LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "hội nhập kinh tế việt nam-asean những đặc trưng, kinh nghiệm và giải pháp": http://123doc.vn/document/1052233-hoi-nhap-kinh-te-viet-nam-asean-nhung-dac-trung-kinh-nghiem-va-giai-phap.htm
tiêu chí theo đó các quốc gia- dân tộc không phụ thuộc vào thể chế, chế độ
chính trị - xã hội và hệ t tởng, trong cùng một không gian địa- lịch sử, địa- văn
hoá, địa- chính trị- xã hội hoàn toàn có thể hợp tác với nhau để phát triển- chủ
nghĩa khu vực ấy ngày càng tỏ rõ sức sống mãnh liệt ở Asean và Đông Nam á
sau khi chiến tranh lạnh kết thúc và trật tự thế giới hai cực Y-an-ta tan rã.
Asean trở thành tài sản chung của toàn Đông Nam á. Tuy nhiên, để hoà nhập
có hiệu quả cũng cần phải thấy rõ và phân tích đầy đủ những khác biệt giữa
các quốc gia Asean.
II. Việt Nam gia nhập Asean: Cơ hội và thách thức
Sau 32 năm xây dựng và phát triển, đến nay Asean đã trở thành một khu
vực có vị thế chính trị, tiềm năng kinh tế và nền văn hoá đầy bản sắc, có quan
hệ với nhiều trung tâm kinh tế lớn và các khu vực khác trên thế giới. Việt Nam
gia nhập Asean là một quyết định đúng đắn, kịp thời với xu hớng phát triển
của tình hình thế giới và tình hình khu vực, là một mốc lịch sử quan trọng,
đánh dấu sự tiến bộ trong việc mở rộng quan hệ đối ngoại nói chung và quan
hệ kinh tế đối ngoại nói riêng. Đây là cơ hội nhng cũng có nhiều thách thức
cần phải vợt qua.
1. Cơ hội
Việt Nam trở thành viên chính thức của Asean, đã và đang tham gia đầy
đủ các hoạt động của Asean và ngoài Asean. Đó là cơ hội để Việt Nam xây
dựng và phát triển kinh tế- xã hội trong thời gian tới.
Thứ nhất, Hội nhập Asean, Việt Nam có điều kiện tăng cờng hợp tác kinh
tế khu vực, mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế, mở rộng thị trờng, hội nhập với
thế giới.
Asean là một thị trờng lớn, với dân số hơn 500 triệu ngời, nhịp độ tăng tr-
ởng hàng năm khá nhanh, khả năng GDP trên 300 tỷ USD, dự trữ ngoại tệ và
xuất khẩu t bản lớn. Là thành viên chính thức, đầy đủ của Asean, Việt Nam có
đủ điều kiện để tăng cờng quan hệ, hợp tác kinh tế thơng mại với các nớc
trong hiệp hội. Thông qua hoại động hợp tác kinh tế, bớc đầu hai bên đã đạt đ-
ợc hiệu quả nhất định. Quan hệ kinh tế thơng mại giữa Việt Nam và các nớc
thành viên Asean đã gia tăng bình quân 26,8% năm và đã tạo ra những điều
kiện thuận lợi để đầu t vào Việt Nam. Cho đến giữa thập kỷ 90, đầu t của các
nớc thành viên Asean vào Việt Nam đã tăng lên 273 dự án với tổng số vốn là
4,6 tỷ USD, chiếm hơn 20% FDI, trong đó dẫn đầu là Singapore (trên 2,5 tỷ),
sau đó là Malaysia, Thailand, phía Việt Nam thông qua các dự án liên doanh
với các nớc Asean đã tăng thêm dự án đầu t , mở rộng sản xuất, giải quết việc
làm trong một số ngành kinh tế nh: công nghiệp chế biến, lâm hải sản, du lịch,
dịch vụ Việt Nam cũng đã và đang tham gia theo lịch trình cảc AFTA, đã
cung cấp một danh sách gồm 857 mặt hàng đầu tiên đợc giảm thuế và đã hoàn
tất việc đa vào hẹe thống biểu thuế quan u đãi có hiệu lực chung (Common
Đỗ Quang Phơng - QLKT 41B 5
đề án môn học
effective preferential tariffs- CEPT). Cho đến nay hệ thống thuế quan của Việt
Nam và CEPT không có sự cách biệt lớn lắm. Khoảng trên 57% hàng nhập
khẩu của Việt Nam có thuế suất từ 0 5%, khoảng 23% có mức thuế từ 6-
20%, các hàng hoá có mức thuế trên 20% chỉ chiếm 20%. Việc tham gia
AFTA của Việt Nam, tuy trớc mắt có khó khăn, nhng về lâu dài sẽ có lợi trong
thúc đẩy việc hội nhập của nền kinh tế nớc ta vào nền kinh tế khu vực. Theo
đánh giá của các chuyên gia kinh tế thuộc trờng đại học tổng hợp Singapore
thì Hiệp định CEPT sẽ làm tăng 3% thu nhập và thơng mại của các nớc Asean.
Tỷ lệ trao đổi mậu dịch nội bộ Asean tăng từ 18% lên 50% giá trị ngoại thơng
Asean vào năm 2008. Ngoài ra thông qua AFTA, Việt Nam sẽ có điều kiện
mở rộng thị trờng với các nớc t bản phát triển . Từ đó, Việt Nam sẽ nhanh
chóng hoà nhập vào môi trờng kinh doanh khu vực và quốc tế, Asean sẽ là cầu
nối để Việt Nam tiếp cận các tổ chức kinh tế và các bạn hàng trong và ngoài
khu vực, tham gia vào APEC, và chuẩn bị điều kiện để tham gia WTO
Thứ hai, thông qua việo hội nhập khu vực và thế giới, vớc ta có điều kiện
tranh thủ nguồn lực từ bên ngoài, phát huy nguồn lực trong nớc một cách
mạnh mẽ hơn.
Hợp tác Việt Nam Asean thông qua các chơng trình, hiệp định, dự án
trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, khoa học, công nghệ và môi trờng, văn
hoáTừ đó mà tăng cờng đầu t, nâng cao khả năng sản xuất, chế biến, tạo ra
những thị trờng lớn của nhau, còn đầy tiềm năng và đang phát triển . Tuy có
một số mặt hàng trùng nhau, song cả hai đều có điều kiện bổ sung cho nhau,
hỗ trợ lẫn nhau trong một số mặt hàng nhất định nh: dầu lửa, sản xuất và xuất
khẩu gạo, cao su Từ đó mà hàng loạt các chơng trình hợp tác đã đợc hình
thành, nh phát triển thêm các khu vực kinh doanh hỗn hợp, thực hiện triển
khai Chính sách nông nghiệp chung Asean trên các lĩnh vực khoa học kỹ
thuật, trao đổi thông tin hợp tác và sử dụng nguồn nớc sông Mê - Công.
Asean là một tổ chức có quan hệ rộng rãi và chặt chẽ với các cờng quốc
và tổ chức kinh tế thế giới nh: Mỹ, Nhật, Canađa, EU nên khi gia nhập
Asean, quan hệ Việt Nam với các nớc trên sẽ tăng kên, từ đó chúng ta có thể
mở rộng trao đổi hàng hoá, thu hút vốn đầu t. Nh vậy, Việt Nam gia nhập
Asean sẽ có một kênh mới để quan hệ với những nớc và tổ chức kinh tế trên
thế giới. Những năm qua, Việt Nam đã đặt quan hệ thơng mại với hơn 100 nớc
và lãnh thổ, thu hút đợc 1928 dự án đầu t (tính đến năm 1997) từ nớc ngoài
vào với tổng số vốn đăng ký gần 32 tỷ USD, trong đó có 37% tổng số vốn
đang đợc thực hiện . Kết quả là ta đã tăng đợc nguồn vốn đầu t để xây dựng
kết cấu hạ tầng, đầu t đổi mới công nghệ, phát triển sản xuất. Việc trao đổi
hàng hoá giữa trong và ngoài nớc, cạnh tranh sẽ là động lực thúc đẩy việc sản
xuất kinh doanh ngày càng có hiệu quả hơn, nội lực của Việt Nam đợc tăng c-
ờng thêm một bớc.
Đỗ Quang Phơng - QLKT 41B 6
đề án môn học
Thứ ba, hội nhập với khu vực, Việt Nam có điều kiện phát huy lợi thế so
sánh, đồng thời khắc phục những chê,ăng cớng cạnh tranh và hợp tác của Việt
Nam với các nớc và các khu vực trên thế giới.
Giữa Việt Nam và các trong khối có nhiều nét tơng đồng về tài nguyên
thiên nhiên, nông sản nhiệt đới, lao đôngh Khi hội nhập, ta có thể liên kết
với các nớc để cùng tạo ta những lợi thế chung cao hơn trong trao đổi với các
vực khác, phát huy lợi trế so sánh trên thị trờng thế giới.
Asean đã là một Hiệp hội bao gồm 10 nớc, hết sức đa dạng về tài nguyên
thiên nhiên, trình độ phát triển, tiềm năng kinh tế thị trờng Điều đó sẽ tạo ra
điều kiện mới cho sự hợp tác với nhau để xuất khẩu gạo phù hợp với đặc điểm
cuả từng loại gạo của từng nớc. Malaysia và Việt Nam sẽ cùng hợp tác xuất
khẩu cao su. Khi AFTA đợc thực hiện đầy đủ sẽ cho phép các nớc phát huy đ-
ợc sức mạnh của khu vực để cạnh tranh lợp tác với các thị trờng tự do khác.
Thứ t, khi hội nhập Asean Việt Nam sẽ học tập đợc những iinh nghiệm
phong phú của các nớc đi trớc, tạo điều kiện để phát triển. Đó là các kinh
nghiệm quản lý trong một số lĩnh vực vốn là thế mạnh của một số nớc, nh
trong lĩnh vực quan hệ mậu dịch của Singapore và Malaysia: các kinh nghiệm
của Thailand, Philippines về nông nghiệp và công nghiệp chế biến nông sản,
kinh nghiệm của Singapore về tổ chức thị trờng vốn, kinh nghiệm về chế biến
và xuất khẩu khoáng sản của Malaysia, Inđonesia Các kinh nghiệm trong
quan hệ tổ chức tài chính, tín dung, thơng mại quốc tế và các kinh nghiệm
quản lý kinh tế vĩ mô, vi mô khác.
Thứ năm, Việt Nam Asean còn có cơ hội về mặt chính trị - xã hội. Đó là
việc tăng cờng hiểu biết, tin cậy lẫn nhau giữa các thành viên, củng cố hoà
bình, ổn định và hạn chế những nhân tố dẫn tới sự bất hoà, mất ổn định trong
khu vực. Đông Nam á là nơi có nền văn hoá với nhiều nét tơng đồng gần gũi
với Việt Nam. Vì vậy ra nhập Asean, ta có điều kiện tiếp thu những tinh hoa
văn hoá của từng nớc, làm giàu thêm văn hoá dân tộc. Việt Nam hội nhập
Asean nhng không thể đánh mất mình, hội nhập để phát triển một nớc Việt
Nam đậm đà bản sắc dân tộc.
Tuy nhiên bên cạnh những cơ hội, khi ra nhập Asean . Việt Nam không
tránh khỏi những thách thức.
2. Thách thức
Thứ nhất: khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế giữa Việt Nam và
Asean còn rất lớn, quan hệ trong một số lĩnh vực còn bất cập.
Các nớc Asean đến nay hoàn thành giai đoạn đầu của quá trình công
nghiệp hoá. Nền kinh tế thị trờng đã hình thành và phát triển từ nhiều thập kỷ
qua, có môi trờng thơng mại và đầu t quốc tế thuận lợi, là những nớc đang
chuyển hớng chiến lợc từ việc xuất khẩu hàng hoá dựa trên nguyên liệu sẵn có
Đỗ Quang Phơng - QLKT 41B 7
đề án môn học
và nhân công rẻ sang sản xuất và xuất khẩu hàng hoá có hàm lợng kỹ thuật và
chất lợng cao. Singapore là nớc đi trớc, gần đây các nớc Malaysia, Thailand
rồi đến Inđônêsia, Philippines cũng đầu t vào những ngành có kỹ thuật cao để
nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Kinh tế của các nớc Asean đã đạt tới
tốc độ tăng trởng cao, mức bình quân thu nhập đầu ngời cao. Trớc khủng
hoảng, nớc có bình quân thu nhập thấp là Inđônêsia cũng gấp 4 lần, còn nớc
cao nhất là Singapore gấp 50 lần thu nhập bình quân của Việt Nam. Kết cấu
hạ tầng, kỹ thuật, công nghệ, kinh nghiệm quản lý và marketing của các nớc
Asean cao hơn hẳn Việt Nam. Tơng lai đến năm 2000 một số nớc Asean sẽ trở
thành những thành viên của câu lạc bộ những nền kt sẽ trở thành những thành
viên của câu lạc bộ những nền kinh tế mới công nghiệp hoá- NIE
s
. Trong khi
đó Việt Nam mới ở giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá và đang trong
quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trờng, mới bớc đầu thực hiện một nền
kinh tế hớng sang xuất khẩu. Cho đến nay, nền kinh tế Việt Nam vẫn đang ở
trình độ thấp hơn các nớc Asean, kết cấu hạ tầng, trình độ quản lý, tiếp thị còn
yếu và thiếu, tỷ lệ tích luỹ của Việt Nam trong GDP còn ở mức thấp .
Tình hình thơng mại quốc tế và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp,
tăng trởng kinh tế của các nớc t bản phát triển chậm lại, chính sách bảo hộ
mậu dịch của các thị trờng lớn nh Mỹ, Nhật, EU ngày càng chặt chẽ đã ảnh h-
ởng xấu đến việc tiêu thụ các sản phẩm truyền thống và hàng công nghiệp chế
biến của các nớc Asean. Trong khi đó Việt Nam cũng cần bán những sản
phẩm thuộc loại này. Mặt khác, trong quá trình chuyển đổi cơ cấu, các nớc
Asean đang tìm cách chuyển nhợng kỹ thuật, công nghệ xế chiều sang thị tr-
ờng các nớc chậm phát triển hơn.
Trong lĩnh vực quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Asean những năm gần
đây đã khởi sắc, tốc độ và khối lợng đầu t buôn bán hai bên đều tăng, song
cũng có một số vấn đề cần phải đợc tính đến. Đó là quan hệ thơng mại vẫn ở
tình trạng cơ cấu giản đơn, xuất khẩu chủ yếu vẫn là nguyên liệu và nông sản
sơ chế. Cán cân thơng mại của Việt Nam với các nớc Asean còn mất cân đối
lớn, Việt Nam vẫn là nớc nhập siêu, trao đổi mậu dịch của Việt Nam chỉ
chiếm khoảng 1% giá trị ngoại thơng của các nớc Asean. Phần lớn các dự án
đầu t của Asean vào Việt Nam tập chung vào một số lĩnh vực nh: Công nghiệp
chế biến, nông, lâm, hải sản, dịch vụ và du lịch, với số vốn đầu t nhỏ cha tơng
xứng với tiềm năng của các nớc này. Điều này phản ánh sức thu hút đầu t của
nớc ta đối với các nhà đầu t Asean cha thật hấp dẫn, cần phải nghiên cứu để
tìm ra nguyên nhân và giải pháp thiết thực để tạo điều kiện cho việc đầu t từ n-
ớc ngoài nói chung và của Asean nói riêng.
Khó khăn rõ nhất của Việt Nam khi ra nhập Asean là phải tham gia vào
AFTA, phải chấp nhận luật chơi, tuân thủ các qui định của hiệp ớc thuế quan u
đãi hiệu quả chung (CEPT). Việc tham gia AFTA, Việt Nam vừa có cơ hội vừa
có thách thức. Cơ hội vì Việt Nam nhanh chóng hoà nhập vào mạng lới mậu
Đỗ Quang Phơng - QLKT 41B 8
đề án môn học
dịch rộng lớn của Asean. Thách thức nền kinh tế sẽ bị đặt vào thế cạnh tranh
không cân sức với các đối thủ mạnh hơn và có kinh nghiệm hơn. Trong điều
kiền chênh lệch về trình độ kỹ thuật, hàng hoá Việt Nam tuy có cùng chất l-
ợng mẫu mã, kiểu dáng nhng giá thành sản phẩm của Việt Nam còn cao hơn,
do chi phí cao, điều đó không có lợi trong môi trờng cạnh tranh, ngợc lại hàng
của Asean sẽ chiếm lĩnh thị trờng của Việt Nam do giá rẻ hơn, chính sách xuất
khẩu nhạy bén hơn.
Thứ hai, khi hội nhập, Việt Nam phải tham gia góp vốn và thành lập các
tiểu ban thích ứng với các hoạt động của Asean, nh việc đóng góp vốn theo tỷ
lệ xác định để tham gia hiệp hội, góp vốn theo t cách đầy đủ của thành viên
ngân hàng phát triển Châu á (ADB), tham gia các tổ chức các sinh hoạt chính
trị, các chơng trình, hiệp định trên tất cả các ngành, lĩnh vực thuộc Asean. Nh
vậy là diện hợp tác rất rộng, đòi hỏi phải có sự tham gia của nhiều bộ, nhiều
ngành, trong khi số giỏi nghiệp vụ, thạo tiếng anh cha nhiều, việc tham gia
của Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn, hạn chế, thậm chí có thua thiệt.
Thứ ba, trong quá trình hội nhập tất sẽ có một số kẻ thù địch với Đảng và
nhân dân ta thừa gió bẻ măng thực hiện âm mu diễn biến hoà bình, tuyên
truyền những t tởng phi vô sản, truyền những nọc độc văn hoá, những yếu tố
ngợc với truyền thống dân tộc. Đây là những cản trở không nhỏ đối với việc
giữ vững sự lãnh đạo của Đảng cộng sản và định hớng xã hội chủ nghĩa, giữ
gìn bản sắc, truyền thống văn hoá dân tộc, để không bị hoà tan, đánh mất
mình. Đó cũng là một thách thức, khó khăn mà ta không thể xem nhẹ.
Hội nhập Asean, Việt Nam có cơ hội để vợt lên, nhng trong quá trình này
cũng không ít thách thức, khó khăn. Cơ hội là lớn còn phải phát huy lâu dài.
Thách thức tuy không nhỏ, song không cơ bản, nó sẽ giảm đi theo thời gian
cùng với đà phát triển kinh tế đất nớc và trình độ quản lý. Tất cả còn ở phía tr-
ớc, cho nên phải thực hiện nghiêm chỉnh quan điểm chủ trơng, chính sách của
Đảng và nhà nớc về hoạt động kinh tế đối ngoại. Mỗi cấp, mỗi ngành khi quan
hệ với các tổ chức cũng nh khi tham gia các lĩnh vực hoạt động của Asean,
phải có phơng hớng, kế hoạch, giải pháp cụ thể đối với từng chơng trình, dự
án. Đồng thời phải có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cấp, các ngành để việc
triển khai thực hiện các chơng trình, dự án với Asean có hiệu quả, tránh những
sơ hở thiếu sót xảy ra, có nh vậy, việc hội nhập Asean của Việt Nam mới
nhanh chóng, hiệu quả.
Đỗ Quang Phơng - QLKT 41B 9
đề án môn học
Chơng II
Hội nhập kinh tế Việt Nam-asean
Những kinh nghiệm chủ yếu
I. Những qui luật về sự vận dụng các nhân tố nội lực để
thúc đẩy phát triển kinh tế và thúc đẩy tiến trình
hội nhập kinh tế trên cấp khu vực và thế giới
1. Tăng cờng vai trò của nhà nớc
Vai trò kinh tế của nhà nớc trớc hết thể hiện ở chiến lợc kinh tế đúng
đắn, vì có chiến lợc đúng thì các sách lợc và công cụ trong tay nhà nớc trở nên
có hiệu quả và nội lực kinh tế đợc phát huy đầy đủ.
Về kinh tế, chiến lợc phát triển công nghiệp hớng về xuất khẩu đợc coi
là nhân tố quan trọng nhất, vì nó định hớng cho toàn bộ chính sách khác dù
những biểu hiện cụ thể của mỗi nớc khác nhau, song nhìn chung nó đợc coi là
đờng lối thống nhất của các quốc gia Asean.
Tuy thời điểm có khác nhau, song các nớc Đông Nam á đã chuyển từ
Chiến lợc phát triển công nghiệp thay thế hàng nhập khẩu (ISI) sang chiến
lợc phát triển công nghiệp hớng về xuất khẩu (EOI) bắt đầu từ cuối những
năm 1960 .
Ngoài ra, sự can thiệp của nhà nớc vào thị trờng đã khuyến khích mọi
thành phần kinh tế phát triển và thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá-
hiện đại hoá (CNH-HĐH) để nâng cao tính năng hiệu quả của nền kinh tế.
Nhà nớc luôn tìm cách phối hợp giữa khu vực kinh tế t nhân và kinh tế nhà n-
ớc, khu vực đầu t nớc ngoài để đảm bảo sự phát triển cân đối trong toàn bộ
nền kinh tế quốc dân. Thành phần kinh tế trong buổi đầu của quá trình thực
hiện chiến lợc EOI phải đảm bảo phát triển lĩnh vực ít hấp dẫn đối với kinh tế
t nhân hoặc kinh tế t nhân không đủ năng lực. Khi t sản dân tộc đã từng bớc tr-
ởng thành, có thể xây dựng đợc các xí nghiệp có sản phẩm đa dạng, phức tạp
trong các ngành mũi nhọn, thì nhà nớc từng bớc chuyển giao cho họ các
ngành đó để tập trung vào phát triển các ngành hạ tầng vật chất cho nền kinh
tế hoặc đảm nhận đi vào các ngành kinh tế mũi nhọn có trình độ kỹ thuật công
nghệ phức tạp hơn. Phơng pháp thế chân nh vậy đợc áp dụng ở hầu hết các
mối tơng quan kinh tế giữa kinh tế t nhân và kinh tế nhà nớc trong trạng thái
cạnh trạnh nhng lại không diễn ra quá trình cấm đoán và loại trừ nhau mà tạo
ra quá trình kinh tế nhà nớc dẫn dắt kinh tế t nhân đi theo qũi đạo đã vạch ra
của mình.
Hơn nữa nhà nớc can thiệp vào kinh tế để ổn định kinh tế vĩ mô là nhằm
thúc đẩy tăng trởng và hội nhập kinh tế giữa các quốc gia trong khối và toàn
bộ Asean vào nền kinh tế thế giới. Trớc khi cuộc khủng hoảng tiền tệ nổ ra
Đỗ Quang Phơng - QLKT 41B 10
đề án môn học
làm rối loạn toàn bộ cơ chế hoạt động bình thờng của nền kinh tế Asean, thì
ngời ta cho rằng, thành tựa của các nớc Asean trong quản lý kinh tế vĩ mô
nhìn chung là tốt so với các nớc đang phát triển khác. Hai biểu hiện quan
trọng nhất của việc quản lý tốt này là lạm phát thấp và môi trờng kinh tế vĩ mô
có thể dự báo đợc. Hai vấn đề này đã tạo niềm tin cho các nhà kinh tế trong
việc đầu t và lập kế hoạch tơng lai. Yếu tố quan trọng để duy trì sự ổn định
này là việc cung tài chính ở mức điều hoà đợc, nói chung là thấp và nợ nớc
ngoài không cao, trừ hai ngoại lệ cha bao giờ đe doạ làm suy giảm giá trị tín
dụng quốc tế.
2. Thông qua CNH- HĐH để đẩy nhanh quá trình hoà nhập kinh tế
Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng khơi dậy tiềm năng của
các ngành truyền thống và từng bớc phát triển các ngành công nghiệp, dịch
vụ, phục vụ cho thị trờng khu vực và thế giới.
Nền kinh tế của các quốc gia Asean vốn đều có điểm xuất phát từ nền
kinh tế nông nghiệp lạc hậu. Do đó, vấn đề hiện đại hoá sản xuất nông nghiệp
thông qua cách mạng xanh với các giống cây, con gia súc có sản lợng cao
đợc thực hiện từ những năm 60. Đây là điểm trọng yếu trong chiến dịch
chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia Asean sáng lập (Asean 5). Vì
hiện đại hoá nông nghiệp không chỉ giải quyết đợc nạn đói cho dân số đông và
mức tăng dân số cao, mà còn khai thác đợc lợi thế tuyệt đối của vùng khí hậu
và địa lý để xuất khẩu nông sản, giải quyết vấn đề lao động cho phát triển
công nghiệp. Sự thành công trong việc khơi dậy nguồn lực đất đai và lao động
đợc thực hiện ở Inđonesia, quốc gia có dân số đông nhất Asean.
Hiện đại hoá nông nghiệp không gây ra quá trình sa thải lao động và
phân phối bất bình đẳng ở nông thôn nh ngời ta dự đoán, mà trái lại nó đã tạo
ra cơ sở để mở rộng và phát triển các ngành khác. Yếu tố tích cực ở đây là các
quốc gia Asean đã tạo ra đợc ngành nông nghiệp hàng hoá phát triển hơn trớc
nhiều lần. Quá trình tích tụ đất đai diễn ra từng bớc cùng với việc tăng vụ và
sử dụng canh tác mới phù hợp với đòi hỏi của công nghệ sinh học. Nhiều đồn
điền và trang ấp ra đời để thu hút vốn đầu t nớc ngoài, đặc biệt là khu vực
trồng cây công nghiệp. Malaysia là nớc để lại kinh nghiệm quí báu trong việc
xây dựng một ngành nông nghiệp có đủ đồn điền và kinh tế hộ đạt hiệu quả
cao, còn Thailand chủ yếu dựa vào các hộ sản xuất nhỏ. Trong quá trình hiện
đại hoá nông nghiệp, tất cả các quốc gia Asean đều tạo ra đợc kết cấu hạ tầng
ở nông thôn khá bền vững và cơ bản.
Tuy nhiên trong điều kiện kinh tế thị trờng ngành sản xuất nông nghiệp
của bất cứ quốc gia Asean nào, vấn đề hiện đại hoá luôn gắn liền với khai thác
cạn kiệt năng lực của đất đai và nạn phá rừng, gây ô nhiễm nguồn nớc và
không khí Để lại những hậu quả kinh tế, xã hội to lớn. Do đó việc điều chỉnh
Đỗ Quang Phơng - QLKT 41B 11
đề án môn học
nhà nớc bằng cả các công cụ luật pháp và kinh tế đối với nông nghiệp là
không thể xem nhẹ.
Đối với công nghiệp quá trình chuyển đổi cơ cấu diễn ra theo xu hớng cơ
bản sau: Một là, chuyển mạnh sang các ngành sản xuất phục vụ xuất khẩu cần
thiết. Hai là, tập trung vào phát triển các ngành chế tạo, bao gồm cả những
ngành chế tạo máy móc thiết bị, ngành chế biến và hàng tiêu dùng dân dụng.
Ba là, chú trọng tiếp thu và chuyển giao công nghệ của nớc ngoài thông qua
con đờng thơng mại và liên kết liên doanh từ đó xuất hiện các hình thức sở
hữu hỗn hợp. Bốn là, phát triển cân đối các cơ sở sản xuất công nghiệp qui mô
lớn và u tiên khơi dậy các xí nghiệp qui mô nhỏ để thu hút các nguồn lực của
xã hội, đồng thời tạo ra tính linh hoạt trong kinh doanh của khu vực này . Thứ
năm, chú trọng đến các mô hình công nghiệp hoá tập trung từ đó hình thành
nên các khu công nghiệp và khu công nghệ gắn với nghiên cứu và đào tạo tại
chỗ.
Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khu vực dịch vụ của các
quốc gia Asean phát triển nhanh từ những năm 60 . Tốc độ tăng tỷ trọng cuả
ngành này trong GDP còn nhanh hơn cả nông nghiệp và công nghiệp, tỷ lệ tạo
việc làm và trình độ ứng dụng khoa học, công nghệ mới cũng vậy. Trong quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế , có ba ngành dịch vụ cơ bản đều đợc các
quốc gia tập trung phát triển. Đó là dịch vụ du lịch, dịch vụ tài chính, dịch vụ
giao thông vận tải.
II. Những kinh nghiệm về sử dụng các nhân tố ngoại lực
kết hợp với các nhân tố nội lực phát triển kinh tế và
thúc đẩy tiến trình hội nhập
1. Phát triển và mở rộng thơng mại là bài học quí báu để phát triển
kinh tế và hội nhập các nền kinh tế có trình độ khác nhau
Quá trình hội nhập kinh tế đợc đo bằng tốc độ hội nhập, chỉ số này bằng
mức gia tăng bình quân hàng năm của ngoại thơng trừ đi mức gia tăng bình
quân của tổng sản phẩm quốc dân.
Thành công của những chiến lợc định hớng xuất khẩu thể hiện ở sự tăng
trởng nhanh hàng xuất khẩu. Đồng thời tăng tỷ trọng hàng nhập khẩu trong
các thị trờng OECD chủ chốt và thể hiện sự đa dạng về cơ cấu hàng xuất khẩu.
Hơn 25 năm trớc đây, hàng xuất khẩu chủ lực của Thailand là gạo, của
Malaysia là cao su, thiếc và Inđonesia là cao su và dầu mỏ. Nhng đến đầu thập
kỷ 90, bức tranh này đã thay đổi. Hàng chế tạo hiện nay là hàng mục xuất
khẩu chủ yếu của tất cả các nớc và đã lên tới ít nhất 40% tổng kim gạch hàng
xuất khẩu. Nhờ thực hiện chiến lợc CNH- HĐH nhằm vào xuất khẩu cơ cấu
hàng hoá đã thay đổi theo hớng tăng nhanh những mặt hàng chứa nhiều chất
xám và giá trị gia tăng, giảm chủng loại hàng hoá sơ chế và nguyên liệu cũng
nh hàng hoá dịch vụ chứa nhiều lao động sống. Để sử dụng các nhân tố ngoại
Đỗ Quang Phơng - QLKT 41B 12
đề án môn học
lực, tăng nội lực kinh tế các quốc gia Asean thực hiện tích cực việc mở rộng
quan hệ kinh tế quốc tế và khu vực. Trong suốt thời kỳ dới ách thực dân, các
nền kinh tế Asean từng bị trói chặt vào các thế lực cờng quốc. Thay đổi chính
trong 25 năm qua là sự liên kết kinh tế mạnh mẽ hơn trong khu vực châu á-
Thái Bình Dơng rộng lớn nhờ vào bổ sung mạnh mẽ, sự gần gũi và những sáng
kiến tiểu khu vực cũng nh song phơng nên đã giảm đợc các hàng rào bảo hộ
thơng mại và đã tăng cờng sự tơng đồng về thơng mại.
Để tạo điều kiện cho nền kinh tế còn non yếu thích ứng từng bớc với điều
kiện thơng mại quốc tế, các quốc gia ngoài việc liên kết với các tập đoàn
xuyên quốc gia (TNC
s
) còn thành lập các khu chế xuất (KCX). Cả đất nớc
Singapore đợc xem nh là một KCX, ở đây không hề có hàng rào bảo hộ.
Malaysia, Thailand, Philippines đều xây dựng các KCX. Các khu này thờng
biệt lập về mặt địa lý với nội địa, miễn thuế nhập - xuất khẩu, có trật tự hành
chính đặc biệt thoát khỏi các điều chỉnh kinh tế của chính phủ. Việc xây dựng
các KCX và thơng mại tự do là một thử nghiệm, nhằm thúc đẩy thơng mại và
xác định cụ thể đầu t nhà nớc vào chúng có tạo ra một tỷ lệ lợi nhuận hợp lý
hay không mà từ đó phát triển rộng ra.
2. Tạo lập môi trờng đầu t thuận lợi để thu hút đầu t nớc ngoài là kinh
nghiệm quí báu để thúc đẩy tiến trình hội nhập kinh tế trong khối
Asean và thế giới
Chiến lợc kinh tế mở không chỉ là mở rộng thơng mại quốc tế, mà nội
dung của nó là mở cửa nền kinh tế để thu hút đầu t và chuyển giao công nghệ
từ nớc ngoài tập trung vào các ngành phục vụ cho thị trờng thế giới. Điều đó
xuất phát từ nguyên tắc sử dụng ngoại lực để tăng cờng nội lực kinh tế, chính
vì vậy mà sau thập kỷ 60, khi các chính sách hớng nội ít thành công, một số
quốc gia Asean nh Singapore, Malaysia đã bắt đầu quan tâm đến mở cửa nền
kinh tế và thu hút đầu t nớc ngoài.
Trớc thập kỷ 60, đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI) hầu nh chỉ bắt nguồn từ
Tây Âu và Mỹ, cho mãi cuối thập kỷ 60 dòng FDI từ Nhật Bản mới chảy vào
Đông Nam á , vì nớc này mất dần lợi thế trong các ngành sử dụng lao động và
đáp ứng các điều kiện đầu t to lớn hơn. Hơn nữa, Nhật Bản là quốc gia Châu á,
phong cách và phơng thức gần gũi với các quốc gia Châu á hơn, ngoài ra đầu
t của họ còn kiến tạo thơng mại và các công ty của Nhật Bản trong thập kỷ
70 rất phù hợp với các nớc Đông Nam á, đó là mô hình nhà máy nhỏ, sử dụng
nhiều lao động, sẵn sàng tham gia liên doanh Chính vì vậy, Nhật Bản và các
quốc gia Asean gặp gỡ nhau trong hợp tác đầu t và đôi bên cùng có lợi.
Vai trò Nhật Bản đối với các quốc gia Asean là to lớn. Chính vì vậy các
nớc Asean đã cải thiện điều kiện đầu t và quan hệ kinh tế đối ngoại để hấp dẫn
đối tác của quốc gia này. Các luồn đầu t chuyển giao công nghệ chủ yếu là từ
Nhật Bản. ODA song phơng của Nhật Bản chảy vào Asean 5 và Việt Nam
Đỗ Quang Phơng - QLKT 41B 13
đề án môn học
lên đến 29 tỷ USD ( giai đoạn 1951-1995) và FDI là 50,7 tỷ USD giai đoạn
từ năm 1951 đến tháng 9/1996.
ở cuối giai đoạn hai và giai đoạn ba, chính phủ các nớc Asean đã thu hút
đầu t từ nớc ngoài trực tiếp hớng vào xuất khẩu và chính nguồn đầu t này đã
góp phần mở rộng xuất khẩu các hàng hoá chế tạo sản xuất ở nội địa làm cho
cơ cấu hàng xuất khẩu thay đổi mạnh.
Vấn đề chuyển giao công nghệ và phát triển nguồn nhân lực các công ty
chi nhánh nớc ngoài xúc tiến hết sức tích cực đặc biệt là trong lĩnh vực công
nghệ và chế tạo và quản lý.
III. Cuộc khủng hoảng tiền tệ cuối thập kỷ 90 đã thể hiện
những thất bại trong việc sử dụng ngoại lực kết hợp
với nội lực của tiến trình hội nhập kinh tế Asean
1. Diễn biến tình hình
Khủng hoảng nổ ra đầu tiên ở Thailand. Ngân hàng trung ơng Thailand
tuyên bố thả nồi đồng bath, sau đó lan sang Philippine, Malaysia, Inđonesia
ở các mức độ nhẹ hơn, cuộc khủng hoảng đã tác động đến kinh tế Singapore,
Hồng Kông, Đài loan. Tới tháng 11/1997 khủng hoảng lan tới Hàn Quốc, và
ảnh hởng tới nền kinh tế Nhật Bản, Mỹ, Tây Âu rồi toàn cầu. Nh vậy, sự tác
động của nó có tính dây truyền biểu hiện mối liên kết kinh tế ở Asean và thế
giới đã lệ thuộc chặt chẽ vào nhau.
Những dấu hiệu khủng hoảng xuất hiện ở Thailand từ cuối năm 1995, sau
nhiều năm kinh tế phát triển nhanh, lạm phát tăng, cán cân thanh toán thâm
hụt, chỉ giá cổ phiếu trên thị trờng chứng khoán giảm nhanh Năm 1996, tốc
độ tăng trởng của Thailand chỉ đạt 6,7% (so với 8,7% năm 1995), lạm phát
7% (so với 4,5% năm 1995), xuất khẩu chỉ tăng 7% (1995: 28%), ngân sách
thâm hụt trên 7% GDP, cán cân vãng lai thâm hụt 8,2% GDP, nợ nớc ngoài lên
đến gần 100 tỷ USD, trong đó 40% là nợ ngắn hạn. Dự trữ ngoại tệ của đất n-
ớc giảm còn 26,6% GDP
Tình hình kinh tế 1997 tiếp tục xấu đi. Tới tháng 6/1997 ,40 công ty tài
chính Thailand phải đóng cửa. Đồng Bath chao đảo. Để bảo vệ đồng Bath,
ngân hàng trung ơng Thailand đã phải bán USD ra để bình ổn thị trờng. Dự trữ
ngoại tệ của Thailand giảm sút mạnh , từ hơn 33 tỷ USD tháng 5/1997. Tới khi
không còn khả năng can thiệp thị trờng, Ngân hàng trung ơng Thailand tuyên
bố thả nổi đồng Bath, khủng hoảng bùng nổ. Ngay lập tức đồng Bath mất giá
20-30%, cho tới thời điểm cao nhất đồng Bath mất giá 108%, từ 25
bath/1USD giảm xuống tới 54-55 Bath/1USD.
Khủng hoảng lan sang các nớc Đông Nam á khác, mặc dù chính phủ các
nớc này tìm mọi cách chống đỡ ( Ngân hàng trung ơng các nớc đều phải bỏ ra
nhiều tỷ USD để bảo vệ đồng tiền của mình). Đồng Peso của Philippines giảm
Đỗ Quang Phơng - QLKT 41B 14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét