Thứ Năm, 23 tháng 1, 2014

áp dụng qui trình nuôi chín noãn in vitro trên heo và chó

5
dưỡng noãn đã thụ tinh. Giữa màng trong suốt và màng noãn hoàng có khoảng
trống dày 14 – 25 µm, pH 3 – 5, chứa dịch có nồng độ ion cao.
2.2.2. Các giai đoạn phát triển của nang noãn và noãn
Quá trình hình thành nang noãn xảy ra ở lớp vỏ buồng trứng, từ những
nang noãn nguyên thủy phân bố ở vùng ngoại biên. Ở thời kì sau thai, nang
noãn không ngừng được hình thành và phát triển từ biểu mô phôi thai.
Quá trình hình thành noãn gồm 7 bước: sinh tế bào mầm nguyên thủy
(PGC – primordial germ cells); di chuyển PGC tới tuyến sinh dục; định vị PGC
trong tuyến sinh dục; biệt hóa PGC thành noãn nguyên bào; tăng số lượng noãn
nguyên bào; bắt đầu giảm phân; dừng ở giai đoạn nhân đôi prophase I [26].
Từ PGC trở thành nang noãn được bọc bằng tế bào dẹt, nó biến thành
nang quá độ. Song song với quá trình giảm phân, nang quá độ nổi lên từ vùng
vỏ và chứa một noãn được bao quanh bởi một lớp tế bào sinh dưỡng, gọi là tiền
tế bào hạt. Tế bào sinh dưỡng miền vỏ có nguồn gốc từ tế bào biểu mô bề mặt
di chuyển ngược vào buồng trứng và tế bào hạt có nguồn gốc từ tế bào trung
thận di chuyển xuyên qua buồng trứng (Sawyer và cs, 2002) [29]. Ở cừu, noãn
quá độ có đường kính 25 – 53 µm, noãn đang biệt hóa là 17 – 22 µm và noãn
nguyên bào 13 – 17 µm, điều đó chứng tỏ tế bào mầm tăng trưởng trước, trong
và sau quá trình tạo nang noãn (Mc Natty và cs, 2000) [20].
Từ nang quá độ phát triển thành nang bậc một. Nang bậc một chỉ chứa
một lớp tế bào hạt bao quanh, giai đoạn chuyển thành nang bậc một chậm hơn
so với quá trình tăng trưởng của nang.
Từ nang bậc một phát triển thành nang bậc hai, có từ 2 lớp tế bào hạt trở
lên. Khi noãn tăng trưởng, tế bào hạt tăng sinh dày, lớp tế bào vỏ hình thành
xung quanh tế bào hạt. Giai đoạn này tăng RNA, protein, ribosom, ti thể và một
số chất hữu cơ khác.
Từ nang bậc hai tạo nang xoang, chứa nhiều dịch và nhiều tế bào hạt bao
quanh. Dịch có vai trò điều hòa các chất từ máu hoặc chất tiết trong tế bào nang
như: gonadotropin, steroid, yếu tố tăng trưởng, enzym, proteoglycan,
lipoprotein. Dịch tăng lên nhờ sự phát triển mao quản và dòng máu vận chuyển
trong nang. Noãn lúc này được bọc bởi tế bào hạt tụ (cumulus), tạo phức hợp
COC (cumulus oocyte complex).
6
Sau quá trình tăng trưởng, noãn tồn tại ở giai đoạn tiền kỳ. Sau đỉnh LH,
để hoàn thành giảm phân, các noãn đã tăng trưởng đầy đủ này xuất hiện màng
trong suốt tạo cầu nối giữa noãn và tế bào hạt tụ. Quá trình trưởng thành là
khoảng thời gian sau đỉnh LH và xuất noãn. Quá trình này có hai biến đổi lớn:
trưởng thành nhân và trưởng thành tế bào chất [3].
Trưởng thành nhân là thuật ngữ chỉ sự phục hồi quá trình phân bào giảm
nhiễm và những chuyển biến đến giai đoạn MII (metaphase II).
Trưởng thành tế bào chất là thuật ngữ liên quan đến các sự kiện khác: sự
chuẩn bị cho trứng thụ tinh và phát triển trước làm tổ, định vị lại các tiểu
thể của bào tương và các tế bào hạt.
Trưởng thành nhân kéo dài 44 giờ trên heo, gồm 2 quá trình phân chia
liên tục ở thời kì MI và MII, sau đó noãn dừng lại tại MII chờ thụ tinh. Ở giai
đoạn này, noãn đáp ứng đỉnh LH tạo nhiều hormon steroid từ tế bào hạt, tạo
nhiều hyaluronan từ tế bào hạt tụ, tiết dịch nhầy và tăng kích thước của tế bào
hạt tụ.









Hình 2.3 : Các giai đoạn phát triển của nang noãn [37]

2.2.3. Biến đổi đại thể của nang noãn
2.2.3.1. Nang noãn heo [6]
Đường kính trung bình của nang noãn lớn tăng dần đến ngày thứ 18 của
chu kì, đạt tối đa 9 mm. Nang noãn lớn có thể được thấy vào 18 giờ sau khi bắt
đầu động dục nhưng sau đó sự thay đổi kích thước lại biến động. Kích thước
của nang chưa đủ đánh giá vì đường kính nang khá biến động lúc xuất noãn.
Nang noãn
bậc 3
Nang bậc hai

Nang bậc hai
Nang bậc ba
7
Màu của nang noãn trưởng thành là màu hồng vỏ sò, do mạng mạch máu
nằm dưới bề mặt nang noãn. Vùng trong suốt của đỉnh nang noãn là nơi xuất
noãn. Khi xuất noãn, thành nang noãn vỡ và dịch hơi đỏ xuất hiện ở bề mặt
nang noãn. Điểm vỡ vẫn có thể thấy được vào ngày 12 sau động dục.
Động mạch xung huyết và tràn máu vào nang noãn dẫn tới noãn xuất
huyết, hiện tượng này thường xuất hiện trên heo. Khi xuất noãn, nang nhuộm
đỏ và đứt mạch máu, thành nang xẹp xuống và xuất hiện dịch đỏ trên bề mặt.
Khoảng 2 – 3 ngày trước động dục, nang noãn lớn nhanh, lúc này có sự
triển dưỡng của lớp màng bao trong của nang noãn và hòa tan một phần tế bào
hạt tụ nên noãn ở trạng thái tự do lơ lửng. Noãn tự trải qua giai đoạn giảm
nhiễm đầu tiên, nhân di chuyển về phía ngoại vi của tế bào và thể cực thứ nhất
được tạo ra. Lúc xuất noãn, thể cực thứ nhất được đẩy ra và trục của thể cực thứ
nhì được tạo nên.
2.2.3.2. Nang noãn chó [6]
Nang noãn bậc một có một lớp tế bào hình lập phương còn nang noãn
bậc hai gia tăng kích thước do tăng tế bào hạt và tạo xoang nang. Thông thường
nang noãn bậc hai có 2 noãn hoặc nhiều hơn. Nhiều báo cáo cho thấy nang noãn
đa noãn có 11 noãn, thông thường là 3 – 5 noãn.
Kích thước nang noãn gia tăng vào giai đoạn tiền động dục nên giai đoạn
này được xem là giai đoạn nang noãn trưởng thành. Vì phần lớn nang noãn nhỏ
thoái hóa, chỉ có một số nang noãn có kích thước > 2 mm. Những nang noãn
3 – 4 mm có khoảng 8 – 10 lớp tế bào hạt, lớp màng bao trong tăng mạch quản
và mô liên kết. Nang noãn 4 – 6 mm hơi phồng lên trên bề mặt buồng trứng.
Một đặc tính thống nhất của nang noãn trưởng thành ở chó là nếp gấp
sâu của lớp tế bào hạt, trong đó có cuộn mao quản ăn sâu vào lớp màng bao
trong và chuẩn bị tạo chất vàng.
Vào đầu giai đoạn động dục, nhiều nang noãn xuất noãn. Lúc thú bắt đầu
chịu đực, thể cực thứ nhất chưa được tạo. Noãn được phóng thích qua lỗ nhỏ
như lỗ đinh kim mà không có hiện tượng vỡ bao noãn. Noãn được phóng thích
có kính thước khoảng 77  99 μm, nếu kể cả vùng trong suốt thì khoảng 95 
110 μm, chứa những hạt có tính khúc xạ cao và nhiều hạt mỡ.

8
2.2.4. Nội tiết của nang noãn
Sự tăng trưởng, thành thục, xuất noãn và thể vàng hóa của nang phụ
thuộc vào nhiều yếu tố: kiểu chế tiết thích hợp, hàm lượng đủ và tỉ lệ phù hợp
của FSH (follicle stimulating hormone) và LH (luteinizing hormone) trong
huyết thanh. FSH giữ vai trò chủ đạo cho việc khởi đầu sự hình thành xoang
nang, kích thích quá trình nguyên phân của tế bào hạt và quá trình hình thành
dịch nang. Ngoài ra, FSH tăng khả năng cảm ứng của tế bào hạt đối với LH
bằng cách tăng số lượng các thụ thể LH. Ở heo, các thụ thể LH tăng từ 300
(trong các nang bé) và lên 10.000 (trong các nang lớn trước xuất noãn). Tăng
LH chuẩn bị cho quá trình thể vàng hóa của tế bào hạt.
Trong giai đoạn tạo nang bậc hai, sự tăng kích thước, tăng số tế bào hạt
và số nang noãn tịt bị ảnh hưởng bởi lượng kích dục tố. FSH kích thích tạo cầu
nối ở tế bào hạt. LH quan trọng hơn FSH trong phát triển nang bậc hai vì qua
thụ thể LH ở tế bào bao nang, khởi động sinh tổng hợp androgen để kích thích
tạo thụ thể FSH ở tế bào hạt, do đó tăng ảnh hưởng FSH lên nang bậc hai [34].
Ở giai đoạn này, người ta cũng phát hiện GH (growth hormone) làm tăng sự
phát triển in vitro của nang bậc hai trên chuột (Liu và cs, 1998) [14].
Trong giai đoạn tạo nang xoang, nang xoang giai đoạn sớm có thụ thể
FSH ở tế bào hạt nhưng chưa phụ thuộc vào kích dục tố. Ở giai đoạn này tế bào
bao nang tăng tiết steroid, trong khi tế bào hạt mất aromatase (loại enzyme biến
đổi androgen thành estrogen). Điều này chứng tỏ rằng progesteron và androgen
mà không phải estrogen là những hormon steroid được tạo bởi nang xoang giai
đoạn sớm. Trong nang xoang giai đoạn sau, có hiện tượng giảm FSH, nang
noãn tiết nhiều estradiol và inhibin và có khả năng xuất noãn. Những nang còn
lại phát triển bất thường và trở thành nang tịt.
Trong giai đoạn nang noãn trưởng thành, tuyến yên tiết LH tối đa và
nang có khả năng xuất noãn.



9

Hình 2.4: Nội tiết nang [36]

2.2.5. Sự trƣởng thành của noãn
2.2.5.1. Quá trình trƣởng thành
Trên heo, noãn nguyên bào bắt đầu giảm phân tạo noãn bậc hai, noãn
bậc hai tiếp tục phát triển đến giai đoạn nhân đôi nhiễm sắc thể và dừng lại đến
khi thú cái thành thục về tính. Khi heo cái xuất noãn, noãn tiếp tục phát triển
đến MII và chờ thụ tinh. Trên chó, noãn rụng trước khi tạo thể cực thứ nhất. Sự
tạo thể cực thứ nhất hoàn tất khoảng 48 – 60 giờ sau khi xuất noãn. Nếu được
thụ tinh, noãn sẽ hoàn thành giảm phân và phát triển phôi. Quá trình noãn phát
triển đến metaphase gọi là quá trình trưởng thành. Gồm 4 sự kiện xảy ra theo
thứ tự như sau: nhiễm sắc thể (NST) cô đặc, nhân con biến mất, vỡ màng nhân,
hình thành trục.
(1) Cô đặc NST
Đây là bước đầu tiên và quan trọng để phân phối đúng số NST vào noãn
và thể cực. Hirano và cs (1994) phát hiện một protein gọi là condensin liên
quan đến sự cô đặc NST [11]. Condensin làm tăng cấu trúc siêu xoắn của DNA.
Sutani và cs (1999) khẳng định rằng condensin được phosphoryl hóa và được
hoạt hóa bởi MPF (maturation promoting factor) [32]. Tuy nhiên, theo Hong
Thuy Bui và cs (2004), giai đoạn này không liên quan đến MPF mà liên quan
đến histon H3 (Ser 10) kinase [12]. Như ta biết, đơn vị cơ bản của NST là
nucleosome tức một đoạn DNA khoảng 200 bp bao quanh protein histon; histon
gồm 2 trong số 4 phân tử H2A, H2B, H3, H4. Đầu N của histon H3 liên quan
đến khả năng giữ ổn định sợi NST, bị phosphoryl hóa ở vị trí serine 10,
Pha nang noãn
10
sự kiện này cần thiết cho NST cô đặc lại (Wei và cs, 1999; de la Barre và cs,
2000) [35],[7].
(2) Nhân con biến mất
Trong giai đoạn từ MI đến MII nhân không xuất hiện, nhưng xuất hiện
vào giai đoạn tiền nhân ngay sau khi tinh trùng xâm nhập. Chất nhân dạng sợi
được giải phóng vào dịch nhân lúc nhân con biến mất, sau đó vào dịch tế bào
lúc vỡ màng nhân. Quá trình này được điều khiển bởi sự phosphoryl hóa và
dephosphoryl hóa một protein trong nhân. Noãn heo lấy nhân vẫn có hiện tượng
cô đặc NST, màng nhân biến mất và hình thành trục (Fulka và cs, 2003) [10].
Do đó, có thể nhân trong noãn không quan trọng lắm, ít nhất vào giai đoạn
trưởng thành.
(3) Vỡ màng nhân GVBD (germinal vesical breakdown)
Màng nhân là màng đôi gồm 2 lớp lipid, lớp trong tạo bởi 3 mảnh
A,B,C, có ở động vật có xương sống, là vị trí kết hợp của MPF. GVBD xảy ra
khi 3 mảnh này biến mất; MPF hoạt hóa sẽ phosphoryl hóa các phân tử của
mảnh, phá vỡ trạng thái polymer thành dimer. Màng nhân bị vỡ, mạng lưới nội
chất gắn với màng nhân ngoài cũng vỡ.
(4) Tạo trục metaphase
Trong quá trình trưởng thành, trục được tạo hai lần, MI và MII. Trục MI
xuất hiện sau tác dụng của MPF và hoàn thành khi MAP kinase được hoạt hóa.
MPF phosphoryl hóa protein liên kết với vi ống, gồm α và β tubulin, do đó tăng
biến đổi của chúng.
Trong nguyên phân, hai trung thể nhân đôi và đi về hai cực tế bào. Vi sợi
tỏa ra từ hai cực và tìm bắt cặp NST chị em. Cyclin B gắn với vi ống, MAP
kinase gắn với cực. Giảm phân ở noãn khác với nguyên phân ở tế bào sinh
dưỡng: không có trung thể, giống tế bào thực vật. Trên heo, sau GVBD, NST
tạo dạng đám bụi, theo Motlik và Fulka mô tả đây là giai đoạn hướng cực
muộn. Vi ống bị cắt và tỏa xung quanh đám bụi này.
2.2.5.2. Các chất liên quan
(1) MPF
Theo Masui và Markert (1971), progesteron gây trưởng thành noãn khi
được cung cấp bên ngoài noãn, nhưng thất bại khi tiêm vào noãn [19]. Do đó,
11
chỉ tế bào chất gần bề mặt noãn nhận tín hiệu hormon. Noãn sau khi nhận tín
hiệu hormon đã tạo yếu tố thúc đẩy trưởng thành gọi là MPF (maturation
promoting factor hoặc M phase promoting factor).
MPF gồm một đơn vị thủy phân Cdc2 và đơn vị điều hòa cyclin B. MPF
xuất hiện trong giai đoạn cô đặc NST, biến mất nhân con. Trong giai đoạn vỡ
màng nhân, Cdc2 kinase kích hoạt, nhưng theo Kubelka và cs (2002), màng
nhân vẫn vỡ mà không có Cdc2 kinase dưới một số điều kiện đặc biệt, trong khi
đó MAP kinase xuất hiện với hoạt động yếu [13]. Giai đoạn tạo trục chỉ bắt đầu
khi Cdc2 kinase hoạt động và hoàn tất khi xuất hiện MAP kinase.
(2) MAPK (mitogen activated protein kinase)
MAPK là kinase khác liên quan đến trưởng thành noãn. Noãn GV chứa
MAPK dạng bất hoạt, được phosphoryl hóa và hoạt hóa ở giai đoạn GVBD.
2.3. IVM (In vitro maturation)
2.3.1 . Lịch sử IVM [23]
Năm 1935, Pincus và Enzmann tách noãn thỏ chưa trưởng thành khỏi sự
ức chế của nang noãn, cho phép noãn đạt tới trưởng thành khi nuôi cấy in vitro.
Năm 1983, Minato và Toyoda (Nhật) và Schroeder và Eppig (Mỹ) cho
rằng noãn chuột được trưởng thành in vitro có khả năng tạo phôi nếu được thụ
tinh.
Năm 1983, Lenz và cs cho rằng 39
o
C là nhiệt độ tối ưu để noãn bò
trưởng thành in vitro.
Năm 1988, Lu và cs cho ra đời con bê từ kỹ thuật chín noãn và thụ tinh
in vitro.
Năm 1996, Eppig và O’Brien cho ra đời chuột con sau khi dùng kỹ thuật
IVM, thụ tinh in vitro và chuyển phôi vào tử cung chuột mẹ.
2.3.2 . Hệ thống IVM
Hệ thống nang noãn giữ cấu trúc không gian 3 chiều của nang, bảo đảm
hình thái và chức năng của nang để giữ noãn tăng trưởng và trưởng thành.
Bolamba và cs (1998) nuôi noãn chó trong đĩa phủ 0,6 % agar để tránh mất tế
bào hạt. Kết quả là noãn chó đạt MII khoảng 8,7 % ở nang xoang giai đoạn sớm
và 11,5 % ở nang xoang. Điều đó cho thấy rằng, nếu sự trao đổi các yếu tố
trong buồng trứng bị gián đoạn, khả năng giảm phân bị giảm [5].
12
Hệ thống giọt là hệ thống phổ biến nhất, noãn được nuôi trong giọt môi
trường phủ dầu khoáng. Cần quan tâm đến tỉ lệ giữa số noãn nuôi và thể tích
môi trường nuôi cấy. Nếu noãn quá nhiều, giảm phân bị ức chế do tế bào hạt tụ
tiết nhiều yếu tố ảnh hưởng giảm phân và ngăn cản chúng tăng kích thước, từ
đó giảm việc gãy các cầu nối. Sự gãy các cầu nối này sẽ gián đoạn sự truyền
thông tin giữa noãn và tế bào hạt và do đó sẽ tăng giảm phân [28]. Nếu ít noãn,
tỉ lệ giảm phân cũng giảm. Tỉ lệ giữa số noãn nuôi và môi trường nuôi tối ưu là
1:10. Trên chó tỉ lệ giảm phân là 16,2 % nếu nuôi 10 noãn /100 µl, và 4,6 %
nếu 5 noãn/100 µl [25].
Hệ thống tế bào đơn lớp tức là noãn được nuôi với tế bào ống dẫn trứng
đơn lớp. Bogliolo và cs (2002) nuôi noãn chó đạt 23,2 % sau 72 giờ [4].
Hệ thống nuôi với ống dẫn trứng, rất tốt vì gần giống điều kiện in vivo,
có nhiều tế bào hơn so với hệ thống tế bào đơn lớp, có sự tiếp xúc giữa lớp nhầy
và noãn, và một số yếu tố dinh dưỡng cũng như yếu tố tăng trưởng cần cho
trưởng thành. Luvoni và cs (2003) nuôi noãn chó đạt 31,9 % sau 30 giờ nuôi
[15].
2.3.3 . Yếu tố ảnh hƣởng IVM
2.3.2.1. Thời gian
Buồng trứng được thu từ lò mổ là nguồn tế bào trứng cung cấp cho IVM.
Thời gian vận chuyển đến phòng thí nghiệm ảnh hưởng rất lớn đến tế bào trứng.
Buồng trứng giữ ấm 30 – 37
o
C trong nước muối sinh lý vào khoảng 1 – 2 giờ.
Thời gian nuôi trứng rất quan trọng, trên heo nuôi 44 – 48 giờ. Trên chó còn
nhiều tranh cãi, noãn chó nuôi trong hệ thống giọt sau 72 giờ thoái hóa 74,3 %
và sau 96 giờ thoái hóa 94,8 % [16].
2.3.3.2. Nồng độ oxi và nhiệt độ
Oxi ảnh hưởng lớn đến trưởng thành nhân trên chuột và bò, mức oxi 5 %
tốt hơn 20 % trong không khí [9].
Nhiệt độ nuôi cấy dao động 37 – 39
o
C.
2.3.2.2. Môi trƣờng nuôi
Có hai loại môi trường nuôi cấy, môi trường đơn giản và môi trường
phức tạp. Môi trường đơn giản là dung dịch muối bổ sung nguồn năng lượng
13
như pyruvate, lactate, glucose, môi trường phức tạp thêm amino acid, vitamin,
và một số phân tử khác.
Môi trường đơn giản là mKRB (modified Krebs Ringer Bicarbonate),
SOF (synthetic oviductal fluid), môi trường phức tạp là TCM 199 (tissue cell
medium). Trong số các môi trường, TCM 199 là môi trường tốt nhất [31].
2.3.3.4. Sự trƣởng thành của động vật giết mổ
Các trứng thu từ heo trưởng thành có khả năng phát triển trong điều kiện
in vitro hơn so với trứng thu từ thú chưa trưởng thành. Noãn hoàn thành giảm
phân 24,6 % khi thu noãn ở pha nang noãn của chu kỳ động dục, 19,6 % ở thời
kỳ yên tĩnh, 16,4 % thời kỳ không động dục [27].
2.2.3.5. Stress
Yếu tố môi trường gây stress như nhiệt độ quá cao ảnh hưởng sinh sản
cá thể đực và cái. Nhiệt độ cao làm thay đổi tăng trưởng của nang noãn và chất
lượng noãn.
2.3.3.6. Dinh dƣỡng cá thể cái
Noãn nuôi trong môi trường dịch nang noãn thu nhận từ heo cái cho ăn
đầy đủ có tỉ lệ chín nhân cao hơn so với các noãn nuôi trong dịch nang noãn từ
heo cho ăn hạn chế.
2.3.3.7. Dầu khoáng hay dầu parafin
Noãn nuôi trong môi trường có phủ dầu khoáng sẽ bị lớp dầu hút
hormon steroid do tế bào hạt tụ tiết ra, đây là hormon quan trọng cho khả năng
phát triển của noãn. Do đó, sẽ kìm hãm sự trưởng thành nhân. Đối với dầu
silicon, Zn là chất nhiễm độc trong môi trường tạo giọt.
2.3.3.8. Kích thƣớc nang noãn
Kích thước nang ảnh hưởng rất lớn đến tỉ lệ thành công IVM, vì kích
thước khác nhau thì nang noãn ở các giai đoạn phát triển khác nhau. Theo Mao
và cs (2003), tỉ lệ thành công IVM trên noãn heo là 13,8 %, 26,3 %, 33,4 % trên
các noãn có đường kính lần lượt là 2 – 3 mm, 3,1 – 5 mm, 5,1 – 7 mm [17].
2.3.3.9. Phƣơng pháp lấy noãn
Để lấy noãn ra khỏi nang, có nhiều cách, trong đó cắt và hút là hai cách
phổ biến nhất. Hút là dùng kim và syringe đâm vào nang và dùng lực hút để
14
hút noãn. Cách này thu noãn nhanh nhưng tỉ lệ noãn loại A và tỉ lệ thành công
thấp, vì làm mất lực liên kết giữa noãn và tế bào hạt tụ.
Cắt là dùng dao xẻ nang noãn và vuốt nhẹ để noãn tách ra khỏi liên kết
với tế bào của nang. Cách này chậm nhưng tỉ lệ noãn loại A và tỉ lệ thành công
cao. Nếu thu noãn heo bằng phương pháp hút, tỉ lệ trứng ở GVI thấp hơn
(45 %) so với cách cắt (78 %) [33].
2.3.4. Thành phần môi trƣờng IVM
2.3.4.1. Thành phần chính
(1) Nƣớc
Nước là thành phần chính cho mọi môi trường. Chất lượng của nước rất
quan trọng, nước có chất lượng tốt phải qua hệ thống chưng cất, siêu lọc nhằm
loại bỏ các chất khoáng và ion tồn tại trong nước. Hấp khử trùng để tiệt trùng.
(2) Nguồn năng lƣợng
Thực nghiệm cho thấy glucose, lactate, pyruvate là nguồn cơ chất năng
lượng ngoại sinh quan trọng nhất cho trứng và phôi. Tuy nhiên, tùy giai đoạn
phát triển mà trứng hay phôi có nhu cầu năng lượng với từng cơ chất khác nhau.
Thêm glucose vào môi trường chứa pyruvate (tỉ lệ 5,5 Mm : 1 mM) làm
tăng tỉ lệ MII trên noãn chuột [8]. Thêm 11 mM glucose vào môi trường nuôi
cấy không tăng tỷ lệ thành công IVM trên chó. Glucose không đủ cung cấp
năng lượng cho noãn chó cũng như noãn chuột, hoặc nồng độ glucose cao
(20 %) ảnh hưởng xấu lên phát triển nhân của noãn chó. Glucose tăng kích cỡ
tế bào hạt và trưởng thành nhân trên noãn bò.
Pyruvate cũng có vai trò thúc đẩy giảm phân, noãn chuột đạt MII
(71,9 %) khi nuôi với pyruvate cao hơn đối chứng (19,6 %) [18].
(3) Nguồn protein
Vai trò protein trong môi trường không chỉ là nguồn đạm có sẵn mà còn
là chất hấp thụ ion kim loại độc.
Huyết thanh
Một số loại huyết thanh thường được sử dụng là huyết thanh thai bò
(FCS - fetal calf serum), huyết thanh bò lên giống (ECS - estrus cow serum),
huyết thanh bò trưởng thành (BAS - bovine adult serum). FCS tăng khả năng
sống của noãn chó in vitro khi thêm > 10 % mà không có tác dụng gây trưởng

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét