục nhân quyền trên toàn thế giới, Đại hội đồng LHQ đã thông
qua một Nghị quyết số 48/127 ngày 20/12/1993 (A/RES/48/127) quy
định lấy giai đoạn 1995-2004 là Thập kỷ giáo dục nhân quyền của Liên
hợp quốc
6
. Tiếp theo đó, từ 1994 đến 2003, Đại hội đồng LHQ còn
thông qua một loạt nghị quyết khác đề cập đến những vấn đề cụ thể
trong việc triển khai thực hiện Thập kỷ Giáo dục nhân quyền, bao gồm
các Nghị quyết A/RES/49/184, A/RES/50/173, A/RES/50/177,
A/RES/51/104, A/RES/52/127,A/RES/53/153,A/RES/54/161,
A/RES/55/94, A/RES/56/167, A/RES/57/212
7
.
Trong khoảng hai thập kỷ gần đây, giáo dục nhân quyền là vấn đề
thu hút sự quan tâm thường xuyên của cộng đồng quốc tế. Nhiều tổ
chức quốc tế, trong đó đặc biệt là LHQ và UNESCO, đã có những
chương trình hành động lớn và rộng khắp trên thế giới về vấn đề này. Ở
phạm vi quốc gia, giáo dục nhân quyền cũng đã trở thành một phần
trong chương trình giáo dục của nhiều nước, tuy có sự khác nhau về
phạm vi, mức độ và cách thức tổ chức hoạt động. Trên thực tế, giáo dục
nhân quyền, xét ở góc độ nhất định, từ lâu đã được thực hiện trong hệ
thống giáo dục quốc dân của Việt Nam, dưới hình thức giáo dục đạo
đức công dân. Gần đây, hoạt động giáo dục nhân quyền đã được tăng
cường thêm một bước, xét cả về nội dung và phạm vi tổ chức. Tương
tự như các quốc gia khác trên thế giới, giáo dục nhân quyền đã và đang
thực hiện ở cả trong và ngoài hệ thống nhà trường ở Việt Nam. Đây là
một tiền đề quan trọng cho việc thúc đẩy hoạt động giáo dục nhân
quyền ở Việt Nam trong thời gian tới
8
.
Lịch sử nhân loại, bối cảnh toàn cầu cho thấy việc nâng cao nhận
thức và trách nhiệm của cộng đồng thế giới đối với những hành vi đặc
biệt nguy hiểm xâm phạm đến những giá trị cao quý nhất của xã hội
văn minh - con người - là vấn đề mang tính cấp thiết. Để thực hiện
được điều này, ngoài các biện pháp về pháp luật và quản lý nhà nước,
giáo dục thông qua chương trình nghiên cứu, giảng dạy ở các trường
đại học luật, khoa luật, các trường đào tạo luật sư và thẩm phán là hết
sức cần thiết.
Nghiên cứu kết cấu chương trình đào tạo đại học
9
và sau đại học luật
tại Việt Nam cho thấy có thể đưa nội dung học về ICC và quyền con
người theo các phương án sau:
- Nội dung ICC và CQCN được ghi nhận ở một chương độc lập trong
giáo trình Luật Hình sự quốc tế. Hiện nay giáo trình Luật Hình sự quốc
tế đã có nhưng chưa có một chương độc lập về ICC và việc bảo vệ
CQCN;
- Nội dung ICC và việc bảo vệ CQCN được thể hiện trong một
chương độc lập của giáo trình giáo dục CQCN. Hiện nay giáo trình này
mới được thể hiện trên ý tưởng và đang được triển khai;
- Nội dung ICC và việc bảo vệ CQCN với tính chất là một môn học,
được biên soạn trong tập bài giảng hoặc có thể nâng lên thành một giáo
trình riêng;
- Nội dung ICC và việc bảo vệ CQCN được giảng dạy cho các sinh
viên đại học, học viên sau đại học chuyên ngành tư pháp hình sự với
tính chất là một chuyên đề.
Việc giáo dục CQCN theo các nội dung về ICC dù theo cách thức,
phương án nào cũng cần phải thể hiện được CQCN trong nội dung sau:
1) Tình hình bảo vệ hòa bình và an ninh quốc tế, trừng trị tội phạm
chiến tranh từ sau chiến tranh thế giới thứ hai; 2) Quá trình hình thành
ICC; 3) Mối quan hệ giữa ICC với các thiết chế bảo vệ hòa bình và an
ninh quốc tế; 4) Thẩm quyền tài phán đối với các loại tội phạm và thẩm
quyền theo thời gian của ICC; 5) Các nguyên tắc được quy định trong
Quy chế Rome và những điểm tương đồng với luật hình sự quốc gia; 6)
Điều kiện thực hiện quyền tài phán của ICC; 7) Thủ tục tố tụng: thông
báo tội phạm, thụ lý, điều tra, truy tố, xét xử, kháng cáo; 8) Thi hành
án.
Hoạt động nghiên cứu cũng như giáo dục về quyền con người ở
nước ta hiện còn nhiều hạn chế. Các nội dung về quyền đã được đưa
vào chương trình giáo dục phổ thông, tuy nhiên dung lượng còn ít, chủ
yếu trong môn học “Đạo đức” và “Giáo dục công dân”. Tại Khoa luật,
Đại học Quốc gia Hà Nội, môn học về nhân quyền mới được giảng
dạy có tính thí điểm để rút kinh nghiệm cho các sinh viên năm cuối
như một môn học chuyên ngành. Theo chúng tôi, việc giáo dục nhân
quyền là cần thiết cho tất cả các đối tượng trong cộng đồng, rất phù
hợp với truyền thống nhân đạo của dân tộc, sẽ phát triển nhanh chóng
và đem lại hiệu quả thiết thực cho xã hội nếu được chúng ta quan tâm
đúng mức
10
.
Ngoài hoạt động giáo dục trong hệ thống nhà trường, các hoạt động
giáo dục nhân quyền bên ngoài xã hội cũng đóng vai trò quan trọng
trong quá trình nâng cao nhận thức về nhân quyền cho các thành viên
của xã hội, bởi các lý do sau: 1) việc các hoạt động giáo dục bên ngoài
xã hội có tính chuyên nghiệp cao do được tiếp cận đa phương diện và
linh hoạt chứ không cứng nhắc như chương trình học trong trường; 2)
đối tượng giảng dạy là các chuyên gia trong và ngoài nước có nhiều
thực tiễn; 3) đối tượng được giáo dục đa dạng các thành phần, trong đó
có những nhóm rất quan trọng như quan chức nhà nước, cán bộ xã hội,
nhân viên của các tổ chức quốc tế, các đại biểu Quốc hội, đại biểu hội
đồng nhân dân, cán bộ an ninh, cán bộ quản lý trại giam, người làm
công tác xã hội; 4) có thể thực hiện đan xem với hoạt động giáo dục
nhân quyền trong hệ thống giáo dục quốc dân; 5) nội dung đa dạng và
mang tính thực tế hơn, bao gồm các vấn đề lý luận về quyền con người
nói chung, các tiêu chuẩn quốc tế và các quy định quốc gia về quyền
con người; 6) đa dạng về chủ thể tổ chức như các bộ ngành, tổ chức xã
hội, cơ sở đào tạo trên cơ sở tổ chức độc lập hoặc kết hợp với các nhà
tài trợ nước ngoài (các tổ chức quốc tế, các cơ quan viện trợ quốc gia,
các đại sứ quán các nước…); 7) tài liệu phong phú từ nhiều nguồn khác
nhau, thiết bị giảng dạy hiện đại do các nhà tài trợ cung cấp.
Tiến trình của một quốc gia đi đến việc tham gia Quy chế Rome
chính là quá trình tuyên truyền, giáo dục nhận thức và tầm quan trọng
của ICC đối với việc bảo vệ CQCN. Chính vì vậy, các hoạt động thúc
đẩy cho quá trình tham gia Quy chế Rome chính là việc củng cố ý chí
chính trị, cũng như giáo dục, tuyên truyền và đào tạo về CQCN. Những
hoạt động đó là:
- Nâng cao kiến thức và năng lực cho cán bộ công chức và các cơ
quan của Việt Nam trong lĩnh vực luật hình sự quốc tế cũng như về
ICC;
- Nghiên cứu quy chế Rome và phổ biến rộng rãi hơn về ICC trên
phạm vi cả nước thông qua việc đánh giá và giải thích các hướng dẫn
về Quy chế Rome;
- Tiếp tục phổ biến các ấn phẩm về ICC cho tất cả các đối tượng có
liên quan, kể cả các thành viên của Quốc hội, thẩm phán, kiểm sát viên,
cán bộ cảnh sát và quân đội, luật sư, quan chức chính phủ cấp trung
ương và địa phương;
- Ban hành văn bản pháp luật mới hoặc sửa đổi, bổ sung văn bản quy
phạm pháp luật hiện hành để tiến tới tham gia Quy chế Rome và tạo cơ
sở pháp lý cho việc hợp tác với ICC.
- Vận động hành lang với Chính phủ nhằm thuyết phục phê chuẩn
Quy chế Rome và nội luật hoá các quy định của Quy chế Rome vào hệ
thống pháp luật trong nước.
(1) Xem: Bộ Tư pháp, Báo cáo “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng
Luật Tương trợ tư pháp”, tháng 4/2006, tr. 50.
(2) Xem: Đỗ Ngọc Quang, Một số thuận lợi và thách thức đối với
Việt Nam gia nhập quy chế Rome trong bối cảnh hiện nay, Kỷ yếu hội
thảo khoa học. Nxb. Tư pháp. Hà Nội. 2007, tr.287.
(3)Nghị quyết A/52/469/Add.1 ngày 20/10/1997 của Đại hội đồng
LHQ, đoạn 11. Xem trong
http://www.unhchr.ch/huridocda/huridoca.nsf/(Symbol)/A.RES.48.127.
En?OpenDocument.
(4)Xem: Tìm hiểu về quyền con người (Tài liệu hướng dẫn về giáo
dục quyền con người). Chủ biên: Wolfgang Benedek (tài liệu dịch). Nxb
Tư pháp. Tr. 32.
(5) Pocket Guide on Basic Human Rights Instruments
(6) Human Rights - A Basic Handbook for UN Staff

Thứ Bảy, 15 tháng 3, 2014

Tài liệu 10 kiểu tóc đẹp của Scarlett Johansson pdf


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tài liệu 10 kiểu tóc đẹp của Scarlett Johansson pdf": http://123doc.vn/document/1040463-tai-lieu-10-kieu-toc-dep-cua-scarlett-johansson-pdf.htm


10 kiểu tóc đẹp của
Scarlett Johansson
Nhắc đến nữ diễn viên xinh đẹp Scarlett Johansson, người ta nghĩ ngay
đến một cô gái với mái tóc xoăn bồng bềnh và đôi môi đỏ mọng quyến
rũ. Nhưng cũng có khi Scarlett lại để tóc thẳng trông rất dễ thương.
Có thể nói, Scarlett Johansson là một người rất chịu khó "làm mới" bản thân
bằng cách thay đổi kiểu tóc. Sở hữu khuôn mặt bầu bĩnh với những đường
nét khá đẹp, vì thế Scarlett có thể dễ dàng hợp với mọi kiểu tóc, từ tóc ngắn,
cho đến tóc dài để thẳng hay tóc xoăn. Tuy nhiên, có một điều mà chúng ta
dễ dàng nhận thấy là nữ diễn viên xinh đẹp này không thích để tóc mái.

Một Scarlett Johansson quyến rũ, sang trọng với kiểu tóc
xoăn cổ điển

Nhưng khi để tóc thẳng, cô đào gợi cảm của Hollywood có
vẻ hiền, trẻ trung và xinh đẹp hơn

Ngoại trừ mái tóc màu bạch kim này, mặc dù rất dễ thương
nhưng nó không hợp với độ tuổi của Scarlett. Tuy nhiên,
nếu bạn bận trên người một chiếc vày xòe giống nh
ư búp bê
thì kiểu tóc này lại rất hợp


Nữ diễn viên Iron Man có vẻ rất yêu chuộng tóc xoăn và
son môi đỏ mỗi khi xuất hiện trên thảm đỏ


Dù là tóc lượn sóng hay tóc rối, cô nàng cũng thích chải
ngược phần tóc phía trước ra sau để lộ vầng trán rộng
bướng bỉnh

Kiểu tóc xoăn nhẹ ở dưới đuôi của Scarlett khiến cô xinh
đẹp và đáng yêu hơn. Màu tóc và màu son môi hồng tự
nhiên kết hợp với nhau khá ăn ý

hạch toán xác định kết quả kinh doanh


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "hạch toán xác định kết quả kinh doanh": http://123doc.vn/document/1041097-hach-toan-xac-dinh-ket-qua-kinh-doanh.htm


Kế toán pháp
Kết cấu của 7 loại TK nh sau:


Trong phạm vi KTQT:
Các TK sử dụng là TK loại 9.
Ghi chép vào những TK loại này theo những tiêu chuẩn riêng.
d. Cơ cấu thập phân của các TK.
STT từ 1 9 làm thành số đầu tiên của TK chúng dùng để chỉ loại TK.
Mỗi TK đợc chia thành các tiểu khoản, tiết khoản, số hiệu của TK chi tiết này bao giờ cũng
mở đầu bằng số hiệu đã chia ra nó.
Vị trí của từng chữ số trong toàn bộ số hiệu của TK có giá trị chỉ dẫn các nghiệp vụ đợc ghi
chép vào TK này
e. ý nghĩa của số 0 tận cùng.
Trong những TK có 2 chữ số, số 0 tận cùng dùng để phân tách nghiệp vụ.
Những TK có 3 chữ số trở lên thì số 0 tận cùng của TK có tác dụng nh là 1 TK tập hợp
hay TK tổng hợp đối với những TK cùng bậc với nó nhng có số tận cùng từ 1 8.
g. ý nghĩa của số 9 tận cùng.
Trong TK có 2 chữ số, các TK thuộc bảng CĐKT nếu có số 9 tận cùng chỉ ra đó là các TK
dự phòng giá TS.
Ví dụ: TK 29, 39, 49, 59.
5
TK TS Nợ (loại1)
DĐK
TS TS
DCK
TK TS có (loại 2, 3, 5)
DĐK
TS TS
DCK
TK thanh toán (loại 4)
DĐK (phản ánh số DĐK (số
phải thu đầu kỳ) phải trả ĐK)
Phải thu Phải trả
Phải trả Phải thu
DCK
TK CP (loại6)

Tập hợp CP phát Các khoản ghi CP
sinh trong kỳ Kết chuyển CP

sang TK 12


TK TN (loại7)

Các khoản ghi TN Tập hợp các khoản
Kết chuyển TN TN PS trong kỳ
sang TK 12


TK 12 (Kq

niên độ)
CP đ ợc KC sang TN đ ợc KC sang từ

từ TK loại 6 TK loại 7


CP TN

Lãi (nếu có) Lỗ (nếu có)


Cộng luỹ kế Cộng luỹ kế


Kế toán pháp
Đối với TK có 3 chữ số trở lên, nếu có số 9 tận cùng cho phép hạch toán các nghiệp vụ có
ND ngợc lại và các ND đã ghi trên TK cùng bậc có số tận cùng từ 1 8.
Ví dụ 1: TK 409 là TK có kết cấu ngợc với TK 401 408 (TK 401 408 luôn d có
còn TK 409 d nợ).
Ví dụ 2: TK 709 luôn có kết ngợc với TK 701 708 (TK 701 708 đợc ghi, đợc
ghi nợ, còn TK 709 thì ngợc lại).
III. Sổ Kế toán.
1. Sổ nhật ký.
a. Khái niệm.
Là sổ dùng để ghi hàng ngày các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo trình tự thời gian. Theo
luật thơng mại Pháp, các doanh nghiệp phải sử dụng sổ nhật ký, các trang sổ đợc đánh số liên
tục. Quá trình sử dụng sổ không đợc xé sổ, không đợc bỏ trống trên sổ, không đợc ghi ngoài
lề, không đợc tẩy xoá, gạch bỏ bằng cách cạo sửa hoặc tẩy hay bằng mực hoá học mà phải
chữa sổ theo phơng pháp quy định (nếu có sai sót).
Sổ nhật ký phải đợc lu giữ trong 10 năm kể từ ngày ghi chép nghiệp vụ cuối cùng.
b. Ph ơng pháp ghi sổ nhật ký.
- Dùng để ghi tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo trình tự thời gian.
- Mỗi TK đợc ghi 1 dòng vào sổ nhật ký.
- Các nghiệp vụ đợc ngăn cách nhau bởi ngày tháng phát sinh của nghiệp vụ và
số liệu của chứng từ gốc.
- Phần diễn giải các sổ nhật ký là phần giải thích cụ thể về nghiệp vụ kế toán.
Thông tin dùng để diễn giải lấy từ chứng từ.
- Cuối trang phải tiến hành cộng cột nợ và cột có và ghi Cộng mang sang ở
cuối trang. Sang trang sau số tổng cột ở cuối trang trớc đợc viết Cộng trang trớc.
6
Kế toán pháp
Sổ nhật ký
Số hiệu TK Diễn giải Số tiền
Ghi Nợ Ghi Có Ghi Nợ Ghi Có
Cộng
VD1:
Tại dn M trong tháng 1/N có một số nghiệp vụ kinh tế phát sinh sau đây:
1. Ngày 2.1.
Khách hàng thanh toán nợ cho dn =TGNH, số tiền 500.000 F chứng từ số
0123
2. Ngày 5.1.
Mua hàng hoá nhập kho theo giá cha thuế TVA 20.000 F, thuế TVA 18,6%.
Dn đã thanh toán cho nhà cung cấp = TGNH, séc chuyển tiền số 0567.
3. Ngày 20.1.
Dn đã thanh toán tiền quảng cáo 2.000 F.
điện thoại 5.000 F.
bằng TGNH (séc chuyển tiền số 0568).
Yêu cầu: Ghi nhật ký 3 nghiệp vụ trên.
H ớng dẫn:
NV1: Nợ TK 512 : 50.000
Có TK 411 : 50.000
NV2: Nợ TK 607 : 50.000
Nợ TK 4456 : 9.300
Có TK 512 : 59.300
NV3: Nợ TK 623 : 2.000
Nợ TK 626 : 5.000
Có TK 512 : 7.000
7
Kế toán pháp
Số hiệu TK
Diễn giải
Số tiền
Ghi Nợ Ghi Có Ghi Nợ Ghi Có
512
607
4456
623
626
411
512
512
Ngày 2.1.N, số CT: 0123
Ngân hàng
Khách hàng
(Khách hàng thanh toán nợ qua ngân hàng)
Ngày 5.1.N, số CT: 0567
Mua hàng hoá
Thuế TVA
Ngân hàng
(Mua h
2
nhập kho, TVA 18,6%, thanh toán =
TGBH)
Ngày 20.1.N, số CT: 0568
Quảng cáo
Tiền điện thoại
Ngân hàng
(Dn thanh toán tiền quảng cáo, tiền điện thoại =
TGNH).
50.000
50.000
9.300
2.000
5.000
50.000
59.300
7.000
Cộng 116.300 116.300
2. Sổ cái.
a. Khái niệm:
Là sổ phân loại các nghiệp vụ kinh tế đã đợc ghi trên sổ nhật ký theo từng TK. Sổ này
cần đợc thiết kế theo sổ quyển, sổ tờ rời, sổ có hình thức 2 bên hay 1 bên.
Ghi vào sổ cái trên cơ sở các thông tin đã ghi trên sổ nhật ký.
8
Kế toán pháp
Mẫu sổ cái:
Sổ cái
Tên TK: Số hiệu:
Ngày tháng TK đối ứng và diễn giải Trang sổ
nhật ký
Số tiền
Nợ Có
Số d đầu kỳ.
Số PS trong kỳ.
Cộng phát sinh:
SDCK (cộng cột):
Cộng luỹ kế CK:
b. Ph ơng pháp ghi sổ cái.
Ghi sổ cái đợc ghi định kỳ.
Ghi ngày tháng PS của nghiệp vụ.
Thông tin ghi sổ cái là sổ nhật ký. Sau khi ghi sổ cái phải đánh dấu vào sổ nhật ký để
phân biệt nghiệp vụ này đã đợc ghi vào sổ cái.
VD2:
Với tài liệu đã cho ở VD1. Giả sử TGNH đầu tháng 1 dn là 200.000 F.
Yêu cầu: Mở và ghi sổ cái TK tiền NH.
9
Kế toán pháp
Sổ cái
Tên TK: Ngân hàng, Số hiệu: 512
Ngày
tháng
TK đối ứng và diễn giải Trang sổ
nhật ký
Số tiền
Nợ có
1/1/N.
2/1/N.
5/1/N.
20/1/N
SDĐK
TK 411 khách hàng thanh toán.
TK 607 Mua hàng hoá nhập kho.
TK 4456 TVA đợc khấu trừ.
TK 623 CP quảng cáo.
TK 626 CP tiền điện thoại.
01
01
01
01
01
200.000
50.000
50.000
9.300
2.000
5.000
Cộng PS 50.000 66.300
D CK 183.700
Cộng luỹ kế 250.000 250.000
3. Bảng cân đối số phát sinh.
Cuối kỳ sau khi đã hoàn tất ghi sổ nhật ký vào sổ cái cho các TK, kế toán tiến hành
cộng sổ cái cho tất cả các TK. Tính d cuối kỳ trên các TK, số PS trong kỳ và số d cuối kỳ đợc
dùng làm căn cứ để lập bảng cân đối số PS.
Bảng cân đối số phát sinh
Tháng năm
Số hiệu
TK
Tên TK Số PS SDCK
Nợ Có Nợ Có
512 Ngân hàng 50.000 66.300 183.700
Cộng:
A A B B
Chú ý:
o Bảng CĐ số PS là bảng kiểm tra dùng để kiểm tra tính chính xác của việc ghi sổ KT
thông qu việc kiểm tra tính cân đối của các cặp số liệu trên bảng:
PS Nợ trong kỳ các TK = PS Có trong kỳ
d nợ CK các TK = d có
o Nếu tính CĐ của các cặp số liệu này không đợc duy trì thì nguyên nhân có thể là:
Định khoản sai
Tính d CK trên TK sai
Có sự nhầm lẫn hoặc sai sót trong quá trình đa số liệu vào bảng.
Cộng sai trên các cột.
o Tuy nhiên, bảng CĐ số PS không thể hiện đợc hết các sai sót trong quá trình ghi chép.
iv. báo cáo kế toán. (xem chơng VIII)
10
Kế toán pháp
11
Chứng từ gốc
Sổ nhật ký
Sổ cái
Bảng CĐ số PS
Báo cáo kế toán
Kế toán pháp
Chơng ii.
Kế toán tài sản bất động
I. Khái niệm và nghiệp vụ kế toán TSBĐ.
1. Khái niệm và phân loại.
a. Khái niệm:
TSBĐ là những t liệu lao động có giá trị lớn, thời gian sử dụng dài. Những t liệu lao
động này đợc xây dựng, mua sắm, sản xuất cho quá trình sản xuất kinh doanh trong doanh
nghiệp chứ không phải (phục vụ) cho mục đích bán ra ngoài.
(Theo quy định hiện hành của chế độ kế toán pháp, những t liệu lao động có giá trị
>= 2.500F và thời gian sử dụng >= 1 năm thì đợc coi là TSBĐ).
b. Phân loai.
Bằng sáng chế:
Là CP mà doanh nghiệp bỏ ra để mua lại bằng phát minh sáng chế của ngời
phát minh hoặc những CP mà doanh nghiệp bỏ ra cho việc nghiên cứu, thử nghiệm đợc
Nhà nớc cấp bằng sáng chế.
Nhãn hiệu:
CP mà doanh nghiệp bỏ ra để mua lại nhãn hiệu hoặc tên sản phẩm, dịch vụ
nào đó, thời gian của nhãn hiệu kéo dài suốt thời gian tuổi thọ của chúng trừ trờng hợp mất
giá của sản phẩm.
Quyền thuê nhà:
Là CP phải trả cho ngời thuê nhà trớc đó để đợc thừa kế các quyền lợi về thuê
nhà theo hợp đồng hoặc theo luật định.
Lợi thế thơng mại:
Là CP phải trả thêm ngoài giá trị của TSBĐ hữu hình bởi các yếu tố thuận lợi cho kinh doanh
nh vị trí thơng mại, sự tín nhiệm của khách hàng, danh tiếng của dn, sự cần cù sáng tạo, sự
thành thạo công việc của CNV.
2. Nhiệm vụ kế toán TSBĐ.
Hạch toán chính xác, kịp thời số lợng, giá trị TSBĐ hiện có, tình hình biến động ,
trong toàn doanh nghiệp và trong từng bộ phận sử dụng TSBĐ - tạo điều kiện cho việc
cung cấp thông tin, kiểm tra, giám sát việc sử dụng, bảo dỡng, đầu t, đổi mới.
Tính toán và phân bổ chính xác mức khấu hao TSBĐ và CP Sxkd.
Tham gia lập kế hoạch sửa chữa, dự toán CP sửa chữa, giám sát CP phát sinh và kết
quả của việc sửa chữa.
3. Xác định nguyên giá.
a. Đối với TSBĐ hữu hình.
12
Kế toán pháp
Tăng do mua ngoài:
L u ý:
Các CP nh: thù lao, hoa hồng, CP chứng th và thuế trớc bạ không đợc tính vào nguyên
giá của TSBĐ mà chúng đợc coi nh một khoản cpkd.
Tăng do tự xây dựng, tự sản xuất:
L u ý:
Các CP tài chính, CP nghiên cứu và phát triển, CP quản lý chung toàn dn không đợc
tính vào nguyên giá TSBĐ xây dựng.
Tăng do nhận vốn góp liên doanh:
Nguyên giá đợc xác định theo giá trị thoả thuận do HĐ giao nhận đánh giá và
đợc ghi trong hợp đồng liên doanh.
Tăng do trao đổi:
Nguyên giá đợc xác định theo thời giá của TSBĐ tơng đơng trên thị trờng.
b. Đối với TSBĐ vô hình:
Nguyên giá là số CP thực tế mà doanh nghiệp bỏ ra để có đợc các TSBĐ vô hình đó.
c. Xác định giá trị TSBĐ cuối niên độ KT.
Khi kết thúc niên độ KT, nguyên giá của TSBĐ đợc so sánh với thời giá:
Nếu thời giá > nguyên giá của TSBĐ thì KT không ghi sổ khoản chênh lệch .
Nếu thời giá < nguyên giá - KT so sánh thời giá với giá trị còn lại, nếu: thời giá quá thấp so
với giá trị còn lại thì dn phải lập khấu hao ngoại lệ (khấu hao bổ sung). Nếu giảm giá cha chắc
chắn thì dn phải lập dự phòng giá.
II. Hạch toán biến động , TSBĐ.
1. Các TK sử dụng.
21 TSBĐ hữu hình là TK theo dõi tình hình hiện có và biến động , của TSBĐ hữu hình
trong dn theo nguyên giá
Nợ phản ánh các nghiệp vụ làm TSBĐ hữu hình theo nguyên giá.
Có phản ánh nguyên giá TSBĐ .
SD nợ phản ánh nguyên giá TSBĐ hữu hình hiện có.
(đợc chi tiết thành 6 tiểu khoản).
13
Nguyên giá TSBĐ
mua ngoài
Giá trị thoả thuận giữa ng
ời mua và ng ời bán.
Các CP PS khác
=
+
(CP vận chuyển, bốc dỡ, lắp đặt,
chạy thử, thuế NK, bảo hiểm, )
Nguyên giá
CP vật liệu cho quá trình
xây dựng (sản xuất)
Các CP PS
(CP nhân viên, CP chung )
= +
Kế toán pháp
20 TSBĐ vô hình theo dõi TSBĐ vô hình hiện có và biến động , .
Nợ nguyên giá .
Có nguyên giá .
SD nợ nguyên giá TSBĐ vô hình hiện có.
(đợc chi tiết thành 6 tiểu khoản).
2. Hạch toán các nghiệp vụ làm TSBĐ.
a. Tăng do mua sắm.
Khi mua TSBĐ căn cứ vào hoá đơn, chứng từ KT ghi:
Nợ TK 20, 21 : nguyên giá (chi tiết theo tiểu khoản)
Nợ TK 4456 : TVA đầu vào.
Có TK 531, 512 : số trả bằng tiền.
Có TK 404 : số còn nợ nhà cung cấp.
Có TK 164 : số trả bằng tiền vay.
Khi thanh toán số nợ cho nhà cung cấp:
Nợ TK 404
Có TK 531, 512
Các CP về hoa hồng, thù lao, lệ phí chứng th, thuế trớc bạ PS trong quá trình mua
TSBĐ không đợc hạch toán vào nguyên giá mà đa vào cpkd:
Nợ TK 6221 : tiền hoa hồng
Nợ TK 6226 : thù lao môi giới
Nợ TK 6227 : lệ phí chứng th
Nợ TK 6554 : thuế trớc bạ
Có TK 531, 512
Ví dụ:
dn mua một ô tô vận tải, giá mua không TVA là 50.000F, TVA 18,6%. Dn đã thanh
toán một nửa bằng tiền ngân hàng, số còn lại nợ nhà cung cấp:
yêu cầu: ghi nhật ký nghiệp vụ trên.
ĐK:
Nợ TK 2182 :50.000
Nợ TK 4456 :9.300
Có TK 512 :29.650
Có TK 404 :29.650
b. Tăng do nhận vốn góp từ đơn vị khác.
Đối với công ty hợp danh và công ty TNHH:
Khi các thành viên hứa góp vốn:
14

Thứ Sáu, 14 tháng 3, 2014

một số giải pháp hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "một số giải pháp hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế": http://123doc.vn/document/1042387-mot-so-giai-phap-han-che-rui-ro-trong-thanh-toan-quoc-te.htm


Thứ ba, trong quá trình thực hiện thanh toán quốc tế, nếu khách hàng không
đủ khả năng tài chính cần đến sự tài trợ của ngân hàng, ngân hàng sẽ cho vay để
thanh toán hàng nhập bằng cách bảo lãnh mở L/C, chiết khấu chứng từ xuất khẩu,
đáp ứng nhu cầu về vốn cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Qua việc thực hiện
thanh toán quốc tế, ngân hàng có thể giám sát được tình hình kinh doanh của doanh
nghiệp xuất nhập khẩu để có những tư vấn cho khách hàng và những điều chỉnh về
chiến lược khách hàng.
Tóm lại, có thể khẳng định, hoạt động thanh toán quốc tế là một hoạt động
trung gian của Ngân hàng thương mại, có tác dụng mang lại thu nhập, hỗ trợ các
hoạt động khác của Ngân hàng thương mại, giúp cho quá trình thanh toán của
khách hàng được nhanh chóng, đảm bảo. Điều này được thể hiện rõ hơn khi nghiên
cứu đến các phương thức thanh toán quốc tế
1.3. Các phương thanh toán quốc tế chủ yếu hiện nay
1.3.1. Ph ươ ng thức chuyển tiền.
Phương thức chuyển tiền là phương thức thanh toán trong đó khách hàng
(người trả tiền, người mua, người nhập khẩu ) yêu cầu ngân hàng phục vụ mình
chuyển một số tiền nhất định cho người hưởng lợi (người bán, người xuất khẩu,
người cung ứng dịch vụ ) ở một địa điểm nhất định bằng phương tiện chuyển tiền
do khách hàng yêu cầu.
1.3.2. Ph ươ ng thức ghi sổ
Thanh toán ghi sổ là một sự thỏa thuận giữa người mua và người bán trong
đó hàng hóa được sản xuất và giao trước khi thanh toán.
1.3.3. Ph ươ ng thức nhờ thu chứng từ.
a. Khái niệm
Thanh toán nhờ thu là sự thỏa thuận, trong đó nhà xuất khẩu sau khi đã giao
hàng hoặc cung ứng dịch vụ cho khách hàng thì ký phát hối phiếu đòi tiền người
mua hoặc kèm với chứng từ thương mại gửi đến Ngân hàng phục vụ mình theo chỉ
thị rõ ràng để nhờ thu số tiền trên hối phiếu đó thông qua một Ngân hàng đại lý ở
nước người mua.
b. Phân loại
Có hai loại nhờ thu:
* Nhờ thu phiếu trơn
- Khái niệm: Nhờ thu phiếu trơn (Clean Bill): là nhờ thu theo chứng từ tài
chính không kèm theo chứng từ thương mại, trong đó nhà xuất khẩu nhờ ngân hàng
thu hộ tiền ở người mua căn cứ vào hối phiếu do mình lập ra mà không kèm theo
điều kiện nào cả, còn chứng từ gửi hàng sẽ được gửi thẳng cho người mua không
qua ngân hàng.
5
* Nhờ thu kèm chứng từ
- Khái niệm: Nhờ thu kèm chứng từ (Documentary collection) là loại nhờ
thu có kèm chứng từ thương mại, trong đó nhà xuất khẩu ủy thác cho ngân hàng thu
hộ tiền ở người mua không những căn cứ vào hối phiếu mà còn căn cứ vào bộ
chứng từ gửi hàng kèm theo điều kiện nhà nhập khẩu phải trả tiền ngay hoặc chấp
nhận hối phiếu có kỳ hạn để đổi lấy chứng từ đi nhận hàng. Điều kiện này đã tạo ra
cho phương thức thanh toán nhờ thu có hai hình thức:
+ Nhờ thu trả tiền đồi chứng từ (Documents Against Payment – D/P): Được
sử dụng trong trường hợp mua bán trả tiền ngay.
+ Nhờ thu chấp nhận đổi chứng từ (Documents Against Acceptance – D/A):
Được áp dụng trong trường hợp nhờ thu trả sau.
1.3.4. Phương thức tín dụng chứng từ
Tín dụng chứng từ hay còn gọi là thư tín dụng (L/C) là một sự thỏa thuận
trong đó một ngân hàng ( Ngân hàng phát hành L/C theo yêu cầu của khách hàng)
sẽ trả một số tiền nhất định cho một người khác (Người hưởng lợi số tiền của L/C)
hoặc phải chấp nhận và trả tiền các hối phiếu do người hưởng lợi ký phát trong
phạm vi số tiền đó khi người này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh
toán phù hợp với những quy định đề ra trong thư tín dụng.
Nội dung của L/C thể hiện các điều kiện, điều khoản đã được ký kết trong
hợp đồng thương mại giữa người mua và người bán, có thể hiện sự sắp đặt, thỏa
thuận của ngân hàng để đi đến điều khoản cam kết thanh toán bộ chứng từ. Song,
cam kết của ngân hàng lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng thương mại. Để được
thanh toán từ ngân hàng, người hưởng lợi phải hoàn tất bộ chứng từ phù hợp với
các điều kiện điều khoản quy định trong L/C. Đây là một quá trình có tính logic của
một vấn đề phát sinh liên quan đến hoạt động thương mại và ngân hàng.
2. Rủi ro trong hoạt động TTQT
Rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế là những rủi ro về kinh tế phát
sinh trong quá trình thực hiện hoạt động thanh toán quốc tế, nó do các nguyên nhân
phát sinh từ quan hệ giữa các bên tham gia TTQT (nhà xuất khẩu, nhập khẩu, ngân
hàng, các tổ chức, cá nhân và các tác nhân trung gian…) hoặc những nhân tố khách
quan khác gây nên như thiên tai, chiến tranh, chính trị
Rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế liên quan đến các giao dịch
thương mại quốc tế. Nó cũng giống như rủi ro trong giao dịch thương mại trong
nước, nhưng phức tạp hơn do khoảng cách về địa lý, những khác biệt về văn hóa,
luật pháp,…
6
PHẦN II: MỘT SỐ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG TTQT
Hoạt động TTQT là hoạt động mang tính phức tạp và đa chiều, trong quá
trình diễn ra hoạt động này, có nhiều rủi ro mang tính chất chủ quan và khách quan,
tuy nhiên trong phạm vi bài thảo luận nhỏ, chúng ta có thể xem xét các loại rủi ro
trong TTQT thường gặp theo một số khía cạnh, từ đó có cái nhìn tổng thể hơn về
hoạt động này:
I. Phân loại theo nguyên nhân phát sinh
1. Rủi ro thương mại
Loại rủi ro này hiện diện trong tất cả các giao dịch giữa các thương gia, do
đó cần được xem xét một cách khác nhau từ phía người xuất khẩu và nhập khẩu.
1.1.Đối với người xuất khẩu, rủi do đến từ các nguyên nhân sau:
- Sự suy yếu về tài chính của người mua hàng (nhà nhập khẩu). Trong
trường hợp này người mua hàng bất ngờ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán
trong thời hạn đã thỏa thuận, họ sẽ đề nghị xin gia hạn trả nợ. Người bán sẽ phải
chấp nhận nếu người mua chưa thể cải thiện tình hình tài chính.
- Những quy định pháp lý: trường hợp người mua tuyên bố không còn khả
năng chi trả, doanh nghiệp đó sẽ bị giải thể theo luật pháp. Nợ của nhà xuất khẩu
chỉ được thanh toán sau khi các khoản nợ được ưu tiên đã giải quyết xong như các
khoản tiền lương, thuế, các khoản nợ các tổ chức xã hội,… do đó sẽ có rất ít cơ hội
thu hồi các khoản mà người mua đã nợ.
1.2. Đối với người nhập khẩu, rủi do đến từ các nguyên nhân sau:
- Thời hạn gửi hàng: theo hợp đồng đã ký kết, người nhập khẩu bắt buộc
phải nhận hàng trong thời hạn đã thỏa thuận. Mọi sự chậm trễ trong quá trình vận
chuyển từ người xuất khẩu đều gây khó khăn cho việc nhận hàng theo đúng hợp
đồng và sẽ gây tổn thất đối với người mua hàng.
- Sự thay đổi về điều kiện và thời gian thanh toán: Nhiều khi hợp đồng
thương mại đã ký quy định cụ thể về các điều kiện và thời gian thanh toán, song
người xuất khẩu đơn phương thay đổi buộc nhà nhập khẩu phải thanh toán một lần
toàn bộ số tiền hàng mới được nhận hàng, điều này khiến cho nhà nhập khẩu bị
động và phải có khoản vay của Ngân hàng để tài trợ cho việc thanh toán. Nếu
khoản vay lớn sẽ gây khó khăn trong việc vay vốn và ảnh hưởng đến khả năng
nhận hàng.
- Yếu tố giá cả: Trong quá trình thực hiện hợp đồng, với lý do đặc biệt như
chính trị, thiên tai, người xuất khẩu yêu cầu người nhập khẩu phải trả mức giá cao
hơn so với thỏa thuận. Trong trường hợp này người nhập khẩu có thể từ chối hợp
đồng và tìm người cung cấp mới, song sẽ bị chậm hơn so với quy định với các đối
tác. Nhiều khi họ không có sự lựa chọn nào khác và buộc phải chấp nhận giá cao
gây tổn thất trong lợi nhuận.
7
- Rủi ro trong bảo hiểm: Trong hợp đồng thương mại được ký, các bên tham
gia thiếu sự quản lý chặt chẽ có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng trong vận chuyển
hàng hóa. Khi đó hàng hóa được đền bù với giá quy định trong hợp đồng bảo hiểm,
nhưng có thể thấp hơn nhiều so với giá trị thực của hàng hóa.
- Yếu tố chất lượng, nguồn gốc của hàng hóa: Hàng hóa với chất lượng
không như chuẩn mực đã ký kết hay như tên gọi gốc sẽ gây ra những rắc rối đối
với người nhập hàng trong việc quan hệ với các cơ quan chức năng: hải quan,
thuế, Ví dụ khi hợp đồng hàng hóa đã ký nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa tại một
nước nào đó thi không thể thay thế bằng hàng nhập từ nước khác. Trường hợp hải
quan xác định nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa không đúng như đăng ký , người
nhập khẩu sẽ phải trả thêm lệ phí.
Một ví dụ điển hình trong thực tế, Công ty Hapos của Úc đã ký thoả thuận
mua hàng với một đối tác Nhật Bản, nhưng trong hợp đồng, Hapos đã để cho đối
tác Nhật Bản lựa chọn hãng tàu vận chuyển. Hapos cứ đinh ninh đợi hàng về,
nhưng sự việc bất ngờ đã xảy ra, chiếc tàu của hãng tàu trên trên đường từ Nhật
Bản đến Úc đã bị hải quan bắt giữ vì có vận chuyển hàng cấm và hàng chưa kê khai
hải quan. Kết quả là tất cả các hàng hoá mà Hapos đặt cũng bị tịch thu luôn.
2. Rủi ro do cho vay tín dụng phục vụ xuất nhập khẩu
- Khái niệm: Rủi ro tín dụng xảy ra khi NHTM cấp tín dụng cho khách hàng
để thực hiện các phương thức thanh toán quốc tế theo những điều kiện thanh toán
đã thỏa thuận với đối tác nước ngoài.
- Nguyên nhân: Rủi ro tín dụng gây ra cho các ngân hàng xuất phát từ các
nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan:
Nguyên nhân chủ quan:
+ Khả năng áp dụng quy chế và năng lực cán bộ trong quá trình thẩm định
món vay xuất – nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ trước khi thực hiện các phương thức
thanh toán chuyển tiền, nhờ thu, thanh toán theo L/C, thanh toán ứng trước, chiết
khấu hối phiếu và chứng từ, đó là các vấn đề như thẩm định phương án vay vốn,
phân tích năng lực tài chính, khả năng hoàn trả, hiệu quả sử dụng vốn của khách
hàng, khả năng phân tích các thông tin rủi ro từ phía đối tác của khách hàng, của
ngân hàng nước ngoài.
+ Sự phối hợp giữa thực hiện nghiệp vụ TTQT của cán bộ đối với những
dịch vụ thanh toán cung ứng tín dụng. đó là các vấn đề về điều kiện thanh toán, sửa
đổi L/C, ký hậu và bảo lãnh vận đơn nhận hàng
Nguyên nhân khách quan: Đối với các phương thức thanh toán, khả năng rủi
ro tín dụng bao gồm các nguyên nhân rủi ro do khả năng thanh toán của khách hàng
và ngân hàng nước ngoài đem lại, mà khả năng này lại phụ thuộc vào các nhân tố
khách quan khác như: Đối tác của khách hàng không thực hiện hợp đồng đúng, đủ,
kịp thời về hàng hóa và điều kiện thanh toán làm phá vỡ kế hoạch tiêu thụ, kế
8
hoạch sản xuất – kinh doanh của khách hàng, hàng hóa bị mất mát trong quá trình
vận chuyển do khách hàng xuất – nhập khẩu đảm nhiệm, hàng kém phẩm chất phát
sinh trong quá trình vận chuyển, đối tác không có khả năng thanh toán, ngân hàng
nước ngoài đang trong quá trình sát nhập giải thể, phá sản Riêng đối với phương
thức tín dụng chứng từ thì rủi ro tín dụng là đặc thù vì theo phương thức này:
+ Ngân hàng phát hành thực sự bị ràng buộc vào cam kết thanh toán cho
người hưởng lợi nếu bộ chứng từ phù hợp được xuất trình, nên kể cả khi ngân hàng
thông báo cung cấp tín dụng cho người mở thì ngân hàng vẫn phải thực hiện nghĩa
vụ thanh toán của mình.
+ Ngân hàng thương lượng khi đã chiết khấu, ứng trước bộ chứng từ có sai
sót hoặc không bảo lưu quyền truy đòi nhà xuất khẩu thì có thể nhận lấy rủi ro
không được thanh toán của ngân hàng phát hành hoặc ngân hàng hoàn tiền.
3. Rủi ro tỷ giá
- Khái niệm:
Rủi ro tỷ giá là những rủi ro xảy ra khi việc thanh toán được ấn định bằng
đồng ngoại tệ của một nước nào đó. Khi tỷ giá hối đoái biến động so với tỷ giá khi
ký kết hợp đồng xuất khẩu sẽ có lợi cho người này và thiệt cho người khác. Nếu
ngoại tệ lên giá thì nhà nhập khẩu bị thiệt hại và ngược lại nếu ngoại tệ mất giá thì
người xuất khẩu sẽ gặp rủi ro.
Một cách chung nhất, rủi ro hối đoái tồn tại khi biến động tỷ giá ảnh hưởng
tới từng nghiệp vụ tiền mặt của công ty hay toàn bộ luồng tiền mặt của công ty.
Nói một cách khác, có thể hiểu rủi ro hối đoái là sự không chắc chắn về giá
trị của một khoản thu nhập hay một khoản chi trả do sự biến động tỷ giá gây ra có
thể làm tổn thất đến giá trị dự kiến.
- Tác động của rủi ro tỷ giá:
Rủi ro hối đoái cũng có thể coi như rủi ro suy đoán và tác động của nó đối
với các khoản phải thu, phải trả là trái ngược nhau, và tùy thuộc vào vị trí của
doanh nghiệp là nhà xuất khẩu hay nhập khẩu mà tác động của rủi ro hối đoái cũng
khác nhau.
+ Đối với nhà xuất khẩu, tỷ giá biến động sẽ phá vỡ kế hoạch tính toán của
nhà xuất khẩu, chẳng hạn khi giá cả đồng tiền trong nước so với đồng ngoại tệ tăng
(tỷ giá hối đoái giảm) sẽ bất lợi cho nhà xuất khẩu vì tiền bán hàng thu về bằng
ngoại tệ sẽ được ít đồng nội tệ hơn do vậy mua được ít yếu tố đầu vào hơn làm cho
kinh doanh xuất khẩu có thể bị thua lỗ. Biến động tỷ giá hối đoái giảm còn ảnh
hưởng khi nhà xuất khẩu nhận tài trợ xuất khẩu từ ngân hàng bằng nội tệ để phục
vụ sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu.
+ Đối với nhà nhập khẩu, việc lựa chọn đồng tiền thanh toán và đồng tiền
tính toán trong một thương vụ khác nhau cũng gây nên rủi ro cho nhà nhập khẩu
9
khi có biến động tỷ giá. Ngược lại với xuất khẩu, khi tỷ giá hối đoái biến động tăng
(giá cả đồng nội tệ so với đồng ngoại tệ giảm) sẽ bất lợi cho nhà nhập khẩu vì họ
mua ngoại tệ thanh toán cho hàng hóa nhập khẩu với giá cao nhưng giá cả tiêu thụ
hoặc nguyên vật liệu còn phụ thuộc cung cầu thị trường không thể bù đắp nổi với
biến động thay đổi tỷ giá. Những khoản tín dụng bằng ngoại tệ do ngân hàng cung
cấp sẽ đến hạn trong tương lai càng trở nên lớn hơn do cộng thêm tỷ lệ tỷ giá hối
đoái tăng.
+ Đối với các ngân hàng thương mại: Trong quá trình thực hiện thanh toán
cho khách hàng, vấn đề quản lý nguồn ngoại tệ và hoạt động kinh doanh ngoại tệ để
đảm bảo nhu cầu thanh toán trên cơ sở cân đối tài sản có bằng ngoại tệ là vô cùng
quan trọng, nhằm tránh những rủi ro do biến động tỷ giá gây nên. Chẳng hạn khi
trạng thái ngoại tệ của một ngân hàng là dư thừa, nếu tỷ giá biến động tăng liên tục
thì đối với các nước có hệ thống ngân hàng hoạt động trên thị trường ngoại tệ
không hiệu quả, hoặc khả năng dự trữ của ngân hàng trung ương yếu có thể làm
cho ngân hàng đó luôn đứng trước nguy cơ khan hiếm nguồn ngoại tệ, ngược lại
nếu tỷ giá giảm liên tục thì ngân hàng đó cũng luôn đứng trước nguy cơ lỗ về tỷ
giá.
4. Rủi ro quốc gia
- Khái niệm:
Rủi ro quốc gia là những rủi ro liên quan đến sự thay đổi về chính trị, kinh
tế, về chính sách quản lý ngoại hối - ngoại thương của một quốc gia khiến cho nhà
xuất khẩu không nhận được tiền hàng và nhà nhập khẩu không nhận được hàng
hóa. Loại rủi ro này là do những nguyên nhân khách quan gây nên:
- Xảy ra chiến tranh, đảo chính, biểu tình ở các nước
- Xảy ra khủng hoảng chính trị, khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng tài chính –
tiền tệ gây ra những khó khăn trong thanh toán.
- Những cấm vận trong thanh toán: nước nhập khẩu bị phong tỏa tài khoản do
những món nợ nước ngoài chưa trả, hoặc do quan hệ không bình thường giữa hai
nước có quan hệ kinh tế quốc tế làm cho các hợp đồng ngoại thương, hiệp định
thương mại bị hủy bỏ giữa chừng.
- Dự trữ ngoại hối ở mức thấp và cán cân thanh toán quốc tế của quốc gia bị
thâm hụt nặng nề khiến cho Chính phủ nước nhập khẩu phải đưa ra biện pháp cấm
thanh toán hoặc chuyển ngoại hối ra nước ngoài.
Rủi ro quốc gia của nước nhập khẩu xảy ra khi người mua có khả năng và sẵn
sàng thanh toán cho người bán, song do những biến động hoặc biến cố bất thường
trong quốc gia nhập khẩu khiến cho chính phủ của nước nhập khẩu cấm các công ty
của nước mình thanh toán ngoại tệ ra nước ngoài, hoặc hàng hóa nhập khẩu thuộc
diện cấm nhập khẩu nên không được làm thủ tục thông quan.
10
Rủi ro quốc gia của nước xuất khẩu xuất hiện khi có sự thay đổi về chính
sách ngoại thương, thuế quan của quốc gia đó. Nhà xuất khẩu đã chuẩn bị giao
hàng, song do thuế xuất khẩu tăng hoặc hàng hóa thuộc diện cấm xuất khẩu. Cũng
có khi do quan hệ thanh toán giữa hai quốc gia chưa được bình thường hóa nên gây
khó khăn cho việc nhận tiền hàng của người xuất khẩu.
Rủi ro quốc gia cũng có thề xảy ra đồng thời với nhà xuất khẩu và nhập
khẩu nếu sau khi ký kết hợp đồng ngoại thương chính phủ nước nhập khẩu và xuất
khẩu đều không cho phép nhập khẩu và xuất mặt hàng đó nữa.
Trong kinh doanh quốc tế, việc phòng tránh rủi ro quốc gia là một vấn đề rất
quan trọng đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Vì vậy trước khi tiến hành hoạt
động kinh doanh với đối tác, các nhà quản trị cần nhận dạng và phân tích kỹ cấu
trúc rủi ro quốc gia để từ đó xây dựng các chính sách đề phòng, bảo hiểm.
5. Rủi ro đạo đức
Là những rủi ro xảy ra khi một bên tham gia cố tình không thực hiện đúng
nghĩa vụ của mình gây thiệt hại tới quyền lợi của người khác. Đạo đức ở đây chính
là sự tín nhiệm, uy tín trong kinh doanh. Đây là vấn đề quan trọng trong thương
mại và thanh toán quốc tế, vì các bên đối tác thường ở cách nhau rất xa, thậm chí
không hề gặp nhau trong quá trình thực hiện đàm phán.
5.1. Rủi ro đạo đức nhà nhập khẩu.
Nấu khách mua hàng không phải bạn hàng lâu năm, có uy tín thì rất dễ có
những hành vi lừa người bán. Họ cố tình trì hoãn, từ chối thanh toán bằng những
thủ đoạn nghiệp vụ như bắt lỗi sai sót chứng từ, ép giá người bán để thu lợi cho
mình. Có trường hợp do giá hàng hóa nhập khẩu giảm nên người mua hàng sợ thua
lỗ trong kinh doanh đã có tình không nhận bộ chứng từ để lấy hàng, hoặc trì hoãn
không thanh toán đẩy ngân hàng và nhà xuất khẩu vào tình thế khó khăn.
5.2. Rủi ro đạo đức nhà xuất khẩu.
Khi nhà xuất khẩu cố ý giao hàng không phù hợp với hợp đồng, nhưng lại
xuất trình bộ chứng từ hoàn hảo với các điều khoản ký kết của hợp đồng, hoặc nhà
xuất khẩu lập bộ chứng từ khống giả mạo (không giao hàng). Ngân hàng khi đó sẽ
thực hiện thanh toán và nhà xuất khẩu sẽ phải gánh chịu mọi rủi ro. Nếu ngân hàng
tài trợ cho người nhập khẩu thì rủi ro này ngân hàng cũng phải gánh chịu. Trường
hợp giá cả hàng hóa quốc tế tăng, người bán hàng sợ thiệt không muốn giao hàng
cho người mua nữa, điều này sẽ phá vỡ kế hoạch sản xuất kinh doanh và gây thiệt
hại cho người mua.
5.3. Rủi ro đạo đức của nhà chuyên chở
Người bán hàng giao hàng cho người chuyên chở, nhưng bị họ lừa đảo, nhận
hàng lấy tiền rồi biến mất, hoặc bán mất hàng. Trong khi đó ngân hàng vẫn phải
thực hiện việc thanh toán cho người bán hàng theo hồ sơ chứng từ, còn việc kiện
11
hãng chuyên chở, hoặc chờ bảo hiểm hoàn toàn tách rời nhau. Việc chờ đợi, kiện
tụng rất mất thời gian và tốn kém, gây thiệt hại cho cả người mua và người bán.
5.4. Rủi ro đạo đức của ngân hàng
Trong nhiều trường hợp ngân hàng phát hành cũng vi phạm cam kết như trì
hõa, châp ỳ, hoặc từ chối thanh toán bộ chứng từ cho nhà xuất khẩu. Hoặc ngược
lại đối với sự thiếu trung thực của ngân hàng chiết khấu khi bộ hồ sơ không hoàn
hảo vẫn gửi điện cam kết hồ sơ chuẩn đòi tiền ngân hàng phát hành. Nếu ngân hàng
phát hành tin tưởng thanh toán sẽ gặp rủi ro, việc đòi lại được tiền rất khó khăn.
Như vậy có thể kết luận rằng nguyên nhân sâu xa của rủi ro đạo đức là vấn
đề thông tin không đầy đủ, không cân xứng, thiếu những thông tin xác thực về khả
năng tài chính, tình hình hoạt động kinh doanh, cũng như uy tín, tính trung thực
của của đối tác. Vì vậy đã đưa ra những quyết định sai lầm dẫn đến rủi ro trong
thanh toán.
6. Rủi ro pháp lý
Rủi ro về pháp lý xảy ra trong trường hợp có tranh chấp hay khiếu kiện giữa
các bên có tham gia thanh toán. Khi đó vấn đề đặt ra là tòa án nước nào sẽ đứng ra
thụ lý và xử vụ án trên cơ sở pháp lý nước nào. Mặc dù trong hợp đồng mua bán đã
đề cập đến vấn đề này, tuy nhiên vẫn còn rất nhiều khó khăn bởi vì không bên nào
có thể thông thạo luật pháp của bên đối tác. Chính vì môi trường pháp lý và luật
pháp của các bên khác nhau nên rủi ro pháp lý là không thể tránh khỏi.
7. Rủi ro trong quá trình hoạt động, tác nghiệp
- Khái niệm: Là những rủi ro sai sót kỹ thuật do chính các bên tham gia gây
nên, rủi ro này được thể hiện trong việc lập các hồ sơ chứng từ không hoàn hảo.
- Nguyên nhân: Rủi ro này này xảy ro chủ yếu là do trình độ của các bên
tham gia còn yếu nên chưa nắm bắt được các yêu cầu của quá trình thanh toán, dẫn
đến sai sót trong quá trình giao dịch từ lúc soạn thảo và ký kết hợp đồng cho đến
khâu lập chứng từ và thanh toán.
Cụ thể các bên gặp rủi ro như sau:
+ Ngân hàng chuyển tiền: Do nhận chuyển tiền cho những hợp đồng thanh
toán vi phạm chế độ quản lý hạn ngạch nhập khẩu, chế độ quản lý ngoại hối, những
hợp đồng thanh toán ma được lập để lợi dụng hoạt động phi pháp
+ Ngân hàng uỷ nhiệm và nhận nhờ thu: Do giao bộ chứng từ nhận hàng cho
khách hàng trước khi nhận được thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán hối phiếu,
nhận và gửi chỉ thị thanh toán không rõ ràng.
+ Các ngân hàng có liên quan trong phương thức tín dụng chứng từ:
Ngân hàng phát hành bao gồm các rủi ro về mặt phát hành và về kiểm tra
chứng từ: Phát hành thư không đúng theo các điều kiện của đơn xin mở L/C, hoặc
12
có những điều khoản bất lợi, dẫn đến các rủi ro: Không những phải chịu chi phí sửa
đổi, đôi khi những điều này lại có lợi cho người bán nên họ sẽ không chấp nhận sửa
đổi nếu họ không có thiện chí vì vậy có thể dẫn đến rủi ro cho người mở kéo theo
rủi ro cho ngân hàng.
Kiểm tra chứng từ không phát hiện được sai sót mà thực hiện thanh toán sẽ
gặp khả năng rủi ro không được hoàn lại tiền từ nhà nhập khẩu.
Ngân hàng xác nhận : Bằng việc gắn thêm các cam kết thanh toán theo thư
tín dụng khi ngân hàng phát hành không thanh toán hoặc không có khả năng thanh
toán cho ngân hàng. Vì vậy nó có rủi ro do:
+ Rủi ro thương mại của ngân hàng phát hành, họ không có khả năng thanh
toán.
+ Rủi ro do kiểm tra bộ chứng từ: Nếu ngân hàng xác nhận thanh toán không
đúng cho người hưởng khi bộ chứng từ có sai sót thì ngân hàng phát hành có quyền
từ chối hoàn tiền cho ngân hàng xác nhận.
Ngân hàng thông báo: Ngân hàng thông báo L/C sẽ không có bất cứ một
cam kết nào khi thông báo thư tín dụng nhưng việc xác thực một thư tín dụng hay
sửa đổi thư tín dụng qua các khóa mật hoặc kiểm tra cẩn thận vể tính chân thật của
nó sẽ có những rủi ro do đã thông báo L/C giả mạo không xác thực mà không lưu ý
cho người được thông báo.
Ngân hàng chiết khấu, thương lượng: Ngân hàng này bao gồm các rui ro của
ngân hàng phát hành, ngân hàng hoàn trả tiền của người hưởng và rủi ro kiểm tra
chứng từ. Nếu ngân hàng thương lượng không kiểm tra chứng từ giao hàng của nhà
xuất khẩu một cách cẩn thận, thích đáng thì những sai sót của bộ chứng từ đã được
thương lượng sẽ bị ngân hàng phát hành từ chối một cách hợp pháp.
II. Phân loại theo các phương thức thanh toán quốc tế
1. Rủi ro trong phương thức chuyển tiền
Trong phương thức thanh toán chuyển tiền Ngân hàng đóng vai trò trung
gian thanh toán phục vụ khách hàng, với vị trí trung gian giữa người chuyển trả tiền
và người thụ hưởng, thực hiện lệnh của các bên liên quan. Vì vậy Ngân hàng
không thể can thiệp vào thiện chí của bên chi trả cho bên thụ hưởng. Rủi ro có thể
xẩy ra đối với phương thức chuyển tiền:
1.1. Rủi ro đối với người mua
Sẽ rất bất lợi cho người mua nếu sau khi chuyển tiền xong, người bán bị phá
sản hoặc giao hàng không đúng số lượng, chủng loại, chất lượng kém hay không
bảo đảm thời gian giao hàng theo đúng thỏa thuận làm ảnh hưởng đến hoạt động
kinh doanh của mình. Vì thế nếu buộc phải thanh toán theo phương thức này, nhà
nhập khẩu nên yêu cầu ngân hàng của nhà xuất khẩu phát hành cho mình một thư
13
bảo lãnh về số tiền ứng trước đó, để tránh rủi ro mất tiền khi người bán không thực
hiện những nghĩa vụ như đã cam kết trong hợp đồng ngoại thương.
1.2. Rủi ro đối với người bán
Rủi ro xảy đến với người bán trong trường hợp nếu người mua thanh toán
sau khi xuất hàng thì việc thanh toán phụ thuộc vào thiện chí của người mua, do đó
bên bán dễ bị bên mua chiếm dụng vốn trong thanh toán.
1.3. Rủi ro đối với ngân hàng phục vụ người mua
Rủi ro đối với ngân hàng phục vụ người mua khi Ngân hàng cho vay thanh
toán để người mua nhập hàng, khi hàng về không đúng phẩm chất, quy cách,
thương vụ thua lỗ, người mua mất khả năng thanh toán, gây tổn thất cho ngân hàng
không thu được nợ.
1.4. Rủi ro đối với ngân hàng phục vụ người bán
Rủi ro đối với ngân hàng phục vụ người bán trong trường hợp Ngân hàng
cho vay thu mua, sản xuất hàng xuất khẩu, người bán không thu hồi được tiền, ảnh
hưởng đến thu nợ của Ngân hàng.
Rủi ro có thể xảy đến với Ngân hàng trong phương thức thanh toán bằng
chuyển tiền cũng có thể do công nghệ thanh toán lạc hậu, chất lượng đường truyển
kém dẫn đến việc chuyển sai hoặc chuyển nhầm số tiền cần thanh toán.
Bên cạnh đó, rủi ro trong phương thức này có thể do sự tắc trách, cẩu thả của
cán bộ thanh toán dẫn đến thanh toán nhầm hoặc chậm thanh toán.
Tóm lại, phương thức thanh toán chuyển tiền là phương thức thanh toán đơn
giản, thủ tục nhanh gọn đối với ngân hàng. Trong phương thức thanh toán này,
Ngân hàng đóng vai trò là trung gian, do đó rủi ro đối với Ngân hàng trong trường
hợp này phần lớn gắn liền với rủi ro tín dụng của Ngân hàng.
2. Rủi ro trong phương thức ghi sổ
Phương thức thanh toán ghi sổ thuận lợi cho người mua, rủi ro cho người
bán.
Thuận lợi cho người mua: Người mua chỉ phải trả tiền khi đã nhận được
hàng hóa, dịch vụ hoặc thậm chí khi tiêu thụ xong hàng hóa và dịch vụ.
Thuận lợi cho người bán: Tiêu thụ được hàng hóa và giữ được thị trường
truyền thống.
Bất lợi cho người bán: Người bán đã chuyển quyền sở hữu đối với hàng hóa
mà không được đảm bảo thanh toán: Có khả năng các sự kiện kinh tế chính trị sẽ
đặt ra các quy định làm chậm trễ hoặc tạm ngừng việc chuyển tiền cho người bán;
vốn của người bán bị đọng cho đến khi người mua nhận hàng, đôi khi gặp sự chây
ỳ không thanh toán của người mua thì việc theo đuổi con nợ gặp phải khó khăn vì
14