song chủ trương của Đảng vẫn là “đi đôi với phát triển kinh tế quốc doanh,
kinh tế tập thể, tăng cường nguồn tích luỹ tập trung của Nhà nước và tranh
thủ vốn ngoài nước, cần có chính sách sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành
phần kinh tế khác”.
Đại hội Đảng lần thứ VII đ ã đưa ra quan điểm rõ ràng hơn về kinh tế thị
trường: “Đổi mới về kinh tế, chuyển nền kinh tế mang nặng tính tự cấp, tự túc
với cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà
nước”; “Cơ chế vận hành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định
hướng xã hội chủ nghĩa là cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước bằng
pháp luật, kế hoạch, chính sách và các công cụ khác”; và phân định rõ phạm
vi quản lý của nhà nước và phạm vi tác động của cơ chế thị trường.
Tới Đại hội Đảng lần thứ VIII, ngoài sự khẳng định rõ ràng mục tiêu vận
hành nền kinh tế theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định
hướng xã hội chủ nghĩa do Đại hội VII nêu ra, lần đầu tiên Đảng đưa ra khái
niệm kinh tế nhà nước và vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Đại hội VIII
đồng thời cũng có một số thay đổi đối với các thành phần kinh tế khác, các
thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành cùng tồn tại lâu dài, tư tưởng
kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, cùng kinh tế hợp tác dần trở thành nền
tảng đã cơ bản được hình thành ở Đại hội Đảng lần thứ VIII.
Tới Đại hội Đảng lần thứ IX, lần đầu tiên mô hình kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa được chính thức đưa vào văn kiện của Đảng:
“Đảng và nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách
phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị
trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đó
chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Ngoài ra, Đại
hội Đảng lần thứ IX một lần nữa lại khẳng định tư tưởng công hữu phải là nền
tảng của chế độ kinh tế xã hội chủ nghĩa, nhưng quá trình hình thành nền kinh
5
tế xã hội chủ nghĩa phải dần dần, trong đó cần phát huy tối đa khả năng sản
xuất của các thành phần kinh tế khác nhằm xây dựng nước ta thành một nước
“dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Có thể thấy rằng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
nước ta hàm chứa nhiều mâu thuẫn, những mâu thuẫn đó tồn tại khách quan.
Vì vậy việc phát hiện và giải quyết nhưng mâu thuẫn trong quá trình phát
triển kinh tế là một nội dung quan trọng trong việc xây dựng các chính sách
kinh tế xã hội. Đảng ta khẳng định: “Chính sách kinh tế nhiều thành phần có ý
nghĩa chiến lược lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã
hội và thể hiện tinh thần dân chủ về kinh tế đảm bảo cho mọi người được làm
ăn theo pháp luật”.
II. Thực trạng của quá trình xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần ở nước ta hiện nay.
1. Thành công
Cùng với tốc độ tăng cao của GDP, cơ cấu kinh tế trong nước đã có sự
thay đổi đáng kể. Từ năm 1990 đến 2005, tỷ trọng của khu vực nông nghiệp
đã giảm từ 38,7% xuống 20,89% GDP, nhường chỗ cho sự tăng lên về tỷ
trọng của khu vực công nghiệp và xây dựng từ 22,7% lên 41,03%, còn khu
vực dịch vụ được duy trì ở mức gần như không thay đổi: 38,6% năm 1990 và
38,10% năm 2005. Trong từng nhóm ngành, cơ cấu cũng có sự thay đổi tích
cực. Trong khu vực nông nghiệp, tỷ trọng của ngành nông và lâm nghiệp đã
giảm từ 84,4% năm 1990 xuống 77,7% năm 2003, phần còn lại là tỷ trọng
ngày càng tăng của ngành thủy sản. Trong cơ cấu công nghiệp, tỷ trọng của
ngành công nghiệp chế biến tăng từ 12,3% năm 1990 lên 20,8% năm 2003,
chất lượng sản phẩm ngày càng được nâng cao. Cơ cấu của khu vực dịch vụ
thay đổi theo hướng tăng nhanh tỷ trọng của các ngành dịch vụ có chất lượng
cao như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, du lịch…
6
Cơ cấu các thành phần kinh tế ngày càng được chuyển dịch theo hướng
phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của nhà nước, trong đó kinh tế tư nhân được phát triển
không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những ngành nghề mà
pháp luật không cấm. Từ những định hướng đó, khung pháp lý ngày càng
được đổi mới, tạo thuận lợi cho việc chuyển dần từ nền kinh tế kế hoạch hóa
tập trung, quan liêu, bao cấp, sang nền kinh tế thị trường, nhằm giải phóng
sức sản xuất, huy động và sử dụng các nguồn lực có hiệu quả, tạo đà cho tăng
trưởng và phát triển kinh tế.
Khi sửa đổi Luật doanh nghiệp (năm 2000), các doanh nghiệp tư nhân đã
có điều kiện thuận lợi để phát triển. Bộ luật này đã thể chế hóa quyền tự do
kinh doanh của các cá nhân trong tất cả các ngành nghề mà pháp luật không
cấm, dỡ bỏ những rào cản về hành chính đang làm trở ngại đến hoạt động
kinh doanh của các doanh nghiệp như cấp giấy phép, thủ tục, các loại phí…
Tính trong giai đoạn 2000-2004, đã có 73.000 doanh nghiệp tư nhân đăng ký
mới, tăng 3,75 lần so với giai đoạn 1991-1999. Cho đến năm 2004, đã có
150.000 doanh nghiệp tư nhân đang hoạt động theo Luật doanh nghiệp, với
tổng số vốn điều lệ là 182.000 tỷ đồng. Từ năm 1991 đến năm 2003, tỷ trọng
của khu vực kinh tế tư nhân trong GDP đã tăng từ 3,1% lên 4,1%, kinh tế
ngoài quốc doanh khác từ 4,4% lên 4,5%, kinh tế cá thể giảm từ 35,9% xuống
31,2%, và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng từ 6,4% lên 14%. Từ
1/7/2006, Luật Doanh nghiệp 2005 (áp dụng chung cho cả doanh nghiệp trong
nước và đầu tư nước ngoài) đã có hiệu lực, hứa hẹn sự lớn mạnh của các
doanh nghiệp bởi sự bình đẳng trong quyền và nghĩa vụ của các doanh
nghiệp, không phân biệt hình thức sở hữu.
Trong khu vực doanh nghiệp nhà nước, những chính sách và biện pháp
điều chỉnh, sắp xếp lại doanh nghiệp, đặc biệt là những biện pháp về quản lý
tài chính của công ty nhà nước, quản lý các nguồn vốn nhà nước đầu tư vào
7
doanh nghiệp, hay việc chuyển các công ty nhà nước thành công ty cổ phần
theo tinh thần cải cách mạnh mẽ hơn nữa các doanh nghiệp nhà nước, ngày
càng được coi trọng nhằm nâng cao tính hiệu quả cho khu vực kinh tế quốc
doanh. Với chính sách xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, tỷ
trọng của khu vực kinh tế nhà nước có xu hướng giảm đi, từ 40,1% GDP năm
1991 xuống còn 38,3% năm 2003, kinh tế tập thể giảm từ 10,2% xuống 7,9%
trong thời gian tương ứng. Trong các năm 2002-2003, có 1.655 doanh nghiệp
nhà nước được đưa vào chương trình sắp xếp và đổi mới, năm 2004 là 882
doanh nghiệp và năm 2005 dự kiến sẽ là 413 doanh nghiệp.
Việt Nam đã sử dụng một cách hiệu quả các thành tựu kinh tế vào mục
tiêu phát triển xã hội như phân chia một cách tương đối đồng đều các lợi ích
của đổi mới cho đại đa số dân chúng; gắn kết tăng trưởng kinh tế với nâng cao
chất lượng cuộc sống, phát triển y tế, giáo dục; nâng chỉ số phát triển con
người (HDI) của Việt Nam từ vị trí thứ 120/174 nước năm 1994, lên vị trí thứ
108/177 nước trên thế giới năm 2005; tăng tuổi thọ trung bình của người dân
từ 50 tuổi trong những năm 1960 lên 72 tuổi năm 2005, giảm tỷ lệ số hộ đói
nghèo từ trên 70% đầu những năm 1980 xuống dưới 7% năm 2005.
2. Hạn chế
a) Việc xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần hiện nay ở nước
ta mới ở giai đoạn đầu, xuất phát điểm còn thấp, nền kinh tế hàng hoá chưa
phát triển; sản xuất còn mang nặng tính tự nhiên, tự cung, tự cấp. Thể hiện ở
cơ sở vật chất, kỹ thuật nghèo nàn lạc hậu, chưa đáp ứng được yêu cầu phát
triển kinh tế nói chung và từng thành phần kinh tế nói riêng. Nhìn chung, sản
xuất còn thủ công; năng suất lao động thấp, khối lượng ít, chất lượng và tỷ
suất hàng hoá thấp, chưa đủ sức cạnh tranh với hàng ngoại. Việc hình thành
các thành phần kinh tế mang nặng tính tự phát.
8
b) Cơ chế tập trung quan liêu bao cấp chưa được xoá bỏ triệt để, tác
phong, lề lối, thói quen cũ trong quản lý của cơ quan nhà nước ảnh hưởng
trực tiếp đến các thành phần kinh tế. Sự đan xen cơ chế quản lý cũ và cơ chế
quản lý mới vừa cản trở sự phát triển các thành phần kinh tế, vừa tạo môi
trường cạnh tranh không bình đẳng, phát sinh nhiều hiện tượng tiêu cực, trong
các đơn vị kinh tế cũng như trong bộ máy các cơ quan quản lý nhà nước.
c) Thành phần kinh tế quốc doanh đã nhiều năm tồn tại trong chế độ bao
cấp, chưa kịp chuyển sang cơ chế mới, độ nhạy cảm với thị trường còn thấp.
Không ít các xí nghiệp quốc doanh trì trệ, bế tắc, không đứng vững trong cơ
chế mới, đây cũng là mảnh đất cho các hiện tượng tiêu cực nảy sinh và phát
triển. Thành phần kinh tế tập thể giảm đi nhanh chóng cả trong lĩnh vực sản
xuất công nghiệp, thủ công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp, lĩnh vực lưu
thông.
Các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh tuy có phát triển nhưng mới
chỉ tập trung vào các ngành không cần vốn lớn, thu lợi nhanh như dịch vụ ăn
uống, khách sạn, thương nghiệp. Các thành phần kinh tế này chưa thực sự
bình đẳng trong cạnh tranh. Do còn có sự can thiệp về hành chính của cơ quan
nhà nước, nhất là các thủ tục hành chính nên họ thường chú trọng đến việc
tranh thủ các cơ quan, viên chức nhà nước để có những lợi thế trong cạnh
tranh và thu nguồn lợi không từ sản xuất, kinh doanh.
d) Mức độ hình thành và hoàn thiện thị trường ở nước ta mới ở giai đoạn
sơ khai, thiếu đồng bộ về thị trường vốn, thị trường tư liệu sản xuất, thị
trường sức lao động, thị trường tư liệu tiêu dùng. Điều đó dẫn tới các thành
phần kinh tế chưa có môi trường thực sự cạnh tranh theo cơ chế thị trường.
Nói một cách khác, hiện nay nền kinh tế của nước ta mới chỉ là giai đoạn đầu
của nền kinh tế hàng hoá (nhiều thành phần) chưa phải nền kinh tế thị trường;
chưa có cơ chế thị thực sự điều tiết nó.
9
3.Nguyên nhân:
Nguyên nhân dẫn đến thực trạng sự phát triển nền kinh tế nhiều thành
phần ở nước ta hiện nay do nhiều yếu tố bao gồm:
a) Sự thay đổi về tư duy :
Trước đổi mới, chúng ta coi kinh tế xã hội chủ nghĩa và kinh tế tư bản
chủ nghĩa (hay kinh tế thị trường) là hai phương thức kinh tế khác nhau về
bản chất và đối lập với nhau cả về chế độ sở hữu, chế độ quản lý, chế độ phân
phối và mục đích phát triển. Kinh tế xã hội chủ nghĩa vận động theo các quy
luật của chủ nghĩa xã hội, còn kinh tế tư bản chủ nghĩa thì vận động theo các
quy luật của chủ nghĩa tư bản (tất nhiên trong khi nói đến kinh tế kế hoạch
chúng ta cũng đã từng nói đến hạch toán và kinh doanh xã hội chủ nghĩa, vận
dụng quan hệ hàng hóa - tiền tệ, coi lợi ích vật chất và khuyến khích vật chất
là một động lực của sự phát triển).
Sau đổi mới, tư duy của chúng ta về kinh tế có nhiều sự phát triển so với
trước. Nhìn khái quát đã có những sự thay đổi lớn như sau:
- Từ quan niệm chủ nghĩa xã hội chỉ có một chế độ sở hữu duy nhất là
chế độ công hữu về tất cả các tư liệu sản xuất (bao gồm sở hữu toàn dân và sở
hữu tập thể) đã đi đến quan niệm nền kinh tế của ta hiện nay và sau này có ba
chế độ sở hữu cơ bản là toàn dân, tập thể, tư nhân, trên cơ sở đó, hình thành
nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế khác nhau như kinh tế nhà
nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế
tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
- Từ quan niệm cho rằng để xây dựng được quan hệ sản xuất xã hội chủ
nghĩa phải nhanh chóng hoàn thành việc cải tạo kinh tế tư bản tư nhân và kinh
tế cá thể tiểu chủ là những thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, đã đến
quan niệm rằng trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, phải ưu tiên phát triển lực
10
lượng sản xuất, còn cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản xuất
mới nhất thiết phải phù hợp với từng bước phát triển của lực lượng sản xuất.
- Từ quan niệm hai thành phần kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, với
việc xóa bỏ nhanh chóng các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, ngay từ
đầu đã là nền tảng của nền kinh tế quốc dân, đã đi đến quan niệm rằng muốn
cho hai thành phần kinh tế ấy ngày càng trở thành nền tảng vững chắc thì phải
trải qua một quá trình dài xây dựng, đổi mới và phát triển với những bước
thích hợp; trong khi đó, vẫn khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế tư
nhân, coi như thành phần này là động lực quan trọng của phát triển kinh tế và
phát triển lực lượng sản xuất.
- Từ quan niệm nhà nước phải chỉ huy toàn bộ nền kinh tế theo một kế
hoạch tập trung, thống nhất với những chỉ tiêu có tính pháp lệnh áp đặt từ trên
xuống, đã đi đến phân biệt rõ chức năng quản lý nhà nước về kinh tế với chức
năng quản lý kinh doanh; chức năng quản lý nhà nước về kinh tế và chủ sở
hữu tài sản công là thuộc nhà nước, còn chức năng quản lý kinh doanh thì
thuộc về doanh nghiệp. Từ chỗ tuyệt đối hóa vai trò của kế hoạch, phủ nhận
vai trò của thị trường đã đi đến thừa nhận thị trường vừa là căn cứ, vừa là đối
tượng của kế hoạch; kế hoạch chủ yếu mang tính định hướng và đặc biệt trên
bình diện vĩ mô, còn thị trường giữ vai trò trực tiếp hướng dẫn các đơn vị
kinh tế lựa chọn lĩnh vực hoạt động và phương án tổ chức sản xuất, kinh
doanh.
- Từ chỗ chỉ thừa nhận một hình thức phân phối duy nhất chính đáng là
phân phối theo lao động đã đi đều quan niệm thực hiện nhiều hình thức phân
phối, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu, đồng
thời phân phối dựa trên mức đóng góp các nguồn lực khác vào sản xuất kinh
doanh và phân phối thông qua phúc lợi xã hội. Công bằng xã hội thể hiện
không phải ở chủ nghĩa bình quân trong kinh tế mà là ở chỗ phân phối hợp lý
tư liệu sản xuất và kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người đến
11
có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình. Không ngăn cấm mọi
sự làm giàu mà trái lại khuyến khích mọi người làm giàu chính đáng theo
đúng pháp luật, đồng thời thực hiện xóa đói giảm nghèo, hạn chế phân cực
quá đáng hai đầu.
Xét về thời gian, dưới góc độ kinh tế thị trường, tư duy của chúng ta
cũng được đổi mới qua nhiều bước.
Bước I: Thừa nhận cơ chế thị trường nhưng không coi nền kinh tế của ta
là kinh tế thị trường. Nói cơ chế thị trường là chỉ nói về mặt cơ chế quản lý
chứ không phải nói về toàn bộ đặc điểm, tính chất và nội dung của nền kinh
tế. Do đó, trong khi phê phán nghiêm khắc cơ chế quản lý tập trung, quan
liêu, bao cấp và đề ra chủ trương đổi mới quản lý kinh tế (một bộ phận của
đường lối đổi mới toàn diện), Đại hội VI khẳng định: “thực chất của cơ chế
mới về quản lý kinh tế là cơ chế kế hoạch hóa theo phương thức hạch toán
kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ”. Phát triển
thêm một bước, Đại hội VII (qua Cương lĩnh) đã xác định nền kinh tế của ta
là “nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa,
vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước”.
Bước II: Coi kinh tế thị trường không phải là cái riêng có của chủ nghĩa
tư bản, không đối lập với chủ nghĩa xã hội. Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa
nhiệm kỳ khóa VII (tháng 1/1994) nhận định: Cơ cấu kinh tế nhiều thành phầ
đang hình thành. Và cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa đang trở thành cơ chế vận hành của nền kinh tế. Có
nghĩa là nền kinh tế của ta là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, theo
định hướng xã hội chủ nghĩa, còn có chế vận hành của nền kinh tế đó là cơ
chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
Gần cuối nhiệm kỳ Đại hội VII, tại một nghị quyết của Bộ Chính trị về
công tác lý luận đã nhận định: “Thị trường và kinh tế thị trường không phải là
cái riêng có của chủ nghĩa tư bản mà là thành tựu chung của văn minh nhân
12
loại”. Theo nhận định này, thị trường, kinh tế thị trường đã từng tồn tại và
phát triển qua những phương thức sản xuất khác nhau. Nó có trước chủ nghĩa
tư bản, trong chủ nghĩa tư bản và cả sau chủ nghĩa tư bản. Nếu trước chủ
nghĩa tư bản nó vận động và phát triển ở mức khởi phát, manh nha, còn ở
trình độ thấp thì trong xã hội tư bản chủ nghĩa, nó đạt tới đỉnh cao đến mức
chi phối toàn bộ cuộc sống của con người trong xã hội đó, làm cho người ta
nghĩa rằng nó chính là chủ nghĩa tư bản. Như vậy, trong thời kỳ quá độ từ chủ
nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, kinh tế thị trường còn tồn tại là tất yếu.
Vấn đề ở đây là liệu kinh tế thị trường có đối lập với chủ nghĩa xã hội không,
và liệu việc xây dựng chủ nghĩa xã hội có đi đến phủ định kinh tế thị trường
để rồi tạo nên một nền kinh tế hoàn toàn khác về chất là kinh tế xã hội chủ
nghĩa, nền kinh tế vận động theo các quy luậtd dặc thù của chủ nghĩa xã hội
hay không? Câu trả lời là không. Quan điểm này cũng chính là quan điểm của
Đại hội VIII (1996) khi Đại hội chủ trương: “Xây dựng nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường đi đôi với tăng cường vai
trò quản lý của Nhà nước theo định hướng, xã hội chủ nghĩa”.
Bước III: Coi kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình
kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ. Đại hội IX của Đảng
(2001) ghi rõ: Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài
chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo
cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Mục
đích của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển lực
lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của
chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Phát triển lực lượng sản xuất
hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp trên cả ba mặt:
sở hữu, quản lý và phân phối.
13
Kinh tế thị trường định hướng xã hội có nhiều hình thức sở hữu, nhiều
thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà
nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc. Theo
Nghị quyết của Đại hội IX, các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật
đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa. Các thành phần đó bao gồm cả kinh tế nhà nước, kinh tế tập
thể, kinh tế cá thể tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước và
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Bước IV: Gắn kinh tế thị trường của nước ta với nền kinh tế thị trương
toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu và đầy đủ hơn. Đại hội
X của Đảng chủ trương: “Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa”. Bốn nội dung quan trọng nhất là: nắm vững định
hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế nước ta, nâng cao vai trò và hoàn
thiện quản lý của Nhà nước, phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả sự vận
hành các loại thị trường cơ bản theo cơ chế cạnh tranh lành mạnh, phát triển
mạnh các thành phần kinh tế và các loại hình sản xuất, kinh doanh.
Điều quan trọng hơn nữa là với chủ đề: “Tích cực và chủ động hội nhập
kinh tế quốc tế”, Đại hội đã quyết định đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại,
hội nhập sâu hơn và đầy đủ hơn với các thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và
song phương, lấy phục vụ lợi ích đất nước làm mục tiêu cao nhất. Việc Việt
Nam trở thành thành viên chính thức của WTO vào tháng 1-2007 đánh dấu
một bước phát triển cao của quá trình hàng chục năm thực hiện hội nhập kinh
tế quốc tế của nước ta.
b)Vẫn còn tồn tại rất nhiều mâu thuẫn phức tạp:
- Mâu thuẫn giữa yêu cầu tăng trưởng, phát triển kinh tế với sự bất cập
của cơ chế, chính sách khai thác nguồn lực hiện nay.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét