A- Phần mở đầu.
1-Cơ sở lí luận:
Bác Hồ đã dậy: "Non sông Việt nam có đợc vẻ vang hay không, dân tộc Việt
Nam có đợc sánh vai với các cờng quốc năm châu hay không là nhờ một phần lớn ở
công học tập của các cháu." Thật vậy: Đất nớc Việt nam có trở nên giàu đẹp, văn
minh, hùng mạnh hay không là trông chờ vào các thế hệ trẻ trong tơng lai. Chính vì
vậy mà mục tiêu giáo dục đề ra là đào tạo học sinh thành những con ngời có phẩm
chất đạo đức tốt, có kiến thức khoa học, có sức khoẻ, sáng tạo trong lao động, hăng
say trong mọi lĩnh vực công tác, có lối sống lành mạnh, đúng đắn vì mọi ngời. Cho
nên trong nhà trờng ngoài việc cung cấp cho các em kiến thức khoa học, kỹ năng
thực hành, thì còn phải rèn luyện, giáo dục các em có sức khoẻ tốt, có phẩm chất
đạo đức, có lối sống và nhân cách của ngời lao động mới.
2- Cơ sở thực tiễn:
Nhng trong thực tế, một số thanh, thiếu niên trong thế hệ trẻ cha coi trọng việc
tu dỡng rèn luyện bản thân để trở thành những ngời tốt có ích cho xã hội, mà còn
ham chơi, đua đòi, có lối sống xa đoạ, bị lôi cuốn vào những tệ nạn xã hội, thậm
chí còn trở thành tội phạm. Nguy cơ của việc nghiện hút ma tuý, của nạn dịch
HIV/AIDS đang đe doạ toàn xã hội, đặc biệt là tuổi vị thành niên.
Vì thế, hiện nay việc rèn luyện sức khoẻ, giáo dục đạo đức, nhân cách, lối
sống cho thế hệ trẻ, đặc biệt là tuổi vị thành niên đang đợc nhiều ngời, nhiều tổ chức
quan tâm.
Trong nhà trờng, việc rèn luyện sức khoẻ, giáo dục đạo đức, nhân cách, lối,
sống cho học sinh lại là một vấn đề hết sức quan trọng, nó hình thành nên khuôn
mẫu con ngời, là một trong những yếu tố quyết định tới chất lợng dân số và nguồn
nhân lực của quốc gia trong tơng lai.
Là một giáo viên dạy bộ môn sinh học lớp 9- THCS, tôi tự nhận thấy: chơng
trình sinh học lớp 9 cung cấp cho học sinh những kiến thức về giải phẫu sinh lý và vệ
sinh ngời, có liên quan nhiều đến việc giáo dục giới tính và giáo dục sức khoẻ sinh
sản cho tuổi vị thành niên, cho nên trách nhiệm của bản thân phải nghiên cứu và trú
trọng hơn nữa việc rèn luyện sức khoẻ và giáo dục đạo đức, nhân cách cho học sinh
trong quá trình giảng dạy. Đặc biệt là ở lứa tuổi dậy thì có sự thay đổi nhiều về sinh
lý, tâm lý thì việc giáo dục giới tính và giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên là
một vấn đề hết sức quan trọng. Chính vì vậy tôi đã mạnh dạn tiến hành nghiên cứu về
vấn đề trên và áp dụng thử nghiệm trong việc giáo dục giới tính và giáo dục sức khoẻ
sinh sản vị thành niên cho học sinh lớp 9-THCS năm học 2003-2004 và thấy có
những kết quả bất ngờ, tốt đẹp.
Tôi xin đợc trình bầy quá trình thực nghiệm của tôi nh sau:
B- Nội dung .
- -
4
I-Tình trạng nhận thức và hành vi của tuổi vị thành niên
trong đời sống xã hội:
1- Tình trạng nhận thức chung của vị thành niên ở Việt Nam.
Trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng trong những năm gần đây, sức
khoẻ vị thành niên đơng là vấn đề hết sức lo ngại, không chỉ báo động với vị thành
niên mà còn đối với toàn xã hội.
Theo số liệu thống kê nạn tảo hôn ở tuổi vị thành niên của vùng nông thôn,
miền núi, dân tộc thiểu số vẫn phổ biến.
Ví dụ: ở An giang có năm trong 100 đám cới thì có tới 23 đám cới cả cô dâu và
chú rể đều cha đến tuổi kết hôn.
ở Phú yên có tới 182 đám cới/ một năm cô dâu mới có 13-14 tuổi. Tỷ lệ nạo phá
thai trong những năm gần đây liên tiếp gia tăng, theo ớc tính 30% tổng số các ca nạo
phá thai hàng năm đều là ở độ tuổi vị thành niên.
Những cảnh báo của cục phòng chống tệ nạn xã hội thấy rằng: Mại dâm ở độ
tuổi vị thành niên có xu hớng trẻ hoá và gia tăng từ 2,5 % (năm 1989) lên tới 12%
(năm 1996). Riêng nửa đầu năm 1999, trong 774 vụ liên quan đến mại dâm thì có
đến trên 50% số vụ nạn nhân trực tiếp là trẻ em và tuổi vị thành niên
Theo báo cáo của UB phòng chống HIV/AIDS tỷ lệ trẻ em nhiễm HIV/AIDS dới
19 tuổi từ 5, 5%(năm 1997) lên tới 12%(năm 1998). (T liệu lấy từ tài liệu: "Vị thành
niên và chính sách đối với vị thành niên ", của nhà xuất bản lao động -xã hội.)
2-Tình trạng thực tế của tuổi vị thành niên ở tr ờng THCS .
Thực tế trong nhà trờng THCS, nhận thức của học sinh về các vấn đề trên là
cha đầy đủ, nhiều em ở độ tuổi vị thành niên hoàn toàn cha biết gì kiến thức cơ bản
về sức khoẻ sinh sản vị thành niên, cũng nh những biến đổi của cơ thể ở tuổi dậy thì,
những quan hệ tình bạn, tình yêu, cha biết gì về các biện pháp tránh thai, phòng
tránh các bệnh lây lan qua đờng tình dục, hay sự nguy hiểm của nạn dịch
HIV/AIDS. Cho nên ở một số em đã có những hành vi không lành mạnh nh rợu chè,
cờ bạc, thậm chí còn nghiện hút, hoặc quan hệ bè bạn không đúng mực, yêu đơng
bừa bãi, hoặc nạo phá thai ở tuổi vị thành niên.
* Nguyên nhân:
-Trẻ em hiện nay tuổi dậy thì sớm hơn so với trớc đây, có những em nữ tuổi dậy
thì ở 8đến 9 tuổi.
-Thiếu sự quan tâm của các bậc phụ huynh tới con em mình, hoặc thiếu biện
pháp đúng đắn để giáo dục con em mình.
-Nhiều gia đình phải nói là"thiếu tình " mà "thừa tiền ", đó là thiếu sự vuốt ve và
chăm sóc, uốn uắn hàng ngày mà chỉ bận rộn kiếm tiền, dẫn đến con cái h hỏng
trong sự giàu sang.
- Ngoài ra sự di c của dòng ngời một cách tự phát, đã đa một loạt các em gái từ
nông thôn lên thành phố trong đó không ít em gái bị lạm dụng tình dục và trở thành
gái mại dâm ở tuổi vị thành niên.
- -
5
- Đổi mới, mở của kéo theo những ảnh hởng của lối sống phim ảnh, sách báo,
đặc biệt là phim ảnh, sách báo đồi truỵ đã tác động không nhỏ đến tuổi vị thành
niên, chuẩn mực đạo đức bị nới lỏng cả trong quan niệm cũng nh trong đời sống
hàng ngày.Quan hệ tình dục trớc hôn nhân hiện nay không còn bị nên án nh xa nữa.
- Thủ tục nạo phá thai rất đơn giản với mọi đối tợng và còn quan niệm rằng
đây là một trong những biện pháp sinh đẻ có kế hoạch, làm giảm tỷ lệ tăng dân số.
- Ngoài ra tuổi vị thành niên đang học THCS là tuổi rất hiếu kỳ, thích tìm tòi,
bắt chớc, cha hiểu biết gì về tuổi vị thành niên về sự thay đổi sinh lý, tâm lý của
bản thân cũng nh bạn bè.
- Hơn nữa hầu hết ở tuổi vị thành niên đều thiếu hiểu biết các thông tin về giới
tính và sức khoẻ sinh sản vị thành niên. Nhiều gia đình cho rằng đó là chuyện của
ngời lớn, để trẻ em biết sẽ không hay, lớn lên tự khắc sẽ biết và hy vọng nhà trờng
sẽ có những biện pháp giáo dục thích hợp. Xong bên cạnh những khó khăn đó,
chúng ta cũng phải khảng định rằng: kiến thức về giải phẫu sinh lý và vệ sinh ngời
là rất gần gũi với các em, những kiến thức đó có thể liên hệ thực hành ngay trên bản
thân mình để rút ra kết luận. Mỗi con ngời ai cũng muốn cho mình có một sức khoẻ
tốt, một cơ thể cờng tráng, một trí thông minh, một óc sáng tạo .Cho nên việc
gắn giáo dục giới tính và giáo dục sức khoẻ vị thành niên trong chơng trình giảng
dạy phần giải phẫu sinh lý và vệ sinh ngời mà đặc biệt là chơng sự sinh sản và phát
triển của cơ thể là một việc hết sức quan trọng.
II-Biện pháp thực hiện
1- Giáo dục thông qua tiết học chính khoá trong toàn bộ chơng trình sinh học
lớp 9 nhằm làm cho các em thấy đợc vị trí, hình dạng, cấu tạo và chức năng của
từng cơ quan trong cơ thể, đồng thời thấy đợc tầm quan trọng của từng cơ quan
trong cơ thể đối với đời sống con ngời.Từ đó các em có ý thức giữ gìn vệ sinh để bảo
vệ các cơ quan trong cơ thể, giữ gìn sức khoẻ cho bản thân.
2- Giáo dục thông qua các hoạt động sinh hoạt lớp, sinh hoạt đội, tạo ra
những sân chơi bổ ích, cuốn hút các em vào các hoạt động lành mạnh, sôi nổi, quên
đi những thói h, tật xấu đang lôi kéo ngoài xã hội.
3- Giáo dục qua hoạt động ngoại khoá.Thông qua các buổi ngoại khoá về
nhiều chủ đề khác nhau mà học sinh nhận thức đợc các vấn đề về giới tính và sức
khoẻ sinh sản vị thành niên.Từ đó có ý thức rèn luyện sức khoẻ và tu dỡng đạo đức,
lối sống của mình.
III-Chuẩn bị ph ơng tiện nghiên cứu.
1-Tìm tòi nghiên cứu các tài liệu có liên quan tới kiến thức về giáo dục giới
tính và giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên.
2- Tìm tòi tranh ảnh, mô hình, băng, đĩa, tờ rơi tuyên truyền về các vấn đề
trên (Nếu có )
- -
6
3- Điều tra nhận thức của học sinh khối lớp 9 về các vấn đề trên bằng phiếu
học tập, phiếu điều tra.
4- Soạn bài, chuẩn bị nội dung ngoại khoá chu đáo để giáo dục giới tính và
giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên.
5 - Khảo sát kết quả nhận thức của học sinh.
IV- Nội dung tiến hành.
1- Khảo sát tình trạng nhận thực của học sinh nữ khối lớp 9- tr ờng
THCS Thị trấn.
Tôi đã đa ra một số câu hỏi để kiểm tra sự nhận thức của học sinh
* Em có hiểu biết gì về tuổi vị thành niên và tuổi dậy thì ?
Hầu hết các em đều trả lời là không hiểu
* Em hiểu gì về những biến đổi của tuổi dậy thì ?
Đa số các em đều trả lời chung chung, do có thể vì xấu hổ không muốn nói ra
những thay đổi của bản thân mình.
* Em có thái độ nh thế nào khi có lần kinh nguyệt đầu tiên:
- Sợ hãi;
- Lo lắng;
- Hoang mang.
- Vui mừng.
Đa số các em đều trả lời là: " sợ hãi ".
* Các em có hiểu biết gì về các biện pháp tránh thai? Thì 100% các em đều
trả lời rằng: các em không hiểu biết gì về những điều đó.
* Nạo phá thai, đặc biệt ở tuổi dới 20 thì có hại gì ?
Các em chỉ trả lời chung chung là nguy hiểm, còn nguy hiểm nh thế nào thì
các em không hề biết.
* Các em hiểu nh thế nào về bệnh HIV/AIDS ?
Trả lời: là bệnh "ết"không có khả năng cứu chữa, và nó có thể lây truyền qua
con đờng tình dục, qua con đờng truyền máu.
Nhìn chung sự nhận thức của các em mới chỉ là chung chung, sơ sài chứ cha
hiểu bản chất cụ thể.
2- Giáo dục giới tính và sức khoẻ sinh sản vị thành niên thông qua quá
trình giảng dạy ch ơng XXI và ch ơng XXII trong sinh học lớp 9 -THCS .
* Chơng XXI: Sự sinh sản và phát triển của cơ thể.
Thông qua các tiết dạy chính khoá mà giáo viên giáo dục học sinh nâng cao
nhận thức về các vấn đề giới tính và sức khoẻ sinh sản vị thành niên.
Tiết 64: Cấu tạo và chức năng của cơ quan sinh dục.
Qua bài các em hiểu rõ cấu tạo, chức năng của cơ quan sinh dục, qua đó các em có
ý thức giữ gìn vệ sinh, tạo điều kiện tốt cho tơng lai sau này.
Tiết 65: Qua bài: "Những biến đổi của cơ thể ở tuổi dậy thì ." Học sinh hiểu
rõ khái niệm về tuổi dậy thì, những biến đổi của cơ thể nam, nữ ở tuổi dậy thì và ý
- -
7
nghĩa của nó trong việc sinh đẻ sau này, liên quan đến việc giữ gìn vệ sinh em gái và
việc giữ gìn sự trong trắng, trinh tiết của ngời con gái.
Tiết 68: Qua bài: "Hiện tợng kinh nguyệt - Sự thụ tinh -Sự phát triển của bào
thai" học sinh hiểu đợc hiện tợng kinh nguyệt là một hiện tợng sinh lý bình thờng
của ngời con gái, diễn ra theo chu kỳ hàng tháng, vì vậy phải kết hợp chế độ làm
việc và nghỉ ngơi hợp lý, giữ gìn sức khoẻ của các em.Đồng thời qua việc hiểu biết
về sự thụ tinh và sự phát triển của bào thai, các em hiểu đợc cơ sở khoa học của các
biện pháp tránh thai sau này và cơ sở của việc bảo vệ bà mẹ, trẻ em.
Tiết 69: Qua bài: " Sự phát triển của cơ thể -Vệ sinh ở học sinh nam và nữ "
Học sinh hiểu đợc đặc điểm sinh lý, tâm lý của từng thời kỳ, đặc biệt là đặc điểm
phát triển sinh - tâm lý ở lứa tuổi dậy thì, từ đó có thể tự rèn luyện bản thân.
Tiết 70: Qua bài: " Cơ sở khoa học của sinh đẻ có kế hoạch trong kế hoạch
hoá gia đình ".Học sinh hiểu đợc tại sao phải sinh đẻ có kế hoạch, thấy đợc tiêu
chuẩn gia đình hiện nay cần phải phấn đấu là những gia đình có đầy đủ điều kiện
kinh tế, có ít con, hạnh phúc, có sức khoẻ tốt, có thể đảm bảo các điều kiện sinh hoạt
khác nh đi du lịch, vui chơi, giải trí, luyện tập TDTT Hiểu đợc các biện pháp
tránh thai, từ đó tuyên truyền, vận động mọi ngời cùng thực hiện.
* Chơng XXII: Sự đấu tranh phòng chống bệnh tật.
Tiết 71: Qua bài: " Cơ thể ngời và các bệnh truyền nhiễm ".Học sinh hiểu rõ
khái niệm bệnh truyền nhiễm và cơ thể là môi trờng thích hợp cho các vi khuẩn xâm
nhập, nhất là những ngời không có ý thức giữ gìn vệ sinh sạch sẽ. Qua đó tuyên
truyền nguyên nhân, triệu chứng, tác hại và cách phòng, tránh và chống bệnh truyền
nhiễm, nh bệnh lao, bệnh tả
Tiết 72: Qua bài: " Sự đấu tranh phòng chống bệnh tật ".Học sinh hiểu đợc dù
bệnh tật có nguy hiểm đến đâu thì con ngời chúng ta vẫn tìm ra những biện pháp
phòng chống hữu hiệu. Từ đó học sinh nhận thức rõ về sự miễn dịch nhân tạo và tác
dụng của nó trong công tác phòng bệnh. Ngoài ra, giáo dục cho học sinh tích cực vệ
sinh phòng bệnh và tích cực tiêu diệt các động vật trung gian truyền bệnh.
Tiết 73: Qua bài: "AIDS và cách phòng tránh " Nâng cao đợc nhận thức của
học sinh về HIV/AIDS, các con đờng lây truyền, từ đó có biện pháp phòng tránh và
tuyên truyền, vận động mọi ngời cùng thực hiện.
Tiết 74: Qua bài: "Các bệnh lây lan theo đờng sinh dục ".Học sinh hiểu thế
nào là "bệnh tình dục", học sinh thấy rõ tác hại của bệnh tình dục nh: Lậu, giang
mai, viêm gan B, nấm, HIV/AIDS Qua đó các em có cách sống lành mạnh, đúng
đắn, góp phần làm trong sáng xã hội.
Qua các tiết học ở hai chơng XXI và XXII, kết hợp với sự quan sát tranh vẽ và
đồ dùng trực quan, học sinh hứng thú học tập, nâng cao rõ rệt nhận thức của mình về
vệ sinh cơ thể và giữ gìn sức khoẻ của bản thân, từ đó xác định đợc thái độ tu dỡng
và học tập, động cơ và mục đích phấn đấu.
- -
8
3- Giáo dục giới tính và giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên thông
qua buổi ngoại khoá nhân dịp kỷ niệm ngày 8/3/2004 cho học sinh nữ khối lớp 9
-THCS.
3-1 Những vấn đề chung của tuổi vị thành niên.
* Khái niệm về tuổi vị thành niên.
Vị thành niên là giai đoạn ngắn, nhng hết sức quan trọng của cuộc đời mỗi
con ngời. Đó là giai đoạn chuyển tiếp giữa con ngời với t cách là trẻ thơ cần đợc bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục sang con ngời với t cách là những công dân trởng thành có
thể chịu trách nhiệm trớc xã hội và pháp luật về mọi hành vi của mình. Giai đoạn
chuyển tiếp tởng chừng là đơn giản và ngắn ngủi này bao giờ cũng để lại những dấu
ấn mạnh mẽ không thể phai mờ của cuộc đời mỗi con ngời.
Nh vậy khái niệm tuổi vị thành niên hay tuổi cha trởng thành là tơng tự nhau.
Điều 20 của Bộ luật dân sự Nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đợc Quốc hội
thông qua ngày 28/10/1995 quy định rằng Ngời cha đủ 18 tuổi là cha thành niên,
hay là tuổi vị thành niên.
Trong tuổi vị thành niên, tuổi dậy thì là tuổi rất quan trọng.
Với nữ: Tuổi dậy thì từ 11-15 tuổi.
Với nam: Tuổi dậy thì từ 13-17 tuổi.
3-2 Những đặc tr ng cơ bản của tuổi vị thành niên .
Thực tế cho thấy trí tuệ thông minh, óc sáng tạo của mỗi con ngời chỉ có đợc
ở những con ngời khoẻ mạnh, cờng tráng ; Lối sống, đạo đức và nhân cách của mỗi
con ngời đợc hình thành từ tuổi ấu thơ và định hình rõ nét từ tuôỉ vị thành niên, ở tuổi
này hàm chứa trong đó rất nhiều những yếu tố vừa ghi nhận, vừa loại bỏ, vừa định
dạng, vừa biến động trong nhận thức, tâm lý, tình cảm, suy nghĩ của con ngời, sau
đó trở thành khuôn mẫu nhân cách của chính con ngời đó trong suốt cuộc đời sau
này.Vì vậy việc rèn luyện sức khoẻ và tu dỡng đạo đức, lối sống và nhân cách của
con ngời là vấn đề quan trọng. Phải nắm bắt đợc những đặc trng cơ bản của tuổi vị
thành niên thì mới có các biện pháp giáo dục thích hợp.
Đặc tr ng thứ nhất : Tuổi vị thành niên có sự thay đổi mạnh mẽ về thể chất,
đặc biệt là tuổi dậy thì. Sự thay đổi về chiều cao và trọng lợng cơ thể. Qua thực tế
cho thấy từ 15-17 tuổi thì trung bình tăng từ 5-6 cm/1 năm. Chiều cao trung bình
hiện nay từ 13-18 tuổi là 161cm/nam, 154cm /nữ. Cân nặng trung bình là 45, 8kg,
trong đó nam là 48, 5kg, nữ là 43, 6kg. (Tài liệu "Vị thành niên và chính sách đối
với vị thành niên")
Bộ phận sinh dục phát triển mạnh. Các đặc tính sinh dục phụ xuất hiện, xuất
hiện hiện tợng kinh nguyệt đầu tiên ở nữ và hiện tợng mộng tinh đầu tiên ở nam.
Cơ thể chuyển biến từ một đứa trẻ non nớt thành một ngời lớn mạnh mẽ, vạm
vỡ nh câu ca của các cụ: Tuổi 17 bẻ gãy sừng trâu.
Đặc tr ng thứ hai : Tuổi vị thành niên là giai đoạn thay đổi nhanh chóng về
tâm lí, tình cảm, nhận thức mà trong nhiều trờng hợp, chính sự thay đổi đó có thể
- -
9
gây:sốccho bản thân lứa tuổi này,ở lứa tuổi này tâm lý, tình cảm rất đa dạng và
phức tạp, có những em gái thì trầm t, u uất, khép mình vào thế giới nội tâm, nhng có
những em thì ngang ngạnh, bớng bỉnh, thậm trí còn phá phách muốn khảng định
mình trớc các bạn. Do vậy, có thể nói rằng tuổi vị thành niên là giai đoạn biến động
nhẩt trong sự hình thành các giá trị đạo đức, lối sống và nhân cách của mỗi ngời,
nếu trong giai đoạn này con ngời đợc định hớng đúng đắn thì sẽ có ích cho xã hội
sau này.
Đặc tr ng thứ ba : Tuổi vị thành niên là tuổi còn có những biến đổi mạnh mẽ
trong hành vi của mình.
ở lứa tuổi này có rất nhiều những hành vi khó hiểu, thờng hay có những hành
động bột phát, thiếu cân nhắc, không tính toán . Rất dễ có những hành vi tốt nh
giúp đỡ những ngời gặp nạn hoặc những bạn gặp khó khăn, xong cũng dễ dàng bị lôi
kéo vào những hành vi xấu nh nghiện hút, cờ bạc, rợu chè, trộm cắp, quan hệ không
đúng đắn
Vì vậy việc giáo dục giới tính và giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên là
rất quan trọng trong lứa tuổi này.
Trong thực tế, sự nhận biết một cách đúng đắn và khoa học về những đặc trng
cơ bản của tuổi vi thành niên là hết sức quan trọng đối với việc quan tâm, chăm sóc,
giáo dục lứa tuổi này.Vì vậy, chỉ có thông qua những kết quả nghiên cứu điều tra để
nhận biết một cách đúng đắn hơn về những đặc trng cơ bản của nhóm tuổi vị thành
niên chúng ta mới có thể đề xuất những kiến nghị và giải pháp để công tác chăm
sóc, giáo dục, quản lý các đối tợng vị thành niên ngày càng tốt hơn, sát thực và hợp
lý hơn, tạo điều kiện để các em trởng thành phát huy đợc những tiềm năng sẵn có
góp phần tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá trong thế kỷ XXI.
3-3 Vấn đề vệ sinh em gái và sự trinh tiết của ng ời con gái .
Trong đời ngời con gái, có nhiều sự biến đổi đặc biệt là tuổi dậy thì, nhng
trong đó sự xuất hiện hiện tợng kinh nguyệt đầu tiên là bớc ngoặt đánh dấu ngời con
gái bắt đầu có thể sinh con. Nhng đây cũng là hiện tợng sinh lý bình thờng, diễn ra
theo chu kỳ hàng tháng, mỗi tháng ngời con gái có kinh nguyệt từ 3-5 ngày, có ngời
nhiều hơn hoặc có ngời ít hơn, xong hiện tợng này nó cũng gây cho con ngời khó
chịu, mệt mỏi, ảnh hởng tới công việc hàng ngày, và nếu các em thiếu hiểu biết,
không vệ sinh thì có thể gây ra một số bệnh nguy hiểm về đờng sinh dục nh viêm
nhiễm, ngứa ngáy, khó chịu Hoặc các em có những hoạt động quá sức gây mệt tai
nạn, giảm thể lực ảnh hởng tới cơ quan sinh dục hay có thể gây thủng màng trinh.
Màng trinh của ngời con gái chỉ là một màng mỏng, bên trong âm đạo. Một số
ngời cho rằng màng trinh là bằng chứng duy nhất của sự trinh tiết của ngời con gái.
Nhng thực ra không phải nh vậy vì một ngời con gái trinh tiết là ngời cha từng giao
hợp bao giờ, cho nên mất màng trinh cha hẳn là đã không còn trinh tiết, vì màng
trinh rất mỏng nên có thể bị rách bởi nhiều nguyên nhân nh tai nạn,
- -
10
ở một số địa phơng, khi cới con dâu về, bố mẹ chồng trao cho ngời con trai
một tấm vải trắng để kiểm tra sự trinh tiết của ngời con dâu, việc làm đợc coi là đúng
đắn này đôi khi lại làm tan vỡ hạnh phúc của ngời khác mà lẽ ra không đáng có.
Chính vì thế, chúng ta phải hiểu biết và tuyên truyền cho mọi ngời cùng hiểu.Tuy
nhiên, trong thực tế có nhiều trờng hợp đã quan hệ tình dục trớc hôn nhân một cách
bừa bãi nên khi kết hôn thì không còn sự trinh tiết nữa, không những thế có thể nó
còn để lại những hậu quả không lờng đợc nh có thai ở độ tuổi vị thành niên cha đợc
pháp luật cho phép kết hôn, vì vậy cũng sẽ dẫn đến không biết bao nhiêu trờng hợp
nạo phá thai ở tuổi vị thành niên.
Chính vì vậy, giữ gìn trinh tiết tức là giữ sự trong trắng của ngời con gái cũng
là việc hết sức quan trọng. Các cụ có câu: " Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng " để
nói nên giá trị danh tiết của ngời con gái, phải khó khăn mới giữ gìn đợc, nhng trong
một giây phút nhẹ dạ là đã bán đi danh tiết của mình một cách rẻ mạt. Cho nên học
sinh chúng ta các em phải tự tu dỡng rèn luyện bản thân theo câu châm ngôn: "
Công, dung, ngôn, hạnh".
3-4 Tác hại của một số bệnh truyền nhiễm và một số bệnh lây lan qua đ -
ờng sinh dục.
* Tác hại của việc nạo phá thai:
- Cơ thể suy giảm vì bị mất máu.
- Bộ phận sinh dục cha hoàn thiện, nay lại bị tổn thơng, ảnh hởng tới sinh đẻ
sau này, nếu nặng sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng.
- Có thể gây vô sinh.
- Gây thủng dạ con.
- Gây viêm loét thành tử cung.
- Gây các bệnh về đờng sinh dục.
- Có thể gây ung th tử cung.
- Ngoài ra còn ảnh hởng đến phẩm chất đạo đức, nhân cách của con ngời.
Chính vì lẽ đó mà mỗi chúng ta phải cảnh giác với vấn đề thai nghén, đừng để
"Khôn ba năm dại một giờ " và là nguyên nhân của biết bao nhiêu chuyện rắc rối.
* Một số bệnh tình dục thờng mắc:
+ Bệnh viêm do ký sinh trùng roi.
+ Bệnh viêm do nấm.
+ Bệnh viêm do Ca- Na- Mi-Đia.
+ Bệnh tiểu khung (chỉ gặp ở nữ )
+ Bệnh mụn cóc, unhú, ugai.
+ Bệnh viêm gan B.
+ Bệnh Héc- pét.
+ Bệnh Lậu.
+ Bệnh giang mai.
+ Bệnh HIV/AIDS.
- -
11
Khi nêu những bệnh này, giáo viên kết hợp thuyết trình với tranh vẽ và phát tờ
rơi cho học sinh (160 tờ ).Riêng bệnh viêm gan B và bệnh HIV/AIDS đều có các tờ
rơi riêng để tuyên truyền cho học sinh và tất cả mọi ngời .
3-5 Một số bệnh truyền nhiễm:
- Bệnh lao
- Kết hợp phát tờ rơi cho học sinh nghiên cứu và tuyên truyền (160 tờ)
3-6 Các biện pháp tránh thai:
Kết hợp thuyết trình và quan sát tranh vẽ với nghiên cứu các tờ rơi tuyên
truyền với xem băng đĩa về kế hoạch hoá gia đình.
Qua đó học sinh nâng cao hiểu biết về:
- Mẫu gia đình hiện nay là đẻ ít con, 2 con cách nhau 5 tuổi, có đủ điều kiện
kinh tế nh nhà lầu, xe hơi, ti vi, tủ lạnh có thể đảm bảo cả đời sống vật chất lẫn đời
sống tinh thần nh vui chơi, du lịch,TDTT, ca nhạc
- Cơ sở khoa học của các biện pháp tránh thai, đặc biệt là biện pháp tự tính
chu kỳ kinh nguyệt.
- ý nghĩa của các biện pháp tránh thai.
- -
12
* Nhiệm vụ của học sinh phải làm gì để nâng cao nhận thức và gìn giữ vệ sinh,
bảo vệ sức khoẻ sinh sản vị thành niên:
- Hiểu rõ đợc cấu tạo và chức năng của các cơ quan trong cơ thể.
- Hiểu rõ đợc những biến đổi cơ bản về tâm sinh lí của tuổi dậy thì.
-Hiểu rõ các biện pháp giữ gìn vệ sinh cơ thể.
-Biết cách ăn uống, sinh hoạt ,lao động và học tập hợp lý để giữ gìn sức khoẻ.
- Biết phối hợp các biện pháp để đấu tranh chống bệnh tật.
- Có tác phong lối sống lành mạnh để phòng tránh bệnh truyền nhiễm.
- Tích cực tu dỡng đạo đức nhân cách, rèn luyện sức khoẻ và học tập tốt để trở
thành con ngời toàn diện.
V- Kết quả
Qua quá trình giảng dạy chơng trình sinh học lớp 9 - THCS và tiến hành buổi
ngoại khoá về giáo dục giới tính và giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học
sinh nữ khối lớp 9. Tôi đã tiến hành khảo sát bằng nhiều câu hỏi và tìm hiểu thực tế
về hành vi sinh hoạt của học sinh.
* Câu hỏi:
1- Tuổi dậy thì đợc đánh dấu bằng dấu hiệu đặc trng nào? Em phải làm gì để
giữ gìn sự trong trắng, trinh tiết của tuổi vị thành niên?
2- Thế nào là hiện tợng kinh nguyệt? Muốn tránh thai thì ngời ta áp dụng
những biện pháp nào? ở tuổi vị thành niên em phải làm gì góp phần vào việc làm
giảm tỷ lệ dân số?
3 - Quan hệ tình dục bừa bãi và mắc những tệ nạn xã hội sẽ là nguyên nhân để
con ngời có nguy cơ lây nhiễm những bệnh nào? Theo em, phải làm gì để phòng
tránh những bệnh truyền nhiễm đó?
Qua khảo sát kết quả tôi thấy rằng việc nhận thức của học sinh về các vấn đề
trên đợc nâng lên rõ rệt, đặc biệt là học sinh nữ.
- -
13
Bảng thống kê kết quả nhận thức của học sinh sau khi đợc học tập
và nghe ngoại khoá.
Nội dung nghiên cứu Tỉ lệ nhận thức trớc khi
học tập .
Tỉ lệ nhận thức sau khi
học tập
Số lợng % Số lợng %
1) Hiện tợng kinh nguyệt và
biện pháp vệ sinh
50/80 60 78/80 98
2) Các biện pháp sinh đẻ và
nhiệm vụ
40/80 50 75/80 93
3) Tác hại của các bệnh
truyền nhiễm.
56/80 70 78/80 98
4) Nhiệm vụ của học sinh 49/80 60 80/80 100
C- Kết luận
*Qua việc giáo dục giới tính và giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên đối
với học sinh khối 9- THCS thông qua chơng trình giảng dạy bộ môn sinh học lớp 9
và qua buổi ngoại khoá tôi nhận thấy rằng việc đa và cải tiến nội dung giảng dạy về
sức khoẻ sinh sản trong nhà trờng đối với các bộ môn là yêu cầu cần thiết. Bên cạnh
đó phải coi việc giáo dục giới tính và giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên là
nhiệm vụ của toàn xã hội. Sự kết hợp chặt chẽ ba môi trờng giáo dục - nhà trờng - gia
đình và xã hội sẽ là điều kiện tốt nhất đẻ tuổi vị thành niên rèn luyện và tu dỡng tốt,
là lực lợng xây dựng xã hội.
*Sự quan tâm của các đoàn thể nh Đội thiếu niên - Đoàn thanh niên là môi tr-
ờng sinh hoạt vui chơi bổ ích cuốn hút các em vào những hoạt động lành mạnh, có ý
nghĩa giáo dục tốt.
* Thực hiện đờng lối đổi mới toàn diện và sâu sắc của Đảng, xã hội ngày càng
quan tâm nhiều hơn tới việc phát triển con ngời chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ, đặc
biệt là trẻ em và vị thành niên. Tuyên ngôn về quyền trẻ em ngày 10/12/1948 của Đại
hội đồng liên hiệp quốc đã khẳng định: " Trẻ em có quyền đợc chăm sóc và giúp đỡ
đặc biệt". Ngày 20/10/1959 cũng nêu rõ "loài ngời phải dành cho trẻ em những gì tốt
đẹp nhất mà mình có".
*Nhận thức đúng đắn và sâu sắc về vấn đề trên. Việt nam là quốc gia đầu tiên
của Châu á và thứ hai trên thế giới phê chuẩn công ớc của Liên hiệp quốc về quyền
trẻ em (20/2/1890). Từ đó đến nay, nhà nớc ta đã đa ra nhiều văn bản, chính sách,
các bộ luật, pháp lệnh, Nghị định, thông t nói về việc chăm sóc trẻ em.
*Tôi cũng nh tất cả mọi ngời đều mong rằng: " Toàn xã hội phải thực hiện tốt
những chính sách bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em" quan tâm hơn nữa tới việc
giáo dục sức khẻo sinh sản vị thành niên.
D- Đề nghị
- -
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét