Thứ Hai, 20 tháng 1, 2014

Hoàn thiện phương pháp phân tích tài chính trong hoạt động tín dụng của ngân hàng.doc

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Mỗi nhóm tỷ lệ lại bao gồm nhiều tỷ lệ phản ánh riêng lẻ, từng bộ phận của hoạt
động tài chính trong mỗi trờng hợp khác nhau, tuỳ theo giác độ phân tích, ngời phân
tích lựa chọn các nhóm chỉ tiêu khác nhau để phục vụ mục tiêu phân tích tài chính của
mình.
1.2.3. Nội dung công tác phân tích tài chính Doanh nghiệp vay vốn.
Khi Doanh nghiệp vay vốn, điều mà Ngân hàng quan tâm nhất là khả năng thanh
toán và trả nợ của khách hàng (DN) vay vốn. Do đó, khi phân tích tài chính, Ngân hàng
quan tâm nhiều hơn tới việc đánh giá rủi ro thanh toán của Doanh nghiệp. Tức là phân
tích các chỉ tiêu về khả năng thanh toán, cơ cấu nợ, báo cáo lu chuyển tiền tệ cũng nh
trạng thái tài chính của Doanh nghiệp nhằm đánh giá rủi ro trong tơng lai. Do đó Ngân
hàng đặc biệt quan tâm tới việc phân tích khái quát một số chỉ tiêu tài chính trung gian
và cuối cùng trong báo cáo kết quả kinh doanh.
1.2.3.1. Phân tích các chỉ tiêu tài chính trong báo cáo kết quả kinh doanh đối với
Doanh nghiệp vay vốn tại Ngân hàng:
Mục tiêu của phân tích này là xác định, phân tích mối liên hệ và đặc điểm các chỉ
tiêu trong báo cáo kết quả kinh doanh, đồng thời so sánh chúng qua một số niên độ kế
toán liên tiếp và với số liệu trung bình của nghành (nếu có) với các Doanh nghiệp khác.
Từ đó mà đánh giá đợc một phần của xu hớng giai đoạn tiếp theo của Doanh nghiệp, có
thể giúp Ngân hàng tránh đựơc những rủi ro không có khả năng thanh toán của Doanh
nghiệp do xu hớng hoạt động kinh doanh không tốt của Doanh nghiệp.
a. Các chỉ tiêu đã đợc chuẩn hoá trong mẫu bảng phân tích nh sau:
b. Nhóm chỉ tiêu về tình hình tài chính và khả năng thanh toán:
Đây là nhóm chỉ tiêu mà không riêng gì Ngân hàng mà rất nhiều đối tợng khác
quan tâm tới, bất kỳ đối tợng nào có liên quan đến Doanh nghiệp nh: các nhà đầu t, các
5
Chỉ tiêu
Năm N-1
Năm N
Năm N/ Năm
N-1
Lợng Tỷ trọng Lợng Tỷ trọng Lợng Tỷ trọng
1.Doanh thu thuần
2.Giá vốn hàng bán
Trong đó:KHTSCĐ
3.Lãi gộp
4.Chi phí bán hàng
và quản lý
Trong đó:
- KHTSCĐ
- Lãi vay
5. Lãi trớc thuế và
lợi tức vay
6.Lãi trớc thuế
-Thuế( TNDN)
7.Lãi sau thuế
8.Lãi không chia
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
cán bộ công nhân viên Phân tích tình hình thanh toán của Doanh nghiệp đối với các
khoản nợ trớc đây rất quan trọng vì nó phản ánh đợc phần nào mức độ tín nhiệm hay sự
sẵn sàng chi trả của Doanh nghiệp trong việc thực hiện các nghĩa vụ nợ và khả năng tài
chính của nó. Một Doanh nghiệp có lịch sử thanh toán lành mạnh, sòng phẳng sẽ an
toàn hơn một Doanh nghiệp luôn có nợ khó đòi hay quá hạn. Nếu có nợ khó đòi, nợ
quá hạn thì nguyên nhân khách quan hay chủ quan, bất khả kháng hay không.
- Chỉ tiêu khả năng thanh toán ngắn hạn:
Tài sản lu động và đầu t tài chính ngắn hạn
Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn =
Nợ ngắn hạn
Tài sản ngắn hạn
Hoặc =
Nợ ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn đo lờng khả năng mà các tài sản có lu động có
thể chuyển đổi thành tiền để hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn.Nếu hệ số này cao, có thể
đem lại sự an toàn về khả năng bù đắp cho sự giảm giá trị của TSLĐ.Điều đó thể hiện
tiềm năng thanh toán cao so với nghĩa vụ phải thanh toán. Tuy nhiên, một DN có hệ số
KNTT nợ ngắn hạn quá cao cũng có thể DN đó đã đầu t quá mức vào tài sản hiện hành,
một sự đầu t không mang lại hiệu quả. Mặt khác, trong toàn bộ tài sản lu động của
doanh nghiệp, khả năng chuyển hoá thành tiền của các bộ phận là khác nhau. Khả
năng chuyển hoá thành tiền của bộ phận hàng tồn kho thơng đợc coi là kém nhất. Do
vậy, để đánh giá khả năng thanh toán một cách khắt khe hơn, có thể sử dụng hệ số khả
năng thanh toán nhanh.
- Chỉ tiêu khả năng thanh toán nhanh:
Tiền + ĐTTC ngắn hạn + Phải thu
Hệ số khả năng thanh toán nhanh =
Nợ ngắn hạn

Chỉ tiêu này có u điểm hơn chỉ tiêu ở trên là đã loại đợc sự ảnh hởng của hàng hoá
tồn kho ( phần dự trữ) đến khả năng thanh toán sao cho nhanh hơn của tài sản lu động,
bởi vì, nếu cơ cấu hàng hóa tồn kho trong tổng tài sản lu động lớn thì sẽ làm cho hệ số
thanh toán ngắn hạn lớn nhng không ảnh hởng gì đến hệ số thanh toán nhanh, vì thanh
toán nhanh cần ít thời gian hơn thanh toán ngắn hạn, thanh toán ngắn hạn cần có việc
chuyển đổi của hàng hoá tồn kho mà thời gian của việc chuyển đổi này nhanh hay
chậm lại còn tuỳ thuộc vào từng nghành nghề, hàng hoá và lĩnh vực kinh doanh.
- Chỉ tiêu khả năng thanh toán ngay:
Tiền + ĐTTC ngắn hạn
Hệ số thanh toán nhanh =
Nợ ngắn hạn

Chỉ tiêu này cho biết khả năng thanh toán ngay của doanh nghiệp bằng tiền, không
bị chi phối bởi thời gian chuyển đổi của hàng hoá tồn kho và các khoản phải thu. Về
mặt lý thuyết, hệ số này lớn hơn 0,5 là dấu hiệu tốt. Nếu quá lớn tức là vốn bằng tiền
của doanh nghiệp để lại quá lớn, chi phí cho việc lu trữ, ghi chép, kiểm đếm, phân loại
khá lớn, mặt khác lại không sinh lợi cho nên cũng không phải là càng lớn càng tốt.
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Cũng nh vậy với hệ số thanh toán ngắn hạn và hệ số thanh toán nhanh, không hẳn là
càng cao càng tốt, chỉ vừa hợp lý sao cho tơng ứng với các khoản nợ ngắn hạn để
không gây ra hiện tợng d thừa nguồn lực, hiệu quả tài sản lu động kém hay tài sản lu
động quay vòng kém là không sinh lợi.
c. Nhóm chỉ tiêu về cơ cấu tài chính:
- Hệ số nợ: nói lên trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp, nguồn vốn từ bên ngoài
( từ các chủ nợ) là bao nhiêu phần hay trong tổng số tài sản.
Tổng số nợ phải trả
Hệ số nợ =
Tổng tài sản
- Hệ số nợ vốn chủ sở hữu:
Nguồn vốn chủ sở hữu
Hệ số nợ vốn chủ sở hữu =
Tổng nguồn vốn
= 1 - hệ số nợ
Nhóm chỉ tiêu này để đo lờng phần vốn góp của các chủ sở hữu doanh nghiệp so
với nợ vay. Chủ nợ a thích một hệ số nợ vừa phải, hệ số nợ càng thấp, hệ số an toàn
càng cao, món nợ của họ càng đợc đảm bảo và họ có cơ sở để tin vào sự đáo nợ đúng
hạn của con nợ. Khi hệ số nợ cao tức là chủ doanh nghiệp chỉ góp một phần nhỏ trên
tổng số vốn, thì rủi ro trong kinh doanh chủ yếu chuyển sang cho chủ nợ gánh chịu,
nhng bằng cách tăng vốn thông qua vay nợ, các chủ nợ vẫn nắm đợc quyền kiểm soát
và điều hành doanh nghiệp. Tuy nhiên,vấn đề giữa vốn vay và vốn góp với cơ cấu nh
thế nào còn rất nhiều phức tạp, nó còn ảnh hởng đến quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi bên
tùy từng thời kỳ và đối với từng doanh nghiệp.
- Hệ số khả năng thanh toán lãi tiền vay:
Lợi nhuận trớc thuế + Lãi vay
Hệ số khả năng thanh toán lãi tiền vay =
Chi phí lãi vay

Đây là chỉ tiêu đợc Ngân hàng quan tâm nh là một chỉ tiêu khả năng thanh toán lãi
vay bằng kết quả hoạt động kinh doanh. Nếu lãi vay mà không trả đợc thì nợ gốc càng
khó trả hơn.
- Hệ số cơ cấu tài sản:
Hệ số cơ cấu tài sản =
Tài sản cố định hoặc tài sản lu động
Tổng tài sản

Hệ số này còn tuỳ thuộc vào từng nghành nghề, lĩnh vực và từng doanh nghiệp vì có
những nghành nghề kinh doanh quay vòng nhanh , tài sản lu động cần nhiều, nhng có
những nghành nghề thì tài sản cố định lại chiếm phấn lớn nh mày móc, trang thiết bị,
công nghệ, đặc biệt ngày nay tài sản cố định vô hình chiếm tơng đối lớn.
- Hệ số cơ cấu nguồn vốn:
Hệ số cơ cấu nguồn
vốn
=
Tổng vốn chủ sở
hữu
Tổng nguồn vốn
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Hệ số này nói chung tốt nhất bằng 0,5 vì nếu nhỏ hơn thì vốn chủ sở hữu chiếm rất
ít, năng lực tài chính yếu, khả năng cạnh tranh thu hút vốn vay, vốn đầu t thấp, khả
năng rủi ro tơng đối cao.
* Nhóm chỉ tiêu về năng lực hoạt động:
- Vòng quay các khoản phải thu:
Vòng quay các khoản phải thu
=
DTT về bán hàng và cung cấp dịch vụ
Các khoản phải thu BQ
- Kỳ thu tiền trung bình:
Kỳ thu tiền trung bình =
(Các khoản phải thu BQ)* số ngày trong kỳ phân tích
DTT về bán hàng và cung cấp dịch vụ
Nếu kỳ thu tiền trung bình lớn do các khoản phải thu nhiều chứng tỏ doanh nghiệp
bị chiếm dụng vốn hoặc do doanh nghiệp thu tiền trung bình một ngày nhỏ, chứng tỏ
sự tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp kém. Những điều trên đều tác động tới khả
năng thu hồi vốn của Ngân hàng.

- Vòng quay hàng tồn kho:
Hệ số này cho thấy lợng hàng hoá tồn kho có lâu hay không, có quay vòng nhanh
hay không. Bất kỳ doanh nghiệp nào khi đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh đều tất
yếu có hàng hoá tồn kho , tuy nhiên số lợng nhiều hay ít và hàng tồn kho quay vòng
nhanh hay chậm còn tuỳ thuộc vào rất nhiều yếu tố khách quan khác nhau nh: lĩnh vực
kinh doanh, quy mô kinh doanh
- Hiệu suất sử dụng TSCĐ:

Hiệu suất sử dụng
TSCĐ
=
DTT về bán hàng và cung cấp dịch vụ

Tài sản cố định cố định bình quân
Chỉ tiêu này cũng phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, song hai chỉ tiêu này phản
ánh rất rõ tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả hay không. Nếu
sản xuất kém hiệu quả, vòng quay tài sản ngắn hạn nhỏ, doanh thu thuần, lãi thuần
trong một kỳ kinh doanh thấp kéo theo nhiều chỉ tiêu khác kém đi nh: nhóm chỉ tiêu về
lợi nhuận, có những trờng hợp bị lỗ, tài sản cố định còn trích khấu hao không đủ dẫn
đến việc đầu t cho trang bị cho tài sản cố định kém, hậu quả kéo theo là tiếp tục sản
xuất kinh doanh kém tạo ra vòng xoáy liên tiếp.
- Hiệu suất sử dụng tổng tài sản:
8
Vòng quay hàng tồn kho

=
Giá vốn hàng bán
Hàng tồn kho BQ
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản

=
Tổng DTT và thu nhập khác của DN trong kỳ
Tổng tài sản bình quân
d. Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lợi:
Đây là nhóm chỉ tiêu phản ánh tổng hợp nhất hiệu quả sản xuất kinh doanh và hiệu
năng quản lý của Doanh nghiệp.
- Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lợi
+ Tỷ suất sinh lợi doanh thu:
Tỷ suất sinh lợi doanh thu =
Lợi nhuận
x100
Doanh thu
Lợi nhuận đợc xác định trong công thức trên có thể là lợi nhuận thuần từ hoạt động
kinh doanh, lợi nhuận gộp, lợi nhuận trớc thuế hay lợi nhuận sau thuế.
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng doanh thu đợc bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng. Tất
nhiên hệ số này càng cao càng tốt nhng còn phụ thuộc rất nhiều vào tỷ lệ thuế thu nhập
doanh nghiệp của mỗi nớc và doanh thu thuần. Nếu doanh thu thuần lớn do giá bán
tăng cao thì sự bền vững và khả năng cạnh tranh của sản phẩm là kém, nhng nếu hệ số
cao vì doanh thu quá thấp nói lên việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp kém hiệu
quả.
+ Tỷ suất lợi nhuận tổng tài sản:
Tổng lợi nhuận trớc thuế
Tỷ suất lợi nhuận tổng tài sản = x 100
Tổng tài sản bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh trớc khi phân chia cho chủ sở
hữu và chủ nợ. Nó xem xét một đồng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trớc thuế .
Qua phân tích hệ số này, Ngân hàng có thể thấy đợc hiệu quả của việc đầu t vào tài sản
ở Doanh nghiệp.
+Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu:
Lợi nhuận sau thuế
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu =
Vốn chủ sở hữu bình quân
Chỉ tiêu này đặc biệt quan trọng đối với những ngời muốn tham gia góp vốn nhằm
chia sẻ quyền sở hữu doanh nghiệp và với những ngời đang sở hữu Doanh nghiệp.
- Nhóm chỉ tiêu về phân phối lợi nhuận:
Lợi nhuận sau thuế
+ Thu nhập cổ phần =
Số lợng cổ phiếu thờng

Lợi nhuận đem chia
+ Cổ tức =
Số lợng cổ phiếu thờng


9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Cổ tức Lãi đem chia
+ Tỷ lệ trả cổ tức = =
Thu nhập cổ phiếu Lãi sau thuế

Riêng nhóm chỉ tiêu này dành riêng cho công ty cổ phần.Nó cho biết tình hình
phân phối lợi nhuận( kết quả cuối cùng của hoạt động kinh doanh ) có phù hợp hay
không đối với doanh nghiệp trong tình trạng hiện nay, nếu khộng phù hợp sẽ gây ra
ảnh hởng gì không tốt đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Về phía các cổ
đông, đây là những chỉ tiêu rất đáng chú ý và nó ảnh hởng đến quyền lợi riêng của họ.
1.2.3.2. Phân tích rủi ro kinh doanh:
Phân tích rủi ro kinh doanh đặc biệt quan trọng khi Ngân hàng cho Doanh
nghiệp vay vốn trung, dài hạn. Trong trờng hợp này, Ngân hàng đã cùng Doanh nghiệp
gánh chịu rủi ro trong một thời gian dài nên việc làm này là rất cần thiết.
b. Phân tích điểm hoà vốn:
Điểm hoà vốn là điểm mà tại đó, mức doanh thu vừa đủ trang trải mọi phí tổn.
Phân tích điểm hoà vốn sẽ cung cấp những thông tin cần thiết về lợng sản phẩm tiêu
thụ, doanh thu cần đạt đợc khi biết sản lợng và doanh thu hòa vốn, chỉ ra ngỡng Doanh
nghiệp không bị lỗ nhằm đạt đợc lợi nhuận mong muốn.
Tổng chi phí bất biến
- Sản lợng hoà vốn =
Giá đơn vị sản phẩm Chi phí khả biến đơn vị

Để trực quan thuận tiện hơn cho quá trình đánh giá, ngời ta còn đa ra khái niệm
doanh thu hoà vốn
Doanh thu hoà vốn = Sản lợng hoà vốn * Giá đơn vị sản phẩm


Doanh thu hoà vốn
- Thời gian hoà vốn = *12 tháng
Tổng doanh thu

Thời gian hoà vốn cho biết thời gian cần thiết để có mức doanh thu đủ bù đắp chi
phí sản xuất.
Khi phân tích, so sánh điểm hoà vốn kỳ này với kỳ trớc, điểm hoà vốn càng
cao, mức độ an toàn trong kinh doanh càng thấp.
b. Đòn bẩy hoạt động kinh doanh:
Phân tích điểm hoà vốn cũng cha thấy hết đợc tầm quan trọng của sự thay đổi
doanh số bán đối với lợi nhuận của Doanh nghiệp. Vì vậy, đòn bẩy hoạt động sẽ cho ta
biết mức độ chi phí cố định mà Doanh nghiệp sử dụng cho hoạt động kinh doanh của
nó, mà chi phí thì ảnh hởng tới lợi nhuận. Mức độ đòn bẩy(DOL) là chỉ sự thay đổi
theo tỷ lệ phần trăm của thu nhập trớc lãi và thuế do sự thay đổi 1% doanh số bán. Nếu
chi phí cố định trong tổng chi phí càng cao thì cũng có nghĩa là mức độ đòn bẩy hoạt
động của doanh nghiệp càng cao và khi các nhân tố khác không đổi thì một thay đổi
nhỏ trong số lợng bán hàng sẽ dẫn đến một sự thay đổi trong thu nhập trớc thuế và trả
lãi vay.


10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Tỉ lệ phần trăm thay đổi của EBIT Q(P-V)
DOL = =
Tỉ lệ phần trăm thay đổi của ds bán Q(P-V)-F
Q : sản lợng P : Giá bán
V : Chi phí biến đổi F : Chi phí cố định

Tóm lại, một Doanh nghiệp ở tình hình mạo hiểm khi tình hình kinh doanh ở gần
điểm hoà vốn và hệ số đòn bẩy hoạt động cao vì khi đó lợi nhuận trứơc thuế và lãi của
doanh nghiệp rất nhạy cảm với sự thay đổi của doanh số bán. Bất cứ một lý do nào về
chính trị, kinh tế hay thị hiếu có thể làm lợi nhuận trớc thuế và lãi giảm mạnh. Do đó,
ảnh hởng đến khả năng trả nợ Ngân hàng, cho nên Ngân hàng vẫn thận trọng khi cho
Doanh nghiệp vay vốn.
1.2.3.3. Phân tích báo cáo lu chuyển tiền tệ:
Bằng việc phân tích báo cáo lu chuyển tiền tệ, Ngân hàng có thể dự báo, ớc tính l-
ợng tiền lu chuyển trong tơng lai, đánh giá chất lợng thu nhập của Doanh nghiệp, đánh
giá khả năng Doanh nghiệp duy trì một mức độ sản xuất kinh doanh nhất định, đánh
giá độ linh động tài chính và thanh khoản của Doanh nghiệp. Nếu trong kỳ báo cáo,
chủ doanh nghiệp tăng các khoản phải trả và nợ vay ngắn hạn để tài trợ cho nhu cầu
vốn kinh doanh thì sẽ là gánh nặng lu chuyển tiền tệ trong kỳ tới. Ngợc lại, nếu hàng
tồn kho kém chất lợng, luân chuyển chậm thì tình trạng thanh khoản của Doanh nghiệp
trong kỳ tới sẽ gặp khó khăn, khả năng thanh toán nợ đến hạn khó, do đó Ngân hàng có
thể không cho vay hoặc không cho vay thêm.
Sức mạnh tài chính của một Doanh nghiệp đợc đánh gía bằng khả năng tạo tiền từ
hoạt động kinh doanh chứ không phải từ hoạt động đầu t hay hoạt động tài chính, bởi
vì:
- Lu chuyển tiền tệ thuần từ hoạt động đầu t >0 thể hiện đầu t của Doanh nghiệp bị
thu hẹp.
- Lu chuyển tiền tệ thuần từ hoạt động tài chính >0 thể hiện lợng cung ứng từ bên
ngoài ra tăng.
Trên cơ sở các thông tin lu chuyển tiền tệ từ doanh nghiệp, các Ngân hàng có thể
phát hiện đợc hiện tợng kinh doanh vợt quá khả năng vốn khi tiền vào từ hoạt động
kinh doanh không đủ bù đắp sự gia tăng tồn kho và các khoản phải thu, kết quả là lu
ngân ròng từ hoạt động kinh doanh <0. Tức là tình hình tài chính đang xấu, Doanh
nghiệp phải lệ thuộc vào nguồn tài trợ bên ngoài, tình hình thanh khoản của Doanh
nghiệp rất khó khăn.
Ngợc lại, lu chuyển tiền tệ ròng > 0 và đang tăng, Ngân hàng thấy rằng Doanh
nghiệp không thể huy động đủ vốn trong nội bộ để trả nợ gốc và lãi vay. Tình hình vẫn
khó khăn hơn khi Doanh nghiệp vẫn có nhu cầu mở rộng sản xuất. Một Doanh nghiệp
đang trong thời kỳ hng thịnh, phát triển, sự gia tăng đầu t vào tài sản sẽ sử dụng phần
lớn số tiền mà lẽ ra đợc dùng để trả nợ vay. Những Doanh nghiệp ấy cần đợc nhận tài
trợ từ bên ngoài, trờng hợp này Ngân hàng nên đáp ứng nhu cầu vốn của Doanh
nghiệp.
Trên đây là việc phân tích những mặt và chỉ tiêu chủ yếu khi xem xét , đánh gía
tình hình tài chính của doanh nghiệp vay vốn, tuỳ vào từng điều kiện hoàn cảnh cụ thể
mà ngời ta tiến hành phân tích, xem xét chú trọng vào chỉ tiêu nào để khai thác tình
hình tài chính phục vụ cho mục đích của ngời phân tích. Ngoài ra, còn rất nhiều chỉ
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
tiêu khác, trong những trờng hợp cụ thể khác nhau thì ngời phân tích sẽ sử dụng đến
nó.
1.3. Các nhân tố ảnh h ởng tới hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp vay
vốn.
Chất lợng phân tích tài chính doanh nghiệp đợc hiểu là tính chính xác của những
đánh giá về tình hình tài chính một Doanh nghiệp, về rủi ro, mức độ và chất lợng hiệu
quả hoạt động của Doanh nghiệp và sự sát xao của các dự báo tài chính. Vì vậy, có rất
nhiều nhân tố khác nhau gây những ảnh hởng trực tiếp cũng nh gián tiếp tới chất lợng
phân tích tài chính của doanh nghiệp, ở đây xin đợc phân chia theo 2 nhóm nhân tố
chính: nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan. Mỗi nhân tố có mức độ tác động mạnh
yếu khác nhau theo những chiều hớng khác nhau nhng tổng hợp lại thì có tác động rất
lớn tới chất lợng phân tích tài chính doanh nghiệp.
1.3.1. Nhân tố chủ quan:
1.3.1.1. Nhân tố con ngời :
Trình độ nghiệp vụ, nhận thức, đạo đức, kinh nghiệm của cán bộ phân tích trong
suốt quá trình đánh giá về năng lực tài chính doanh nghiệp ảnh hởng lớn đến chất lợng
phân tích. Mỗi ngời cán bộ đều có kinh nghiệm thực tế, trình độ nghiệp vụ, nhận thức
và hiểu biết khác nhau, do đó, ngoài việc đánh giá phân tích tài chính doanh nghiệp
theo các bớc quy định chung của Luật thì có độ nhạy bén, sắc sảo khác nhau.
1.3.1.2. Chất lợng thông tin:
Để tiến hành cho vay đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào, cán bộ thẩm định bắt
buộc phải thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau. Việc thu thập thông tin có đầy
đủ, chính xác kịp thời không sẽ ảnh hởng trực tiếp đến kết quả của việc đánh giá về
khách hàng. Vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào để thu thập thông tin một cách dễ dàng,
đầy đủ, chính xác. Muốn vậy các ngân hàng thơng mại cần phải xây dựng đợc một
trung tâm thông tin là nơi tổng hợp thông tin, xử lý, phân tích dự báo và cung cấp
thông tin, việc này đợc thực hiện sẽ trợ giúp đắc lực cho công tác phân tích khách hàng
đợc đầy đủ và chính xác.
1.3.1.3. Chính sách tín dụng của Ngân hàng:
Thông qua các văn bản về quy trình nghiệp vụ mà Ngân hàng đề ra trong phân tích
tín dụng, chính sách Tín dụng của Ngân hàng trong từng thời kỳ: mở rộng hay thu hẹp
tín dụng. Trong thời kỳ Ngân hàng thu hẹp tín dụng, nội dung phân tích tài chính
doanh nghiệp có thể kỹ hơn, phức tạp hơn, khó khăn hơn, và ngợc lại, thời kỳ Ngân
hàng mở rộng tín dụng thì quy trình, điều kiện tín dụng nói chung và đánh giá phân
tích tài chính nói riêng có thể thông thoáng hơn, tất nhiên không sai phạm một khâu
nào trong quy trình phân tích, đánh giá đó.
1.3.2. Nhân tố khách quan.
1.3.2.1. Bản thân doanh nghiệp vay vốn:
Có nhiều nhân tố từ phía doanh nghiệp ảnh hởng đến công tác thẩm định doanh
nghiệp của ngân hàng. Nó có thể xuất phát từ khách quan hoặc chủ ý của doanh
nghiệp. Ngân hàng đôi khi sẽ gặp khải những khó khăn trong công tác đánh giá doanh
nghiệp nếu doanh nghiệp không thực sự hợp tác trong quá trình thiết lập mối quan hệ
tín dụng với ngân hàng.
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
+ Hồ sơ xin vay vốn của doanh nghiệp là một trong những nhân tố phải kể đến, bởi
đây là cơ sở đầu tiên của mối quan hệ giữa doanh nghiệp và ngân hàng. Nếu bộ hồ sơ
của doanh nghiệp không nêu đầy đủ, chính xác và không đợc trình bày một cách khoa
học những thông tin mà ngân hàng yêu cầu thì việc đánh giá doanh nghiệp gặp rất
nhiều khó khăn.
+ Chính sách bảo mật thông tin của doanh nghiệp cũng là một nhân tố ảnh hởng
đến công tác đánh giá doanh nghiệp của ngân hàng. Những số liệu và tình hình thực
trạng của doanh nghiệp trong quá khứ lẫn hiện tại là hết sức quan trọng đối với ngân
hàng, bởi nó là một trong những cơ sở để ngân hàng xem xét quyết định đến việc cho
vay. Nếu đó là một thông tin xấu có thể ảnh hởng đến khoản tín dụng này mà doanh
nghiệp cố tình che đậy thì coi nh kết quả công tác đánh giá doanh nghiệp không còn
giá trị. Rất có thể ngân hàng sẽ phải gánh chịu những thiệt hại không lờng đối với
khoản tín dụng cấp cho doanh nghiệp.
Ngoài ra, các nhân tố khác nh công nghệ tin học, môi trờng chính trị, kinh tế, xã
hội và pháp luật cũng gây ra những ảnh hởng không kém tới chất lợng phân tích tài
chính doanh nghiệp. Việc ứng dụng công nghệ tin học sẽ giúp cho việc tính toán đợc
chính xác hơn, không phức tạp, gây lẫn lộn không đáng có, tiết kiệm thời gian sức lực.
Thông qua hệ thống máy tính, Ngân hàng có thể lu giữ, cập nhật những thông tin mới
nhất và cần thiết một cách nhanh chóng.
Tóm lại, có nhiều những nhân tố ảnh hởng đến công tác đánh giá doanh nghiệp
trong hoạt động tín dụng của ngân hàng. Có những nhân tố xuất phát từ phía doanh
nghiệp, có những nhân tố xuất phát từ phía ngân hàng, nhng cũng có những nhân tố
khách quan gây ảnh hởng. Chính vì vậy, khi đánh giá doanh nghiệp, ngân hàng cần đặc
biệt chú ý tới những nhân tố tác động từ đó để tìm cách khắc phục, đảm bảo cho công
tác đánh giá doanh nghiệp đạt kết quả cao, nhằm nâng cao chất lợng tín dụng và loại trừ
những nguy cơ rủi ro có thể xảy đến cho ngân hàng.
chơng II:
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Thực trạng công tác phân tích TCDN trong hoạt động TDDN
tại NHNo&PTNT Tây Hà Nội Chi nhánh Trờng Chinh.
2.1.Khái Quát Về Hoạt Động Kinh Doanh Của NHNNo và PTNT chi nhánh Tây
Hà Nội.
2.1.1.Lịch sử hình thành và phát triển của NHNN & PTNT Chi nhánh Tây Hà
Nội.
Để đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của cơ chế thị trờng hoạt động NH cũng đợc đổi mới về
cơ bản và toàn diện với hai pháp lệnh NH ngày 23/5/1990 hệ thống NH ở nớc ta
chuyển từ 1 cấp sang 2 cấp tách biệt hai chức năng quản lý và kinh doanh. NHNN &
PTNT Hà Nội ra đời vào năm 1988 hoạt động chủ yếu tại các huyện sau một thời gian
cùng với sự phát triển của cơ chế thị trờng NH Hà Nội đã thành lập các chi nhánh NH
ở các Quận để phục vụ các tầng lớp nhân dân và các doanh nghiệp trên địa bàn Thành
phố Hà Nội.
Do vậy NHNo&PTNT chi nhánh Tây Hà Nội đã đợc thành lập theo quyết định số
126 /QĐ/HĐQT TCCB ( quyết định của chủ tịch hội đồng quản trị Ngân Hàng Nông
Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam ). Theo đó quyết định :
Mở NHNNo&PTNT Tây Hà Nội chi nhánh cấp 1 phụ thuộc vào Ngân Hàng Nông
Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam có:
Tên gọi: Chi nhánh Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Tây Hà Nội.
Trụ sở giao dịch: Đặt tại nhà số 115, phố Nguyễn Lơng Bằng, Quận Đống Đa, thành
phố Hà Nội.
Chi nhánh Tây Hà Nội đợc chính thức thành lập ngày 21/7/2003 cho tới nay mới gần 5
năm nhng chi nhánh đã hoạt động tơng đối tốt và hiện nay chi nhánh có 4 chi nhánh cấp 2
( chi nhánh Hùng Vơng, Chi nhánh Nhân Chính, Chi nhánh Trờng Chinh, Chi nhánh
Hàng Lợc) và 5 phòng giao dịch ( PGD Hoàng Văn Thái, PGD Hàng Trống, PGD Bùi Thị
Xuân, PGD Hàng Lợc, PGD Nguyễn Du).
Sau một thời gian hoạt động đã có kết quả góp cho NHNovàPTNT nói riêng và
góp phần ổn định nền kinh tế Thủ đô Hà Nội nói chung và đã đạt đợc nhiều thành
công.Cụ thể:
- Tổng thu: 232 tỷ, tăng so với 31/12/2005 là 25 tỷ. Trong đó thu lãi: 229 tỷ; thu
dịch vụ là 2.2 tỷ.
- Tổng chi: 199 tỷ tăng so với 31/12/2005 là 20 tỷ. Trong đó chi trả lãi: 162 tỷ,
chiếm 81.5% trong tổng chi.
- Chênh lệch thu nhập chi phí : 33 tỷ, tăng so với 31/12/2005 là: 5.5 tỷ, đạt 133
% kế hoạch năm 2006.
- Lãi suất bình quân đầu vào, đầu ra: 0.3%.
- Hệ số tiền lơng đạt đợc: 1.89.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét