Kho¸ luËn 5
mục đích quản lý, hạch toán, kiểm tra, kiểm soát chi phí phát sinh, …Ở các góc
độ khác nhau. Vì thế các cách phân loại chi phí tồn tại, bổ sung cho nhau và giữ
vai trò nhất định trong quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
• Phân theo yếu tố chi phí:
Cách phân loại này phục vụ cho việc tập hợp, quản lý chi phí theo nội
dụng kinh tế mà không xét đến công dụng cụ thể, địa điểm phát sinh. Thực chất,
chỉ có 3 yếu tố chi phí là chi phí về lao động sống, chi phí về đối tượng lao động
và chi phí về tư liệu lao động. Tuy nhiên, để cung cấp thông tin về chi phí một
cách cụ thể hơn nhằm phục vụ cho việc xây dựng và phân tích định mức vốn lưu
động, việc lập, kiểm tra và phân tích dự toán chi phí, các yếu tố chi phí trên có
thể được chi tiết hoá theo nội dùng kinh tế cụ thể của chúng với mức chi tiết tuỳ
theo yêu cầu và trình độ quản lý ở mỗi nước, mỗi thời kỳ. Ở Việt Nam, theo quy
định hiện hành, toàn bộ chi phí được chia làm 7 yếu tố chi phí sau:
- Yếu tố chi phí nguyên liệu, vật liệu: Bao gồm toàn bộ giá trị nguyên vật
liệu chính, nguyên vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ, …Sử dụng
vào sản xuất kinh doanh (loại trừ giá trị vật liệu dùng không hết nhập lại kho và
phế liệu thu hồi).
- Yếu tố chi phí nhiên liệu, động lực sử dụng vào quá trình sản xuất kinh
doanh trong kỳ (trừ số dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi)
- Yếu tố chi phí tiền lương và các khoản phụ cấp lương: Phản ánh tổng số
tiền lương và phụ cấp mang tính chất lương phải trả cho toàn bộ công nhân, viên
chức.
- Yếu tố chi phí BHXH, BHYT, KPCĐ: Phản ánh phần BHXH, BHYT,
KPCĐ, theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lương và phụ cấp lương phải trả công
nhân viên.
- Yếu tố chi phí khấu hao TSCĐ: Phản ánh tổng số khấu hao TSCĐ phải
trích trong kỳ của tất cả các tài sản cố định sử dụng cho SXKD trong kỳ.
Hoàng Thái Hà Lớp Kế toán 46D
Kho¸ luËn 6
- Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: Phản ánh toàn bộ chi phí dịch vụ mua
ngoài dùng vào SXKD.
- Yếu tố chi phí khác bằng tiền: Phản ánh toàn bộ chi phí khác bằng tiền
chưa phản ánh ở các yếu tố trên dùng vào hoạt động SXKD trong kỳ.
• Phân loại khoản mục chi phí trong giá thành sản xuất sản phẩm
Cách phân loại này dựa vào công dụng kinh tế của chi phí và mức phân bổ
chi phí cho từng đối tượng. Theo quy định hiện hành ở Việt Nam, giá thành sản
phẩm bao gồm 5 khoản mục chi phí:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Phản ánh toàn bộ chi phí về nguyên,
vật liệu chính, phụ, nhiên liệu,…tham gia trực tiếp vào việc sản xuất, chế tạo sản
phẩm hay thực hiện lao vụ, dịch vụ
- Chi phí nhân công trực tiếp: Gồm tiền lương, phụ cấp lương và các
khoản trích cho các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn theo
tỷ lệ với tiền lương phát sinh.
- Chi phí sản xuất chung: Là những chi phí phát sinh trong phạm vi phân
xưởng sản xuất (trừ chi phí nguyên vật liệu và nhân công trực tiếp). Chi phí sản
xuất chung thường bao gồm: chi phí lao động gián tiếp phục vụ quản lý sản xuất
tại phân xưởng, chi khấu hao máy móc thiết bị, TSCĐ dùng trong hoạt động sản
xuất, chi phí dịch vụ thuê ngoài như điện nước, sửa chữa, bảo hiểm tài sản tại
xưởng sản xuất,…
- Chi phí bán hàng: gồm toàn bộ những chi phí phát sinh liên quan đến tiêu
thụ sản phẩm, hàng hóa, lao vụ. Chi phí bán hàng thường bao gồm: chi phí toàn
bộ lao động trực tiếp và quản lý trong hoạt động bán hàng, chi phí bao bì sản
phẩm, chi phí thuê ngoài liên quan đến việc bán hàng,…
- Chi phí QLDN: gồm những chi phí phát sinh liên quan đến công việc
quản trị ở phạm vi toàn doanh nghiệp. Chi phí QLDN gồm: chi phí tiền lương
của lao động, quản lý ở các bộ phận, chi phí bằng tiền phục vụ chung toàn DN,
Hoàng Thái Hà Lớp Kế toán 46D
Kho¸ luËn 7
1.1.2. Giá thành sản phẩm
1.1.2.1. Khái niệm về giá thành sản phẩm
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí
về lao động sống và lao động vật hoá có liên quan đến khối lượng công tác, sản
phẩm, lao vụ đã hoàn thành trong kỳ.
Quá trình sản xuất là một quá trình thống nhất bao gồm 2 mặt: Mặt hao phí
sản xuất và kết quả sản xuất. Tất cả những khoản chi phí phát sinh trong kỳ, chi
phí kỳ trước chuyển sang, chi phí trích trước có liên quan đến khối lượng sản
phẩm, lao vụ, dịch vụ đã hoàn thành trong kỳ sẽ tạo nên chỉ tiêu giá thành sản
phẩm. Nói cách khác, giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ các
khoản chi phí doanh nghiệp bỏ ra bất kể ở kỳ nào nhưng có liên quan đến khối
lượng công việc, sản phẩm đã hoàn thành trong kỳ.
Giá thành sản phẩm là một phạm trù của sản xuất hàng hoá phản ánh
lượng giá trị của những lao động sống và lao động vật hoá đã thực sự chi ra cho
sản xuất sản phẩm hoàn thành và tiêu thụ sản phẩm. Trong giá thành sản phẩm
chỉ bao gồm những chi phí tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản
xuất, tiêu thụ phải được bồi hoàn để tái sản xuất ở doanh nghiệp mà không bao
gồm những chi phí phát sinh trong kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. Những chi
phí đưa vào giá thành sản phẩm phải phản ánh giá trị thực của các tư liệu sản
xuất tiêu dùng cho sản xuất, tiêu thụ và các khoản chi tiêu khác có liên quan đến
bù đắp giản đơn lao động sống.
1.1.2.2. Phân loại giá thành sản phẩm
• Xét theo thời điểm tính và nguồn số liệu
- Giá thành kế hoạch: Giá thành kế hoạch được xác định trước khi bước
vào sản xuất kinh doanh trên cơ sở giá thành thực tế kỳ trước và các định mức,
các dự toán chi phí của kỳ kế hoạch.
Hoàng Thái Hà Lớp Kế toán 46D
Kho¸ luËn 8
- Giá thành định mức: Giá thành định mức cũng được xác định trước khi
bắt đầu sản xuất sản phẩm. Tuy nhiên, khác với giá thành kế hoạch, giá thành
định mức lại được xây dựng trên cơ sở định mức chi phí hiện hành tại từng thời
điểm nhất định trong kỳ kế hạch (thường là ngày đầu tháng) nên giá thành định
mức luôn thay đổi phù hợp với những thay đổi của các định mức chi phí đạt
được trong quá trình sản xuất sản phẩm.
- Giá thành thực tế: Giá thành thực tế là chỉ tiêu được xác định sau khi kết
thúc quá trình sản xuất sản phẩm trên cơ sở các chi phí phát sinh trong quá trình
sản xuất sản phẩm.
• Theo phạm vi phát sinh chi phí
- Giá thành sản xuất (giá thành công xưởng): Là chỉ tiêu phản ánh tất cả
những chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong
phạm vi phân xưởng, bộ phận sản xuất, bao gồm chi phí vật liệu trực tiếp, nhân
công trực tiếp và chi phí sản xuất chung.
Giá thành sản xuất phản ánh các loại chi phí tạo ra sản phẩm. Giá thành
sản xuất được sử dụng để hạch toán thành phẩm nhập kho và là căn cứ để xác
định giá vốn hàng bán và lãi gộp trong kỳ của đơn vị; giá thành sản xuất cũng là
cơ sở trong việc định giá bán sản phẩm.
- Giá thành tiêu thụ (giá thành toàn bộ) là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các
khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm (chi phí
sản xuất, quản lý và bán hàng). Do vậy, giá thành tiêu thụ còn gọi là giá thành
đầy đủ hay giá thành toàn bộ, và được tính theo công thức:
Giá thành toàn Giá thành Chi phí quản Chi phí
bộ của sản = sản xuất + lý doanh + tiêu thụ
phẩm tiêu thụ sản phẩm nghiệp sản phẩm
Ở đây, cần chú ý rằng người ta thường chỉ tính chi phí toàn bộ cho tất cả
các sản phẩm chứ không tính cho một sản phẩm vì chi phí bán hàng và chi phí
Hoàng Thái Hà Lớp Kế toán 46D
Kho¸ luËn 9
quản lý là chi phí thời kỳ, phát sinh trong một kỳ liên quan đến nhiều đối tượng
nên việc tính cho một sản phẩm chỉ mang tính ước chừng.
Giá thành toàn bộ phản ánh đầy đủ các loại chi phí bỏ ra cho việc sản
xuất và tiêu thụ sản phẩm chứ không chỉ giới hạn phạm vi phát sinh chi phí trong
việc sản xuất như giá thành sản xuất. Giá thành toàn bộ được xác định và tính
toán khi sản phẩm, công việc, lao vụ đã được xác định là tiêu thụ. Giá thành toàn
bộ là căn cứ để xác định, tính toán lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp.
Cách phân loại giá thành sản phẩm theo phạm vi phát sinh chi phí giúp
cho việc nhìn nhận và xác định đúng các khoản mục chi phí cấu thành nên giá
thành sản xuất sản phẩm. Điều này liên quan đến việc tính toán các chỉ tiêu giá
vốn, giá bán và kết quả kinh doanh sau tiêu thụ.
1.1.3. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Chi phí sản xuất là toàn bộ các khoản hao phí tính bằng tiền về lao động
sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp bỏ ra để thực hiện quá trình sản xuất
gắn với một kỳ nhất định, có đặc điểm là luôn vận động mang tính đa dạng và
phức tạp gắn liền với tính đa dạng, phức tạp của nghành nghề sản xuất, quy trình
công nghệ.
Giá thành sản phẩm là toàn bộ các khoản hao phí về lao động sống và lao
động vật hóa có liên quan đến một khối lượng sản phẩm, dich vụ nhất định đã
hoàn thành trong kỳ.
Giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ với nhau. Nếu
xét về bản chất, cả hai đều là hao phí về tư liệu lao động, đối tượng lao động và
sức lao động. Nhưng chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm lại khác nhau ở chỗ:
- Về phạm vi, CPSX gắn liền với quá trình sản xuất xét trong từng kỳ,
còn giá thành sản xuất gắn liền với sản phẩm hoàn thành tính cho đơn
vị sản phẩm. Chỉ tiêu giá thành sản phẩm được tính với khối lượng
Hoàng Thái Hà Lớp Kế toán 46D
Kho¸ luËn 10
sản phẩm hoàn thành khi kết thúc một quy trình hay một giai đoạn sản
xuất chứ không tính cho sản phẩm còn nằm trên dây chuyền sản xuất.
- Về bản chất nguồn hình thành tài sản: CPSX là sự tiêu tốn nguồn lực,
làm giảm nguồn lực của doanh nghiệp trong một kỳ cụ thể; liên quan
đến kết quả lãi lỗ trong kỳ, được phản ánh trên Báo cáo kết quả kinh
doanh dưới các khoản mục chi phí. Còn giá thành hình thành nên
nguồn lực doanh nghiệp, phản ánh trên Bảng cân đối kế toán dưới các
khoản mục tài sản; khi sản phẩm được tiêu thụ thì giá thành chuyển
sang giá vốn và ghi nhận và Báo cáo kết quả kinh doanh.
- Về lượng, CPSX trong kỳ liên quan đến cả sản phẩm hoàn thành, sản
phẩm còn đang dở dang cuối kỳ và sản phẩm hỏng; còn giá thành sản
phẩm liên quan đến cả chi phi sản xuất phát sinh trong kỳ và CPSX
của sản phẩm dở dang kỳ trước chuyển sang.
Mối quan hệ giữa CPSX và giá thành sản phẩm được phản ánh qua sơ đồ
sau:
Sơ đồ 01: Mối quan hệ giữa CPSX và giá thành sản phẩm
Như vậy, ta có:
Tổng giá Chi phí Chi phí sản xuất phát Chi phí
thành sản = sản xuất + sinh trong kỳ (đã trừ - sản xuất
xuất SP dở dang các khoản thu hồi ghi dở dang
hoàn thành đầu kỳ giảm chi phí) cuối kỳ
Khi giá trị sản phẩm dở dang (chi phí sản xuất dở dang) đầu kỳ và cuối kỳ
bằng nhau hoặc các ngành sản xuất không có sản phẩm dở dang thì tổng giá
thành sản phẩm bằng tổng chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ.
Hoàng Thái Hà Lớp Kế toán 46D
CPSX dở dang đầu kỳ CPSX phát sinh trong kỳ
Giá thành sản phẩm sản xuất CPSX dở dang cuối kỳ
Kho¸ luËn 11
1.1.4. Nhiệm vụ kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Để phát huy vai trò của kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm phục vụ cho công tác quản lý chi phí, giá thành nói riêng và công tác
quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung, kế toán cần thực hiện tốt các
nhiệm vụ sau:
- Xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
phù hợp với đặc thù của doanh nghiệp và yêu cầu quản lý.
- Tổ chức vận dụng các tài khoản kế toán để hạch toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm phù hợp với phương pháp kế toán hàng tồn kho mà
doanh nghiệp đã lựa chọn.
- Tổ chức kiểm kê và đánh giá sản phẩm dở dang khoa học, hợp lý, xác
định giá thành và hạch toán giá thành sản phẩm hoàn thành trong kỳ một cách
chính xác và đầy đủ.
- Lập báo cáo chi phí sản xuất theo yếu tố, định kỳ tổ chức phân tích chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của doanh nghiệp.
1.2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT
VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM
1.2.1. Đối tượng kế toán CPSX và đối tượng tính giá thành sản phẩm
1.2.1.1. Đối tượng kế toán chi phí sản xuất
Đối tượng tập hợp CPSX là phạm vi giới hạn nhất định tập hợp CPSX phát
sinh. Phạm vi tập hợp này thường dựa vào tính chất quy trình công nghệ, loại
hình sản xuất, đặc điểm sản phẩm,…mà có thể là tập hợp theo phân xưởng sản
xuất, theo đơn đặt hàng, theo quy trình công nghệ, theo sản phẩm.
Việc xác định đối tượng hạch toán CPSX là xác định giới hạn tập tập hợp
chi phí và thực chất là xác định nơi phát sinh chi phí và nơi chịu chi phí. Mục
Hoàng Thái Hà Lớp Kế toán 46D
Kho¸ luËn 12
đích của việc này là nhằm giới hạn địa điểm phát sinh chi phí cần được tập hợp
để phục vụ cho việc quản lý CPSX và xác định giá thành sản xuất. Đối tượng
hạch toán CPSX có thể từng phân xưởng, đội, tổ sản xuất, từng giai đoạn nhất
định của quy trình công nghệ, từng sản phẩm, nhóm sản phẩm hoặc từng chi tiết
của sản phẩm, lao vụ.
1.2.1.2. Đối tượng tính giá thành sản phẩm
Xuất phát từ nguyên tắc bù đắp CPSX để thực hiện quy trình tái sản xuất,
đòi hỏi sản phẩm SX sản phẩm gì, lao vụ gì thì phải tính giá thành sản phẩm và
lao vụ đó.
Đối tượng tính giá thành sản phẩm là khối lượng sản phẩm, dịch vụ, lao vụ
hoàn thành nhất định mà sản phẩm cần phải tính tổng giá thành và giá thành đơn
vị. Xác định đối tượng tính giá thành là việc xác định sản phẩm, bán thành phẩm
công việc, lao vụ nhất định đòi hỏi phải tính giá thành một đơn vị. Đối tượng đó
có thể là sản phẩm cuối cùng của quá trình sản xuất (thành phẩm) hay kết thúc
một giai đoạn sản xuất (bán thành phẩm).
Do sự khác nhau cơ bản về giới hạn tập hợp chi phí trong hạch toán chi phí
sản xuất - tức đối tượng hạch toán chi phí sản xuất – và sản phẩm hoàn thành cần
phải tính giá thành một đơn vị - tức đối tượng tính giá thành nên phân biệt được
hai đối tượng này. Tuy nhiên, có thể thấy mối quan hệ giữa đối tượng hạch toán
chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm thể hiện như sau:
- Một đối tượng hạch toán CPSX ứng với một đối tượng tính giá
thành sản phẩm như trong quy trình công nghệ sản xuất là giản đơn.
- Một đối tượng hạch toán CPSX ứng với nhiều đối tượng tính giá
thành sản phẩm như trong các quy trình công nghệ sản xuất tạo ra
nhiều loại sản phẩm.
Hoàng Thái Hà Lớp Kế toán 46D
Kho¸ luËn 13
- Nhiều đối tượng hạch toán CPSX ứng với một đối tượng tính giá
thành sản phẩm như trong quy trình công nghệ phức tạp gồm nhiều
giai đoạn khác nhau.
Việc xác định và phân biệt đối tượng kế toán CPSX và đối tượng tính giá
thành sản phẩm ngay cả khi chúng đồng nhất là một cần dựa vào các cơ sở:
- Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất là sản xuất giản đơn hay phức tạp
- Loại hình sản xuất là sản xuất đơn chiếc, sản xuất hàng loạt nhỏ hay sản
xuất hàng loạt với khối lượng lớn.
- Yêu cầu trình độ quản lý, tổ chức SXKD.
1.2.2. Phương pháp kế toán chi phí sản xuất và phương pháp tính giá
thành sản phẩm
1.2.2.1. Phương pháp kế toán chi phí sản xuất
Phương pháp kế toán chi phí sản xuất được sử dụng để tập hợp và phân
loại các chi phí sản xuất trong phạm vi giới hạn của đối tượng hạch toán
chi phí. Mỗi phương pháp hạch toán chi phí sản xuất ứng với một loại
đối tượng hạch toán chi phí sản xuất.
Về cơ bản, phương pháp hạch toán chi phí bao gồm các phương pháp hạch
toán chi phí theo sản phẩm, theo đơn đặt hàng, theo giai đoạn công nghệ, theo
phân xưởng, theo nhóm sản phẩm.
Về thực chất, khi vận dụng các phương pháp hạch toán chi phí sản xuất
trong công tác kế toán là việc kế toán mở các thẻ, sổ chi tiết hạch toán chi phí sản
xuất theo đối tượng đã xác định, phản ánh các chi phí theo từng đối tượng. Mỗi
phương pháp hạch toán chi phí ứng với một loại đối tượng hạch toán chi phí nên
tên gọi của phương pháp này biểu hiện đối tượng mà nó cần tập hợp và phân loại
chi phí.
Hoàng Thái Hà Lớp Kế toán 46D
Kho¸ luËn 14
Trình tự hạch toán chi tiết chi phí sản xuất: tuỳ theo từng đối tượng tập
hợp chi phí, công việc hạch toán chi tiết chi phí sản xuất có thể khác
nhau nhưng có thể khái quát lại qua các bước sau:
Bước 1: Mở sổ (hoặc thẻ) hạch toán chi tiết chi phí sản xuất theo từng đối
tượng tập hợp chi phí. Sổ chi tiết 621, 622, 627, 154, 631, 142, 242, 335, 641,
642 ghi căn cứ vào sổ chi tiết các tài khoản tháng trước và các chứng từ gốc, các
bảng phân bổ, bảng kê chi phí thep dự toán.
Bước 2: Tập hợp các chi phí phát sinh trong kỳ có liên quan cho từng đối
tượng hạch toán.
Bước 3: Cuối kỳ, tổng hợp toàn bộ chi phí phát sinh theo từng nội dung
thuộc từng đối tượng hạch toán, và lập thẻ tính giá thành sản phẩm theo từng loại
sản phẩm,
Trình tự hạch toán tổng hợp chi phí sản xuất: việc tập hợp chi phí sản
xuất phải được tiến hành theo một trình tự khoa học để phục vụ cho
việc tính giá thành sản phẩm nhanh chóng, kịp thời. Tuỳ theo đặc điểm
sản xuất của từng ngành nghề, từng doanh nghiệp, trình độ công tác
quản lý, hạch toán,… mà trình tự tập hợp chi phí có thể khác nhau,
nhưng có thể khái quát chung qua các bước:
Bước 1: Tập hợp các chi phí cơ bản có liên quan trực tiếp theo từng đối
tượng sử dụng.
Bước 2: Tính toán và phân bổ lao vụ các ngành sản xuất phụ cho từng đối
tượng sử dụng.
Bước 3: Tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung cho các loại sản phẩm
có liên quan.
Bước 4: Tính giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ, tính tổng giá thành và giá
thành đơn vị sản phẩm.
1.2.2.2. Phương pháp tính giá thành sản phẩm
Hoàng Thái Hà Lớp Kế toán 46D
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét