Thứ Ba, 21 tháng 1, 2014

QD 186 2006 ve QUY CHE QUAN LY RUNG.DOC

4. Trình tự, thủ tục cải tạo rừng: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn tiêu
chí rừng nghèo kiệt và các loại rừng nghèo kiệt được phép cải tạo; hướng dẫn biện pháp, trình
tự, thủ tục cải tạo rừng.
Điều 11. Thanh lý rừng trồng được đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước
1. Rừng trồng được đầu tư bằng vốn ngân sách nhà nước nhưng không có khả năng thành
rừng và rừng trồng không thành rừng do các nguyên nhân bất khả kháng hoặc nguyên nhân
khác, có biên bản xác minh tại thời điểm xảy ra nguyên nhân đó thì được thanh lý để trồng lại
rừng.
2. Việc thanh lý rừng trồng phải thực hiện theo quy định của Chính phủ về quản lý tài sản
nhà nước.
3. Thẩm quyền cho phép thanh lý rừng trồng: cơ quan có thẩm quyền cho phép thanh lý
rừng trồng là cơ quan có thẩm quyền đã quyết định đầu tư trồng rừng đó.
4. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn cụ thể tiêu chí về rừng trồng không
thành rừng;
5. Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn
cụ thể đối tượng rừng trồng được thanh lý và trình tự, thủ tục thanh lý rừng trồng và kinh phí
thu được do thanh lý rừng trồng.
Điều 12. Săn bắn, bẫy, bắt động vật rừng
1. Nghiêm cấm các hoạt động săn bắn, bẫy, bắt các loài động vật hoang dã trong rừng đặc
dụng là vườn quốc gia và các khu bảo tồn thiên nhiên; trường hợp cần săn, bắn, bẫy, bắt thì
phải thực hiện theo quy định của Chính phủ tại Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 3
năm 2006 về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm.
2. Đối với rừng phòng hộ, rừng sản xuất
Nghiêm cấm các hoạt động săn, bắn, bẫy, bắt các loài động vật rừng nằm trong danh mục
động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm quy định tại Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 3
năm 2006 của Chính phủ, các loài động vật có ích là thiên địch của các loài sâu bọ, chim, chuột
phá hoại mùa màng; trường hợp cần săn, bắn, bẫy, bắt các loài nguy cấp, quý hiếm thì phải
thực hiện theo quy định tại Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2006 của Chính
phủ.
Chương II
QUẢN LÝ RỪNG ĐẶC DỤNG
Mục 1
TỔ CHỨC QUẢN LÝ RỪNG ĐẶC DỤNG
Điều 13. Phân loại rừng đặc dụng
Căn cứ tính chất, mục đích quản lý, sử dụng, rừng đặc dụng được chia ra các loại như
sau:
1. Vườn quốc gia
a) Vườn quốc gia là khu vực tự nhiên trên đất liền hoặc ở vùng đất ngập nước, hải đảo, có
diện tích đủ lớn được xác lập để bảo tồn một hay nhiều hệ sinh thái đặc trưng hoặc đại diện
không bị tác động hay chỉ bị tác động rất ít từ bên ngoài; bảo tồn các loài sinh vật đặc hữu hoặc
đang nguy cấp.
5
b) Vườn quốc gia được quản lý, sử dụng chủ yếu phục vụ cho việc bảo tồn rừng và hệ
sinh thái rừng, nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và du lịch sinh thái.
c) Vườn quốc gia được xác lập dựa trên các tiêu chí và chỉ số: về hệ sinh thái đặc trưng; các
loài động vật, thực vật đặc hữu; về diện tích tự nhiên của vườn và tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp,
đất thổ cư so với diện tích tự nhiên của vườn.
2. Khu bảo tồn thiên nhiên gồm có khu dự trữ thiên nhiên và khu bảo tồn loài - sinh cảnh
a) Khu dự trữ thiên nhiên là khu vực có rừng và hệ sinh thái tự nhiên trên đất liền hoặc ở
vùng đất ngập nước, hải đảo, được xác lập để bảo tồn bền vững các hệ sinh thái chưa hoặc ít bị
biến đổi; có các loài sinh vật đặc hữu, quý, hiếm hoặc đang nguy cấp.
Khu bảo tồn loài - sinh cảnh là khu vực có rừng và hệ sinh thái tự nhiên trên đất liền
hoặc có hợp phần đất ngập nước được xác lập để bảo tồn loài, bảo vệ môi trường sống nhằm
duy trì nơi cư trú và sự tồn tại lâu dài của các loài sinh vật đặc hữu, quý hiếm hoặc đang nguy
cấp.
b) Khu bảo tồn thiên nhiên được quản lý, sử dụng chủ yếu phục vụ cho việc bảo vệ các
hệ sinh thái và các loài sinh vật là các đối tượng cần phải bảo tồn; phục vụ nghiên cứu, giám sát
môi trường, giáo dục, nâng cao nhận thức về môi trường và du lịch sinh thái.
c) Khu bảo tồn thiên nhiên được xác lập dựa trên các tiêu chí và chỉ số về: các loài động
vật, thực vật đặc hữu, quý hiếm, nguy cấp và sinh cảnh tự nhiên, môi trường sống cho các loài
này; về diện tích tự nhiên của khu bảo tồn và tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp, đất thổ cư so với
diện tích tự nhiên của khu bảo tồn.
3. Khu bảo vệ cảnh quan
a) Khu bảo vệ cảnh quan là khu vực có rừng và sinh cảnh tự nhiên trên đất liền hoặc ở vùng
đất ngập nước, hải đảo, được hình thành do có sự tác động qua lại giữa con người và tự nhiên, làm
cho khu rừng và sinh cảnh ngày càng có giá trị cao về thẩm mỹ, sinh thái, văn hoá, lịch sử.
b) Khu bảo vệ cảnh quan được xác lập nhằm bảo vệ, duy trì và phát triển mối quan hệ
truyền thống giữa thiên nhiên với con người nhằm phục vụ cho các hoạt động về tín ngưỡng,
vui chơi, giải trí, tham quan, học tập và du lịch sinh thái.
c) Khu bảo vệ cảnh quan được xác lập dựa trên các tiêu chí và chỉ số về: lịch sử, văn hoá
truyền thống, sinh cảnh; về diện tích tự nhiên của khu bảo vệ cảnh quan và tỷ lệ diện tích đất
nông nghiệp, đất thổ cư so với diện tích tự nhiên của khu cảnh quan.
4. Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học
a) Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học là rừng và đất rừng được thành lập nhằm
phục vụ cho việc nghiên cứu, thực nghiệm khoa học, đào tạo, dạy nghề về lâm nghiệp.
b) Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học được xác lập dựa trên yêu cầu của tổ
chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đào tạo và dạy nghề về lâm nghiệp theo
chức năng, nhiệm vụ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt thành lập tổ chức đó.
5. Bộ Thuỷ sản chủ trì phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông và Bộ Tài
nguyên và Môi trường hướng dẫn việc quản lý các hợp phần bảo tồn tài nguyên sinh vật biển và
đất ngập nước trong các khu rừng đặc dụng.
6
Điều 14. Phân khu chức năng đối với vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên
1. Trong vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên được chia thành các phân khu chức
năng sau đây
a) Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt:
- Là khu vực có diện tích vừa đủ để bảo vệ nguyên vẹn hệ sinh thái tự nhiên như mẫu
chuẩn sinh thái quốc gia, được quản lý, bảo vệ chặt chẽ để theo dõi diễn biến tự nhiên của rừng
và hệ sinh thái.
- Đối với rừng đặc dụng ở vùng đất ngập nước, phạm vi và quy mô của phân khu bảo vệ
nghiêm ngặt được xác định theo mục tiêu, đối tượng, tiêu chí bảo tồn và điều kiện thuỷ văn.
b) Phân khu phục hồi sinh thái
Là khu vực được quản lý, bảo vệ chặt chẽ để khôi phục các hệ sinh thái rừng thông qua
việc thực hiện một số hoạt động lâm sinh cần thiết.
c) Phân khu dịch vụ - hành chính: là khu vực để xây dựng các công trình làm việc và sinh
hoạt của ban quản lý, các cơ sở nghiên cứu - thí nghiệm, dịch vụ du lịch, vui chơi giải trí.
2. Các phân khu chức năng trong vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên được điều chỉnh
về phạm vi ranh giới của từng phân khu dựa trên đặc điểm, thực trạng diễn biến của rừng và mục
đích quản lý, sử dụng rừng; việc điều chỉnh ranh giới của các phân khu được thực hiện sau mỗi
kỳ quy hoạch hoặc sau mỗi lần rà soát diện tích các loại rừng theo yêu cầu của Thủ tướng
Chính phủ.
Điều 15. Phân cấp quản lý rừng đặc dụng
1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức việc quản lý các vườn quốc gia có vị trí
đặc biệt về bảo tồn thiên nhiên (đặc trưng tiêu biểu về tính đa dạng sinh học cao, đại diện cho
các vùng, miền về sinh cảnh, về nguồn gen); các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên
nằm trên địa bàn liên tỉnh.
2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức việc quản lý vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên
nằm trong phạm vi một tỉnh và các khu bảo vệ cảnh quan.
3. Tổ chức, cộng đồng dân cư thôn được Nhà nước giao rừng đặc dụng mà cấp Bộ hoặc
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh không thành lập ban quản lý khu rừng, có trách nhiệm tổ chức việc
quản lý khu rừng được giao.
4. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn cho ban quản lý khu rừng theo quyền hạn của mình và theo quy
định của pháp luật.
Điều 16. Tổ chức bộ máy của Ban quản lý rừng đặc dụng
1. Những khu rừng đặc dụng được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hoặc Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh thành lập thì tổ chức bộ máy của Ban quản lý khu rừng do cơ quan thành lập
ban quản lý quyết định. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định cụ thể về cơ cấu tổ
chức của Ban quản lý khu rừng đặc dụng thống nhất trong toàn quốc.
2. Biên chế của Ban quản lý khu rừng
a) Biên chế ban đầu của Ban quản lý khu rừng đặc dụng có số lượng tối thiểu phù hợp với
cơ cấu tổ chức theo quy định của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn. Trong quá trình hoạt
7
động, tuỳ theo yêu cầu về công tác quản lý và căn cứ vào quy định của Nhà nước, Ban quản lý
khu rừng đặc dụng được tự điều chỉnh về biên chế theo thẩm quyền hoặc xây dựng kế hoạch
biên chế hàng năm trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định.
b) Lực lượng chuyên trách về bảo vệ rừng của Ban quản lý khu rừng thực hiện theo quy
định tại điểm a khoản 4 Điều 18 Quy chế này.
3. Ban quản lý khu rừng đặc dụng có năng lực và điều kiện phát triển hoạt động du lịch
sinh thái, được thành lập một bộ phận trực thuộc để thực hiện nhiệm vụ này, theo hình thức
bước đầu là đơn vị sự nghiệp có thu, được vay vốn để đầu tư phát triển du lịch theo dự án đầu
tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Cấp quản lý khu rừng đặc dụng quyết định việc thành
lập bộ phận này theo các quy định của Nhà nước.
4. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về tiêu chuẩn giám đốc, phó giám
đốc Ban quản lý rừng đặc dụng cho phù hợp với từng loại hình rừng đặc dụng để làm căn cứ bổ
nhiệm, đào tạo, quy hoạch cán bộ nhằm nâng cao hiệu quả quản lý rừng đặc dụng.
Mục 2
BẢO VỆ, PHÁT TRIỂN VÀ SỬ DỤNG RỪNG ĐẶC DỤNG
Điều 17. Đầu tư và kinh phí đảm bảo duy trì bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng
Việc đầu tư bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng thực hiện theo quy định về quản lý đầu tư
và xây dựng của Chính phủ và theo quy định dưới đây:
1. Việc xác định các mục tiêu và nội dung đầu tư phải phù hợp với các đặc thù của từng
loại hình rừng đặc dụng quy định tại khoản 1 Điều 13 Quyết định này.
Đối với các khu rừng đặc dụng ở vùng đất ngập nước là hệ sinh thái đặc thù, việc xác định
các mục tiêu và nội dung đầu tư đối với vùng đất ngập nước thực hiện theo quy định tại Nghị định
số 109/2003/NĐ-CP ngày 23 tháng 9 năm 2003 của Chính phủ về bảo tồn và phát triển bền vững
đất ngập nước.
2. Các nội dung đầu tư chính cho rừng đặc dụng bao gồm:
a) Chi thường xuyên là các khoản chi cho lương, bảo đảm cho hoạt động của bộ máy
quản lý, bảo vệ rừng; chi cho việc theo dõi, giám sát hệ sinh thái và đa dạng sinh học; nghiên
cứu và thực nghiệm khoa học; đào tạo nguồn nhân lực; tuyên truyền giáo dục cộng đồng về bảo
vệ rừng đặc dụng, bảo tồn thiên nhiên.
b) Chi đầu tư là các khoản chi để xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng vốn rừng và làm giầu
rừng, cải tạo rừng, trang thiết bị cho nghiên cứu, thực nghiệm khoa học và quản lý.
3. Ngân sách nhà nước đầu tư cho các hạng mục quy định tại khoản 2 Điều này
a) Ngân sách trung ương đầu tư cho các khu rừng đặc dụng do Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn quản lý; ngân sách trung ương hỗ trợ có mục tiêu cho ngân sách tỉnh thực hiện đầu tư
bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng do địa phương quản lý.
b) Ngân sách địa phương đầu tư cho các khu rừng đặc dụng do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
quản lý.
4. Nhà nước hỗ trợ đầu tư bảo vệ và phát triển khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa
học và khu bảo vệ cảnh quan mà cấp Bộ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh không thành lập ban quản
lý (các khu rừng này được thành lập theo mô hình các trung tâm).
8
5. Các chủ rừng và Ban quản lý khu rừng đặc dụng được sử dụng nguồn thu từ các hoạt
động dịch vụ và tài trợ của các tổ chức, cá nhân, các dự án để đầu tư bảo vệ và phát triển khu
rừng Nhà nước giao sau khi thực hiện nghĩa vụ tài chính và các nghĩa vụ khác theo quy định
của pháp luật.
6. Các hạng mục đầu tư cho rừng đặc dụng thuộc nhiều nguồn vốn khác nhau, cấp quản
lý rừng đặc dụng phải lồng ghép nhiều nguồn vốn và căn cứ vào quy định của nhà nước về
quản lý các nguồn vốn để hướng dẫn Ban quản lý rừng đặc dụng lập dự án đầu tư, trình cấp có
thẩm quyền phê duyệt theo quy định của Nhà nước.
Ban quản lý rừng đặc dụng lập báo cáo quy hoạch đầu tư cho giai đoạn 10 năm, trình cấp
có thẩm quyền phê duyệt theo quy định, đồng thời căn cứ vào báo cáo quy hoạch đầu tư được
phê duyệt, Ban quản lý rừng đặc dụng tiến hành lập các dự án đầu tư, trình cấp có thẩm quyền
phê duyệt và triển khai thực hiện theo các quy định.
7. Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng.
Điều 18. Bảo vệ rừng đặc dụng
Việc bảo vệ rừng đặc dụng thực hiện theo quy định của Nghị định số 23/2006/NĐ-CP và
theo các quy định sau:
1. Trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên
nghiêm cấm các hoạt động sau đây:
a) Các hoạt động làm thay đổi cảnh quan tự nhiên của khu rừng, loại trừ những hoạt động
được thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 22 Quy chế này.
b) Các hoạt động làm ảnh hưởng đến đời sống tự nhiên của các loài động, thực vật hoang
dã hoặc loài bảo tồn.
c) Thả và nuôi, trồng các loài động vật, thực vật đưa từ nơi khác tới mà trước đây các loài
này không có trong khu rừng đặc dụng. Trong trường hợp đặc biệt phải được Bộ trưởng Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quyết định hoặc báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định.
d) Khai thác tài nguyên sinh vật và các tài nguyên thiên nhiên khác.
đ) Gây ô nhiễm môi trường.
e) Mang hoá chất độc hại, chất nổ, chất dễ cháy vào rừng, đốt lửa trong rừng và ven rừng.
g) Chăn thả gia súc, gia cầm.
2. Trong phân khu phục hồi sinh thái của vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên,
nghiêm cấm các hoạt động quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Bảo vệ động vật rừng trong khu rừng đặc dụng
a) Tất cả các loài động vật rừng trong khu rừng đặc dụng phải được bảo vệ; việc săn, bắn, bẫy bắt
động vật rừng thực hiện theo quy định tại Điều 12 Quy chế này.
b) Bảo vệ môi trường sống và nguồn thức ăn của động vật rừng, trường hợp cần thiết có
thể tạo thêm nguồn thức ăn, nước uống cho chúng.
c) Việc thả động vật rừng vào khu rừng đặc dụng thực hiện theo quy định như sau:
9
Chỉ được thả những loài cần thiết bổ sung cho nhu cầu bảo tồn; động vật được thả vào
rừng phải là loài động vật bản địa khoẻ mạnh, không có bệnh tật; số lượng động vật của từng
loài thả vào rừng phải phù hợp với vùng sống, nguồn thức ăn của chúng và đảm bảo cân bằng
sinh thái của khu rừng.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn việc thả động vật hoang dã vào rừng.
d) Đối với rừng đặc dụng ở vùng đất ngập nước hoặc có hợp phần đất ngập nước, Ban
quản lý khu rừng đặc dụng phải thiết lập quy chế quản lý, theo dõi chế độ ngập nước cho phù
hợp với đặc điểm sinh thái của tài nguyên động thực vật, có phương án phòng cháy, chữa cháy
riêng cho rừng tràm, trên đất ngập nước phèn và đất than bùn, có dự án đầu tư quản lý các thực
vật ngoại lai gây hại, xâm nhập vào rừng đặc dụng bằng lan truyền theo nước.
Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Bộ Thuỷ sản hướng dẫn việc quản
lý tài nguyên thuỷ sản trong rừng đặc dụng.
4. Tổ chức bảo vệ rừng đặc dụng
a) Chủ rừng được tổ chức các lực lượng bảo vệ rừng như sau:
- Tổ chức lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng của chủ rừng; lực lượng chuyên trách bảo
vệ rừng được bố trí bình quân 500ha/người.
- Ban quản lý được sử dụng quỹ lương của lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng hoặc tiền
công bảo vệ rừng mà Nhà nước quy định trong các dự án được duyệt để khoán việc bảo vệ rừng
cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn ở địa phương.
- Thuê lực lượng bảo vệ chuyên nghiệp để bảo vệ rừng.
Chủ rừng quy định chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ cho các lực lượng bảo vệ rừng nêu
trên theo quyền hạn của mình và theo quy định của pháp luật.
b) Vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên có lực lượng kiểm lâm bảo vệ rừng được
quy định như sau:
- Vườn quốc gia có diện tích từ 7.000ha trở lên; khu bảo tồn thiên nhiên có diện tích từ
15.000ha trở lên và có nguy cơ bị xâm hại cao.
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức lực lượng kiểm lâm bảo vệ vườn quốc
gia và khu bảo tồn thiên nhiên thuộc Bộ quản lý.
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức lực lượng kiểm lâm bảo vệ vườn quốc gia và khu bảo
tồn thiên nhiên thuộc tỉnh quản lý.
Điều 19. Trồng rừng, phục hồi rừng, cải tạo rừng đặc dụng
1. Đối với vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên
a) Trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt chỉ duy trì diễn thế tự nhiên của rừng, không
được trồng rừng hoặc thực hiện các tác động kỹ thuật lâm sinh khác.
b) Trong phân khu phục hồi sinh thái phải tôn trọng diễn thế tự nhiên; việc phục hồi hệ
sinh thái rừng thực hiện chủ yếu bằng biện pháp khoanh nuôi, xúc tiến tái sinh tự nhiên, làm
giàu rừng; trường hợp cần phải trồng rừng thì ưu tiên trồng cây bản địa của khu rừng đó.
10
c) Trong phân khu dịch vụ - hành chính được trồng rừng, cải tạo rừng và thực hiện các
biện pháp lâm sinh để nâng cao chất lượng rừng.
2. Đối với khu bảo vệ cảnh quan, khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học được trồng
rừng, cải tạo rừng và thực hiện các biện pháp lâm sinh khác để nâng cao giá trị thẩm mỹ và
phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học.
Điều 20. Sử dụng hợp lý tài nguyên tự nhiên trong rừng đặc dụng
1. Đối tượng rừng đặc dụng được phép tác động, điều chỉnh
a) Đối với vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên:
- Trong phân khu phục hồi sinh thái được sử dụng tổng hợp các biện pháp kỹ thuật lâm
sinh để điều chỉnh mật độ, cấu trúc, nâng cao chất lượng và thúc đẩy nhanh quá trình phục hồi
rừng và hệ sinh thái.
- Đối với các khu rừng đặc dụng ở vùng đất ngập nước được sử dụng hợp lý các tài
nguyên đất ngập nước trừ các loài đặc hữu, quý hiếm quy định trong Danh mục các loài thực vật
rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm quy định tại Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30
tháng 3 năm 2006 của Chính phủ và không tác động xấu đến các chức năng và giá trị của đất
ngập nước.
- Trong phân khu dịch vụ - hành chính được tận thu, tận dụng những cây gỗ đã chết,
gẫy đổ và những cây trong phạm vi giải phóng mặt bằng để xây dựng các công trình theo quy
hoạch; được khai thác các loại lâm sản ngoài gỗ trừ các loài thực vật rừng, động vật rừng nguy
cấp, quý, hiếm quy định tại Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2006 của Chính
phủ.
- Trường hợp cần khai thác các nguồn gen phục vụ cho việc nghiên cứu, phát triển rừng
thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Quy chế này.
b) Đối với khu rừng bảo vệ cảnh quan được tác động, điều chỉnh, chặt cây tạo mật độ hợp
lý để nuôi dưỡng rừng và tác động các biện pháp kỹ thuật khác để nâng cao giá trị thẩm mỹ của
khu rừng.
c) Đối với rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học được phép khai thác lâm sản theo yêu
cầu của việc nghiên cứu đào tạo của tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đào
tạo, dạy nghề về lâm nghiệp.
2. Thẩm quyền cho phép sử dụng hợp lý tài nguyên tự nhiên trong rừng đặc dụng
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt thiết kế và cho phép sử dụng hợp lý tài
nguyên tự nhiên trong rừng đặc dụng, đối với khu rừng đặc dụng mà chủ rừng thuộc cấp Bộ quản
lý.
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt thiết kế và cấp phép hoặc uỷ quyền cho Sở Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt thiết kế và cấp phép sử dụng hợp lý tài nguyên tự
nhiên trong rừng đặc dụng, đối với rừng đặc dụng mà chủ rừng thuộc cấp tỉnh quản lý hoặc
thuộc các Bộ, ngành khác (trừ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) trên địa bàn.
11
3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn kỹ thuật và trình tự, thủ tục lập hồ
sơ sử dụng hợp lý tài nguyên tự nhiên trong rừng đặc dụng.
Điều 21. Hoạt động nghiên cứu khoa học, giảng dạy, thực tập trong khu rừng đặc
dụng
1. Hoạt động nghiên cứu khoa học, giảng dạy, thực tập trong khu rừng đặc dụng thực
hiện theo quy định tại Điều 52 Luật Bảo vệ và phát triển rừng và Điều 54 Nghị định số
23/2006/NĐ-CP.
2. Việc sưu tầm mẫu vật, nguồn gen sinh vật rừng trong khu rừng đặc dụng thực hiện
theo quy định sau đây:
a) Phải làm rõ loài, số lượng mẫu vật, gen sưu tầm và thời gian sưu tầm.
b) Việc sưu tầm mẫu vật, nguồn gen thực hiện theo sự hướng dẫn, quản lý và giám sát
của chủ rừng.
3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn việc lưu giữ, sưu tầm mẫu vật,
nguồn gen sinh vật rừng trong khu rừng đặc dụng.
Điều 22. Hoạt động du lịch sinh thái trong rừng đặc dụng.
1. Hoạt động du lịch sinh thái trong rừng đặc dụng thực hiện theo quy định tại Điều 53 của
Luật Bảo vệ và phát triển rừng và Nghị định số 23/2006/NĐ-CP của Chính phủ.
2. Chủ rừng được tổ chức hoạt động kinh doanh du lịch sinh thái, cho thuê môi trường
rừng hoặc sử dụng quyền sử dụng đất và giá trị kinh tế của tài nguyên đa dạng sinh học và cảnh
quan rừng để liên doanh, liên kết với các chủ đầu tư khác, các tổ chức, cá nhân đầu tư kinh
doanh du lịch sinh thái tại khu rừng đặc dụng.
Việc tổ chức du lịch sinh thái tại khu rừng đặc dụng phải được lập thành Dự án đầu tư
trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
Dự án phát triển du lịch sinh thái tại các khu rừng đặc dụng phải đáp ứng các yêu cầu:
a) Không gây ảnh hưởng xấu đến mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học, cảnh quan môi
trường và tác dụng phòng hộ của khu rừng.
b) Việc xây dựng các công trình phục vụ cho du lịch phải theo quy hoạch khu rừng được
cấp có thẩm quyền phê duyệt:
- Trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt được lập các tuyến đường mòn, lều trú chân, cắm
biển chỉ dẫn để tuần tra kết hợp phục vụ du lịch sinh thái. Các tuyến đường mòn phục vụ cho
du lịch phải bảo đảm an toàn cho du khách và tuân theo sự hướng dẫn, kiểm tra của chủ rừng.
- Trong phân khu phục hồi sinh thái được mở các đường trục chính, xây dựng công trình
để bảo vệ và phát triển rừng kết hợp phục vụ các hoạt động dịch vụ - du lịch.
- Trong phân khu dịch vụ - hành chính, khu bảo vệ cảnh quan, khu rừng nghiên cứu, thực
nghiệm khoa học được xây dựng các công trình kiến trúc phục vụ cho việc quản lý, nghiên cứu
khoa học và tổ chức các hoạt động dịch vụ - du lịch.
- Trình tự, thủ tục xây dựng các công trình thực hiện theo quy định của pháp luật về xây
dựng.
12
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn về tỷ lệ diện tích đất được xây dựng
các công trình phục vụ du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng trong rừng đặc dụng; quy định việc đánh
giá kinh tế, tài nguyên đa dạng sinh học và cảnh quan rừng đặc dụng và phối hợp với Tổng cục
Du lịch hướng dẫn việc quản lý hoạt động du lịch sinh thái trong rừng đặc dụng.
c) Tạo điều kiện cho các hộ gia đình, cá nhân sống trong khu rừng đặc dụng tham gia các
dịch vụ du lịch.
Điều 23. Ổn định đời sống dân cư sống trong các khu rừng đặc dụng
1. Việc ổn định đời sống dân cư sống trong các khu rừng đặc dụng thực hiện theo quy
định tại Điều 54 của Luật Bảo vệ và phát triển rừng.
2. Diện tích rừng sản xuất nằm xen kẽ trong rừng đặc dụng được bảo vệ, phát triển và sử
dụng theo quy định tại Chương IV Quy chế này.
3. Diện tích đất ở, ruộng, vườn và nương rẫy cố định của dân cư sống trong rừng đặc
dụng không tính vào diện tích rừng đặc dụng nhưng phải được thể hiện trên bản đồ, cắm mốc
ranh giới rõ ràng trên thực địa và quản lý theo quy định của pháp luật về đất đai.
Điều 24. Vùng đệm của vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên
1. Vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên phải xây dựng vùng đệm cho khu rừng.
2. Vùng đệm là vùng rừng, vùng đất hoặc vùng đất có mặt nước nằm liền kề với vườn
quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên; bao gồm toàn bộ hoặc một phần các xã, phường, thị trấn
nằm sát ranh giới với vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên.
3. Vùng đệm được xác lập nhằm ngăn chặn, giảm nhẹ sự xâm hại của con người tới vườn
quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên.
Ban quản lý khu rừng đặc dụng tổ chức cho cộng đồng dân cư vùng đệm tham gia các
hoạt động bảo vệ, bảo tồn, sử dụng hợp lý lâm sản và các tài nguyên tự nhiên, các dịch vụ du
lịch sinh thái để góp phần nâng cao thu nhập và gắn sinh kế của người dân với các hoạt động
của khu rừng đặc dụng.
Cơ quan chính quyền nhà nước trên địa bàn vùng đệm lập dự án đầu tư phát triển sản
xuất và cơ sở hạ tầng nông thôn để ổn định cuộc sống cho cộng đồng dân cư, đồng thời thiết
lập quy chế trách nhiệm của cộng đồng dân cư và từng hộ gia đình trong việc bảo vệ và bảo tồn
khu rừng đặc dụng.
4. Diện tích của vùng đệm không tính vào diện tích của khu rừng đặc dụng
a) Diện tích rừng phòng hộ, rừng sản xuất nằm trong vùng đệm, Ủy ban nhân dân cấp có
thẩm quyền giao, cho thuê rừng cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn
theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng.
b) Rừng phòng hộ, rừng sản xuất trong vùng đệm được quản lý theo quy định tại các
Chương III và Chương IV Quy chế này.
5. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp và các chủ rừng đối với vùng đệm
a) Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm xây dựng các dự án phát triển kinh tế - xã
hội, sản xuất lâm, nông, ngư nghiệp, định canh định cư trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê
duyệt và tổ chức thực hiện để ổn định và nâng cao đời sống của người dân trong vùng đệm nằm
trong ranh giới hành chính của cấp huyện.
13
b) Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức thực hiện dự án đã được phê duyệt quy
định tại điểm a khoản 5 Điều này; tuyên truyền, vận động nhân dân trong xã có những hoạt
động tích cực tham gia bảo vệ và phát triển vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên; xây dựng
và thực hiện các biện pháp ngăn chặn sự xâm hại của người dân ở vùng đệm vào vườn quốc gia
và khu bảo tồn thiên nhiên.
c) Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã, các chủ rừng trong vùng đệm có
trách nhiệm phối hợp với Ban quản lý rừng vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên trong
việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Chương III
QUẢN LÝ RỪNG PHÒNG HỘ
Mục 1
TỔ CHỨC QUẢN LÝ RỪNG PHÒNG HỘ
Điều 25. Phân loại rừng phòng hộ
Căn cứ vào tính chất và yêu cầu phòng hộ của rừng, rừng phòng hộ được chia ra các loại
như sau
1. Rừng phòng hộ đầu nguồn
a) Rừng phòng hộ đầu nguồn là rừng được xác lập nhằm tăng cường khả năng điều tiết
nguồn nước của các dòng chảy, hồ chứa nước để hạn chế lũ lụt, giảm xói mòn, bảo vệ đất, hạn
chế bồi lấp các lòng sông, lòng hồ.
b) Rừng phòng hộ đầu nguồn được xác lập dựa trên các tiêu chí và chỉ số về: diện tích,
lượng mưa, độ dốc, độ cao tương đối, thành phần cơ giới và độ dày tầng đất.
c) Quy mô của rừng phòng hộ đầu nguồn phù hợp với quy mô của lưu vực sông và việc
quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn gắn với công tác quản lý tổng hợp lưu vực sông.
2. Rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay
a) Rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay được xác lập nhằm chống gió hại, chắn cát di
động, bảo vệ sản xuất nông nghiệp, bảo vệ các khu dân cư, khu đô thị, vùng sản xuất và các
công trình khác.
b) Rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay được xác lập dựa trên các tiêu chí và chỉ số về:
diện tích, bậc thềm cát ven biển, khí hậu và hiện trạng đặc điểm kinh tế, xã hội của khu vực.
3. Rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển
a) Rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển được xác lập nhằm ngăn cản sóng, chống sạt lở,
bảo vệ sản xuất và các công trình ven biển, ven sông.
b) Rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển được xác lập dựa trên các tiêu chí và chỉ số về:
diện tích, vị trí, thuỷ văn, tình trạng xói lở và các công trình bảo vệ đã có.
c) Đai rừng phòng hộ nằm bên ngoài đê biển có chức năng chắn sóng, cố định bãi bồi,
chống sạt lở, bảo vệ đê biển, duy trì diễn thế tự nhiên của hệ sinh thái rừng ngập mặn. Đai rừng
này là một hạng mục của hệ thống đê biển, được thiết kế và đầu tư trong công trình xây dựng
đê biển.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét