Về mặt pháp lý ngân hàng không cho vay mà là mua một trái quyền,
ngân hàng bỏ tiền ra ứng trớc giá trị của một thơng phiếu cha đến hạn thanh
toán đổi lại ngân hàng đợc nắm quyền sở hữu và có quyền truy đòi khi đến hạn
thanh toán, thủ tục chiết khấu cũng khác thủ tục vay va không có hợp đồng tín
dụng.
+ Chiết khấu thơng phiếu: Là một nghiệp vụ tín dụng, vì nó, vì nó đem
lại ngay cho khách hàng một số tiền bình thờng mà chỉ đợc chi trả khi nó đến
hạn thanh toán trong thơng phiếu.
Nhng về mặt pháp lỳ thì không phải là một khoản cho vay, vì ngân hàng
không cho khách hàng vay số tiền mà khách hàng sẽ phải trả cho ngân hàng,
mà ở đây ngân hàng ứng trớc giá trị của một thơng phiếu cha đến hạn đổi lại
ngân hàng nắm quyền sở hữu thơng phiếu đó, vì vậy ngân hàng sẽ đợc đòi lại
khoản ứng trớc đây bằng cách truy đòi trái phiếu khi đến hạn.
Nh vậy chiết khấu là việc ngân hàng ứng trớc cho giá trị một thơng phiếu
đổi lấy việc chuyển giao quyền sở hữu thơng phiếu.
+ Mua uỷ nhiệm thu hay bao thanh toán hay còn gọi là cho vay uỷ
nhiêm thu: Đây là trờng hợp ngân hàng mua đứt các chứng quyền để đi đòi nợ,
bao thanh toán có thể đợc xác định là một hợp đồng, mà trong đó các ngân hàng
mua đứt các trái quyền của ngời bán đối với ngời mua là khách hàng của ngân
hàng.
1.1.2.3. Tín dụng qua chữ ký.
Tín dụng qua chữ ký có thể là kết quả của chữ ký của ngân hàng, trong
hình thức này ngân hàng không phải bỏ tiền ra ngay mà ngân hàng cam kết sẽ
trả một khoản nợ của khách hàng của mình khi mà khách hàng của mình không
thực hiện đúng cam kết trả nợ nh đã thoả thuận trớc, do bảo lãnh bằng uy tín
của mình nên bảo lãnh của ngân hàng còn gọi là bảo lãnh qua chữa ký.
Về tính pháp lý thì loại tín dụng này dựa vào luật bảo lãnh cũng nh các
cam kết bảo lãnh và tái bảo lãnh,
Bảo lãnh là đa ra những cam kết dới hình thức cấp chứng th và hạch toán theo
tài khoản ngoại bảng, các ngân hàng chỉ đa vào tài khoản nội bẳng khi mà ngân
hàng thực hiện chi trả cho khách hàng của mình ,bảo lãnh gồm:
+ Bảo lãnh ngân hàng : đây là hình thức rất quan trọng trong thực tế, nó
giúp cho ngời mua hàng không phải kí quỹ và đợc trả chậm tiền hàng, và ngời
bán tin tởng giao hàng cho ngời mua.
+ Tín dụng chấp nhận : trong loại hình này ngân hàng chấp nhận một hối
phiếu đòi tiền chính mình, và khách hàng của ngân hàng phải nộp số tiền cần
thiết ngay trớc khi hối phiếu đến hạn, lúc này chủ nợ có đợc sự đảm bảo thu đợc
khoản nợ của mình do ngân hàng đứng ra chấp nhận chi trả.
1.1.3. Phân loại tín dụng trong các ngân hàng thơng mại.
1.1.3.1. Phân loại tín dụng chung.
+ Tín dụng ngắn hạn, trung và dài hạn: sự khác nhau giữa tín dụng ngắn
hạn và tín dụng trung và dài hạn chính là thời gian giao vốn cho khách hàng sử
dụng, tuỳ theo luật của từng quốc gia và trong từng thời kỳ mà thời gian ngắn
hạn, trung và dài hạn đợc quy định khác nhau, ở Việt Nam hiện nay ngắn hạn là
nhỏ hơn hoặc bằng 12 tháng, còn trung và dài hạn là lớn hơn 12 tháng.
+ Tín dụng cấp ra kèm theo hoặc không kèm theo cam kết của ngân hàng.
- Tín dụng không kèm theo cam kết của ngân hàng: trong hình thức cấp
này thờng áp dụng cho ngắn hạn và ngăn hàng có thể chấm dứt hợp đồng cho
vay bất cứ lúc nào.
- Tín dụng phát sinh từ cam kết của ngân hàng: là hình thức mà ngân
hàng cam kết một khoản tín dụng cụ thể hay một hạn mức tín dụng mà ngân
(2)
hàng không thể tự do chấm dứt cam kết của mình khi phía khách hàng không có
những những vi phạm nh đã thoả thuận.
+ Tín dụng có thể huy động và không thể huy động.
- Tín dụng có thể huy động là những khoản tín dụng mà ngân hàng có thể
chuyển nhợng để thu hồi tiền trớc kì hạn đã định.
- Tín dụng không thể huy động: là tín dụng mà khi ngân hàng cấp ra là
không thể chuyển nhợng để thu hồi vốn trớc thời hạn định.
1.1.3.2.Tín dụng ngân quỹ.
Tín dụng ngân quỹ là để thoả mãn nhu cầu vốn lu động của các doanh
nghiệp.
+ Tín dụng huy động trái quyền: đây là việc huy động các trái quyền đối
với khách hàng trong nớc và nớc ngoài, khi đó khoản tín dụng này nhằm sử
dụng ngay giá trị của các trái quyền sau khi trừ đi khoản tiền chiết khấu mà lẽ
ra đến hạn mới đợc nhận.
+ Tín dụng ngân quỹ: nhằm đảm bảo sự cân đối ngân quỹ của doanh
nghiệp ngân quỹ của doanh nghiệp, doanh nghiệp thờng xuyên có nhu cầu này
vì có sự chênh lệch về thời gian các khoản chi phí và thu nhập của doanh
nghiệp.
- Tạm ứng hay vợt chi tài khoản: hình thức này giúp cho doanh nghiệp
đối phó với thiếu vốn lu động rất ngắn, trong hạn mức và thời gian quy định thì
nó đảm bảo cho tài khoản của doanh nghiệp d nợ hay vợt chi, hình thức này
không có sự đảm bảo nội tại nào mà chỉ căn cứ vào tình hình tài chính, mức độ
và điều kiện hoạt động của tài sản.
- Tín dụng ngân quỹ thuần tuý : khi khoản tín dụng có tính chất dài hơn
thì ngân hàng có thể cho vay theo hình thức có thể là vợt chi tài khoản với thời
gian dài hơn và kèm theo những điều kiện đảm bảo cho khoản vay đó hoặc có
(2)
thể chiết khấu chứng từ có kỳ hạn cố định, các chứng từ này có thể gọi là các
chứng từ tài chính. Về thời hạn thì có thể là tín dụng tuần hoàn để đáp ứng nhu
cầu thờng xuyên, hay thời vụ để đáp ứng nhu cầu có tính chất thời vụ của doanh
nghiệp.
1.1.1.3. Tín dụng thuê mua.
Hoạt động thuê mua bắt nguồn từ việc các doanh nghiệp sản xuất hoặc
cung cấp các thiết bị, nhà cửa lớn, thời gian sử dụng lâu dài, mặt khác do ngời
mua không đủ tiền hay họ chỉ cần sử dụng trong thời gian cha hết thời gian
khấu hao của thiết bị, do đó dã nảy sinh nhu cầu thu, để mở rộng tín dụng của
mình các ngân hàng thơng mại đã mua hoặc thuê các tài sản theo yêu cầu của
khách hàng rồi cho họ thuê lại.
Quá trình của nghiệp vụ cho thuê.
(1) khách hàng làm đơn gửi ngân hàng nêu yêu cầu về tài sản cần thuê sau khi
phân tích dự án và tình hình tài chính của khách hàng, ngân hàng kí hợp đồng
với khách hàng.
(2) Ngân hàng tìm kiếm nhà cung cấp để ký hợp đồng hay ngời thuê chỉ định
nhà cung cấp.
(3)
(4)
(1)
Ngân hàng (người cho thuê)
(2)
Nhà cung cấp
Khách hàng
(3) Khác hàng có thể gặp nhà cung cấp để nêu yêu cầu về quy các, chất lợng tài
sản thuê, nhận tài sản, nhà cung cấp có thể phải cam kết bảo hành cho ngời
thuê.
(4) Ngân hàng kiểm soát tình hình sử dụng tài sản thuê, thu tiền thuê hoặc thu
hồi tài sản nếu thấy ngời thuê vi phạm.
+ Ngân hàng có thể mua tài sản để cho thuê hay mua tài sản của ngời đi
thuê sau đó cho chính họ thuê lại hoặc thuê tài sản để cho thuê, trờng hợp này
đợc áp dụng khi mà thời gian trong hợp đồng thuê nhỏ hơn thời gian khấu hao
của tài sản, hay Ngân hàng có thể mua trả góp để cho thuê trong trờng hợp
Ngân hàng thiếu vốn.
+ Đặc điểm của nghiệp vụ này là: Ngân hàng cho thuê thờng là tài sản cố
định do đó nó là tín dụng trung và dài hạn, thời hạn thuê có 2 phần đó là thời
hạn cơ bản là thời hạn mà ngời đi thuê không đợc huỷ ngan hợp đồng do đó tiền
mà ngân hàng thu đợc phải đủ cả gốc và lãi và thời hạn gia hạn thêm là ngời đi
thuê có thể trả lại, mua lại, thuê tiếp , trong nghiệp vụ thuê mua thì Ngân
hang không cam kết bảo dỡng tài sản, không chịu trách nhiệm đối với những
thiệt hại với tài sản.
1.1.3.4.Tín dụng tài trợ cho ngoại thơng.
Trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới nh hiện nay, hoạt động tài trợ
ngoại thơng có vai trò rất quan trọng, nó thúc đẩy thơng mại quốc tế, làm giảm
rủi ro cho những nhà xuất nhập khẩu vì những khó khăn nh:địa lý, tôn giáo,
chính trị các hoạt động ngoại th ơng gồm:
+ Tài trợ xuất khẩu gồm có các hình thức:
- Tài trợ trong trờng nhờ thu kèm chứng từ: là nhà xuất khẩu chuyển các
chứng từ cho Ngân hàng nhờ thu, ngân hàng sẽ chuyển các chứng từ này tới
Ngân hàng cần giao dịch, khi đợc chấp nhận thanh toán thì nhà xuất khẩu mới
giao hàng.
- Nghiệp vụ chiết khấu hối phiếu: là chiết khấu các hối phiếu kỳ hạn
không thể huỷ ngang khi nó cha đến hạn và hối phiếu này đợc bên xuất nhập
khẩu không huỷ ngang.
-Tài trợ trong khuôn khổ chứng từ: là hình thức tín dụng Ngân hàng dựa
trên khuôn khổ chiết khấu bộ chứng từ khi cha đến hạn thanh toán, tỷ lệ thanh
toán dựa phơng thức chiết khấu. Thứ nhất là chiết khấu truy đòi nghĩa là Ngân
hàng có quyền đòi lại nhà xuất khẩu nếu đến hạn mà nhà xuất khẩu không
thanh toán do đó lãi suất thấp. Thứ hai là chiết khấu miễn truy đòi nghĩa là
Ngân hàng chịu hoàn toàn rủi ro nếu phía đối tác không thanh toán khi đao hạn
do đó lãi suất cao.
- Tam ứng cho nhà xuất khẩu: Ngân hàng có thể tài trợ bằng cách tạm
ứng một khoản tín dụng cho nhà xuất khẩu trong khuôn khổ. Chủ yếu là trong
ngắn hạn, nó phụ thuộc chủ yếu vào khả năng thanh toán của nhà xuất khẩu và
sự nhạy cảm và đảm bảo về giá cả của hàng hoá.
- Bao thanh toán: về bản chất đây là chiết khấu các khoản phải thu của
nhà xuất khẩu. đối với nghiệp vụ này Ngân hàng mua lại các khoản nợ, thanh
toán ngay cho nhà xuất khẩu, cung cấp các dịch vụ nh hạch toán sổ sách, uỷ
nhiệm thu, các khoản sao kê định kỳ. Đây là hình thức tài trợ trong ngắn hạn.
- Chiết khấu nợ dài hạn: đây là hình thức chiết khấu các khoản nợ dài hạn
do xuất khẩu máy móc thiết bị có giá trị lớn mà nhà xuất khẩu bán dới hình
thức trả góp và Ngân hàng sẽ mua lại khoản nợ này.
+ Tài trợ nhập khẩu:
- Tín dụng dành cho ngời đạt hàng và hiệp định khung tài trợ nhập khẩu,
đây là hình thức mà Ngân hàng nớc xuất khẩu ký hiệp định với Ngân hàng và
Chính phủ nớc khác về việc tài trợ cho Ngân hàng và Chính phủ những khoản
tín dụng tài trợ cho việc nhập khẩu hàng hoá, thiết bị công nghệ từ nớc tài trợ.
- Tín dụng thuê mua vợt qua biên giới: với hình thức này Ngân hàng cấp
cho doanh nghiệp một khoản tín dụng bằng cách mua hay thuê tài sản ở nớc
ngoài về cho thuê lại tài sản tài tại nớc mình, do đó ngời thuê không cần nhiều
vốn ngay mà vẫn đợc sử dụng những tài sản mình cần cho qua trình sản xuất.
- Cho vay mở L/C: đây là nghiệp vụ mà các nhà nhập khẩu yêu cầu Ngân
hàng mở th tín dụng sẽ trả tiền cho nhà xuất khẩu theo yêu cầu
Của nhà nhập khẩu khi họ đã trình đủ các chứng từ quy định, nh vậy khoản tín
dụng này đợc bảo đảm bằng bộ chứng từ hàng hoá, tuy nhiên ngân hàng có thể
yêu cầu nhà nhập khẩu phải ký quỹ hay không.
- Tạm ứng cho nhà nhập khẩu: Ngân hàng có thể tạm ứng cho nhà nhập
khẩu khi họ thiếu vốn để thanh toán. Tuy nhiên chỉ trong thời gian ngắn và đợc
bảo đảm bằng bộ chứng từ hàng hoá.
- Chấp nhận của Ngân hàng: với các hối phiếu có kì hạn sẽ đợc Ngân hàng
phía ngời nhập khẩu đóng dấu và chấp nhận thanh toán, khi ngời xuất khẩu có
nhu cầu về tiền, Ngân hàng nhập khẩu sẽ thanh toán ngay có triết khấu cho bên
bán và giữa lại hối phiếu, hối phiếu có thể đợc bán hay chiết khấu tại Ngân
hàng nhập khẩu khi đến hạn.
- Tín dụng chấp nhận hối phiếu dành cho nhà nhập khẩu: theo hình thức
này nhà nhập khẩu ký hợp đồng với ngân hàng phục vụ mình trên cơ sở hối
phiếu tự nhận nợ, hối phiếu này do Ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu phát hành
và chuyển đến cho nhà nhập khẩu, và nhà nhập khẩu dùng hối phiếu này để
chiết khấu nhận tiền tại Ngân hàng phục vụ mình.
1.2. Khu vực kinh tế t nhân:
Theo kinh nghiệm của các nớc phát triển nh Mỹ, Nhật thì khu vực kinh
tế t nhân có đóng góp vô cùng quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội cho
những quốc gia này, chẳng hạn nh Mỹ là một nớc mà nỗi tiếng có nhiều công ty
đa quốc gia nổi tiếng toàn cầu, nhng đó chỉ là bề nỗi của nền kinh tế mỹ, còn
khu vực kinh tế t nhân mới là đóng góp lớn cho nền kinh tế Mỹ, quay trở về
Việt Nam thì khu vực kinh tế t nhân đã hình thành và phát triển khá sớm nhng
do nhiều hoàn cảnh của đất nớc mà khu vực kinh tế này có những lúc đã bị lãng
quên trong một thời gian dài, nhng do cũng nh những nứơc khác trên thế giới,
khu vực này ngày càng khẳng định đợc vai trò của mình trong nên kinh tế nớc
nhà, và trong những năm gần đây đã đợc Đảng và Nhà nớc quan tâm tạo nhiều
điều kiện cho khu vực kinh tế này phát triển.
1.2.1. Chủ trơng của Đảng về kinh tế t nhân.
Khu vực kinh tế t nhân đã xuất hiện từ trớc cách mạng tháng 8, nhng khu
vực kinh tế này chỉ phát triển mạnh mẽ từ sau cách mạng tháng 8 và đã có
những đóng góp rất lớn cho miền bắc từ năm1955 1957 với chủ trơng phát
triển kinh tế nhiều thành phần trong đó co kinh tế cá thể và t bản t nhân và
thành phần kinh tế này đã có những đóng góp rất lớn cụ thể nh: năm 1955 có
51688 cơ sở công nghiệp t nhân và tiểu thủ công nghiệp, với số lợng công nhân
làm việc trong các cơ sở đó là 128622 công nhân, và đã tăng 54985 cơ sở và
161241 công nhân trong năm 1957, khu vực kinh tế t nhân đóng góp 81,9% giá
trị của toàn xã hội.
Từ năm 1958 chuyển sang thời kỳ xây dung chủ nghĩa xã hội, khu vực kinh tế t
nhân bị xoá bỏ hoàn toàn, tuy nhiên khu vực kinh tế này vẫn tồn tại dới hình
thức ngầm, khi xây dựng xã hội chủ nghĩa thì t bản t nhân bị quan niệm là thành
phần bóc lột do đó bị liệt vào dạng bị cải tạo tuy nhiên về thực tế thì thì thành
phần này vẫn tồn tại ngầm dù họ vẫn tham gia vào hợp tác xã, nhng khi về nhà
thì họ vẫn làm riêng tính về thu nhập của họ thì khi họ tham gia vào hợp tác chỉ
thu đợc 30 % 40% thu nhập của họ. Với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ và
mô hình kinh tế hợp tác không hiệu quả thì đến đại hội VI của đảng thì khu vực
này chính thức đợc công nhận trở lại và nó đã có những đóng góp vô cùng to
lớn cho đất nớc và hiện nay khu vực nay đang đợc sự quan tâm đặc biệt của
đảng và nhà nớc. Và điều này đợc thể hiện qua đại hội đảng IX của Đảng, đại
hội khẳng định: Kinh tế cá thể , tiểu chủ cả ở nông thôn và thành thị có vị tri
quan trọng lâu dài. Nhà nớc tạo điều kiện và giúp đỡ để phát triển Khuyến
khích phát triển kinh tế t bản t nhân rộng rãi trong những ngành nghề mà pháp
luật không cấm, tạo môi trơng kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý để
kinh tế t nhân phát triển trên những định hớng u tiên của nhà nớc xây dựng
tốt quan hệ giữa chủ doanh nghiệp và ngời lao động .
1.2.2. Thực trạng phát triển kinh tế t nhân ở Việt Nam.
Trải qua nhiều thăng trầm cùng với những khó khăn của đất nớc, khu vực
kinh tế t nhân có những lúc đợc thừa nhận rồi không rồi lại đợc tha nhận, nhng
với định hớng của đảng đợc khẳng đinh trong đại hội IX của Đảng thì trong
những năm ngần đây khu vực kinh tế này đã có những bớc phát triển về mọi
mặt, khu vực kinh tế này đã, đang và sẽ có những đóng góp không nhỏ vào các
mặt kinh tế xã hội của Việt Nam. Và ngày càng khẳng định đợc chỗ đứng vững
chắc trong nền kinh tế của Việt Nam, và điều này đợc thể hiện qua những mặt
sau:
1.2.2.1. Phát triển về số lợng.
Với sự khuyến khích mạnh mẽ và tạo nhiều điều kiện thuân lợi của Nhà
nớc thì khu vực kinh tế t nhân đã có nhng đáng kể về số lợng.
Về hộ kinh doanh cá thể: số hoạt động từ 1498611 hộ năm 1992 và tăng
lên 2016259 hộ vào năm 1996, tốc độ tăng bình quân hàng năm là 7, 68%/ năm,
mỗi năm tăng 129412 hộ, từ năm 1996 đến 2000 số lợng hộ kinh doanh các thể
hoạt động tăng châm, từ 1996 là 2016259 lên 213731 hộ năm 2000, tăng bình
quân 1,47% /năm, mỗi năm tăng30364 hộ và đến cuối năm 2003 cả nớc có
khoảng 2,7 triệu hộ kinh doanh, 130000 trang trại và 10 triệu hộ nông dân sản
xuất hàng hoá, sở dĩ có sự giảm về số lợng hộ cá thể là vì nhiều hộ đã chuyển
lên thành lập công ty sau khi đã tích luỹ đợc trong một thời gian dài và những
năm gần đây lại gặp nhiều điều kiện thuận lợi trong thành lập doanh nghiệp.
Về doanh nghiệp: số lợng các doanh nghiệp tăng đợc thể hiện qua các
năm nh sau: năm 1991 cả nớc có khoảng 414 doanh nghiệp, đến năm 1992 là
5189 doanh nghiệp và đến 1995 là 15276 doanh nghiệp, năm 1999 là 28700
doanh nghiệp, từ khi luật doanh nghiệp đi vào hoạt động 1/1/2000 thì đã tao ra
một bớc đột phá trong tăng số lợng các doanh nghiệp, tính từ năm 2000 đến
tháng 5- 2004 cả nớc có khoảng 93208 doang nghiệp đang ký thành lập mới,gấp
hơn hai lần số doanh nghiếp đợc thành lập trong thời gian trớc đó từ 1991- 1999
chỉ có 45000 doanh nghiệp đợc thành lập, tính đến cuối 2004 cả nớc có khoảng
138208 doanh nghiệp đang ký thành lập theo luật doanh nghiệp, trung bình
hàng năm tăng 3,75 lần so với trung bình của những năm trớc 2000, vể cơ cấu
thì tỷ trọng doanh nghiệp t nhân trong tổng số doanh nghiệp đang ký giảm từ
64% trong giai đoạn 1991 1999 xuống còn 34% giai đoạn 2000 2004.
Trong khi đó cùng thời gian trên thì tỷ trong của công ty trách nhiệm hữu hạn
và công ty cổ phần tăng từ 36% đến 66%, trong 4 năm qua có khoảng 7165
công ty cổ phần thành lập gấp 10 lần so với giai đoạn 1991 -1999. tỷ trong
doanh nghiệp t nhân giảm vì số lợng vố của đa số các doanh nghiệp thuộc khu
vự này là nhỏ, do đó loại hình này thờng không đợc tin tởng bằng các loại hình
khác hơn nữa các loại hình doanh nghiệp khác có thể hợp vốn của nhiều ngời có
vốn nhỏ lại thành vốn lớn hơn và sẽ có nhiều vốn hơn để hoạt động.
1.2.2.2. Phát triển về quy mô vốn, lao động, lĩnh vực và địa bàn.
Với sự ra đời của luật doanh nghiệp đã tạo điều kiện rất nhiều trong việc
đăng ký thành lập mới doanh nghiệp, do đã giảm rất nhiều về giấy tờ cũng nh
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét