Thứ Bảy, 19 tháng 4, 2014

phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh trong dạy học chương “ động lực học chất điểm” vật lý 10 thpt ban cơ bản với sự hỗ trợ của website dạy học


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh trong dạy học chương “ động lực học chất điểm” vật lý 10 thpt ban cơ bản với sự hỗ trợ của website dạy học": http://123doc.vn/document/1052848-phat-huy-tinh-tich-cuc-tu-luc-cua-hoc-sinh-trong-day-hoc-chuong-dong-luc-hoc-chat-diem-vat-ly-10-thpt-ban-co-ban-voi-su-ho-tro-cua-website-day-hoc.htm


đội ngũ GV. Kết quả khảo sát cho thấy đa số các trường THPT ở tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu đều được
trang bị khá đầy đủ cơ sở vật chất trang thiết bị về CNTT, đội ngũ GV đều tâm huyết, mong muốn
được ứng dụng CNTT để nhằm phát huy tính tích cực, tự lực của HS trong học tập bộ môn Vật lí,
nhưng lại lúng túng không biết nên ứng dụng cái gì, ứng dụng như thế nào và bắt đầu từ đâu ?
Từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề t
ài nghiên cứu là: “Phát huy tính tích cực, tự lực của
HS trong dạy học chương “Động lực học chất điểm” Vật lí lớp 10 THPT ban cơ bản với sự hỗ trợ của
Website DH”.

2. Mục đích nghiên cứu
Vận dụng một số PPDH tích cực và
o giảng dạy chương “Động lực học chất điểm” chương trình
lớp 10 THPT ban cơ bản với sự hỗ trợ của website DH nhằm góp phần nâng cao hứng thú học tập, phát
huy tính tích cực, tự lực của HS, qua đó nâng cao hơn nữa chất lượng dạy học Vật lý ở trường THPT
hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiê
n cứu
 Đối tượng nghiên cứu
- Các phương pháp dạy học tích cực;
- Ứng dụng CNTT hỗ trợ dạy học môn Vật lí;
- Các hoạt động dạy và học một số kiến thức chương “Động lực học chất điểm” Vật lí 10 THPT
ban cơ bản.
 Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu việc vận dụng các PPDH tích cực trong quá trình dạy học (QTDH) chương “Động
lực học chất điểm” vật lí lớp 10 ban cơ bản THP
T với sự hỗ trợ của website DH nhằm phát huy tính
tích cực, tự lực của HS.
- Trong khuôn khổ giới hạn của đề tài, chúng tôi chỉ nghiên cứu các hoạt động dạy và học môn Vật
Lý ở trường THPT Trần Nguyên Hãn, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu.
4. Nhiệm vụ ng
hiên cứu
- Nghiên cứu các quan điểm hiện đại về DH, những định hướng cơ bản của việc đổi mới PPDH ở
bậc THPT trong giai đoạn hiện nay;
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc xây dựng tiến trình DH theo hướng phát triển các hành động
nhận thức tích cực, tự lực của HS;
- Nghiên cứu nội dung, chương trình phần Động lực học chất điểm Vật lý 10 THPT ban cơ bản
trên cơ sở đó xác định mục tiêu về mặt trình độ nhận thức ứng với từng kiến thức mà HS cần đạt đư
ợc;
- Nghiên cứu cơ sở khoa học của việc ứng dụng CNTT trong DH, từ đó xây dựng website hỗ trợ
DH chương “ Động lực học chất điểm” nhằm phát huy tính tích cực, tự lực của HS trong học tập;
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá tính khả thi kết quả của đề tài.
5. Giả thuyết khoa học
Nếu vận dụng các PPDH tích cực với sự hỗ trợ của website DH vào giảng dạy chương “Động lực
học chất điểm” Vật Lý lớp 10 THPT ban cơ bản một cách hợp lý thì sẽ phát huy được tính tích cực, tự
lực của HS trong QTDH góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn.
6. Phương pháp nghi
ên cứu đề tài
6.1. Nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu luật giáo dục, các chỉ thị của Ban chấp hành Trung ương và của Bộ Giáo dục và Đào
tạo về những định hướng cơ bản của việc đổi mới PPDH trong giai đoạn hiện nay.
- Nghiên cứu các tài liệu về lý luận DH, các tài liệu về bồi dưỡng, đổi mới phương pháp giảng dạy ở
trường TH
PT trong giai đoạn hiện nay.
- Nghiên cứu cơ sở khoa học của việc ứng dụng CNTT trong dạy học.
- Nghiên cứu sách giáo khoa, sách giáo viên và các tài liệu tham khảo liên quan tới nội dung chương
“Động lực học chất điểm” và tìm hiểu thực trạng khi DH chương này.
6.2. Phương pháp điều tra và khảo sát
Tìm hiểu việc dạy và học (thông qua dự giờ; trao đổi với GV, HS; phiếu điều tra) ở trường
THPT, phân tích kết quả nhằm đánh giá sơ bộ tình hình DH phần Động lực học chất điểm.

6.3. Nghiên cứu thực nghiệm
- Thiết kế Website DH từ đó vận dụng vào giảng dạy một số kiến thức trong chương “Động lực học
chất điểm” sách giáo khoa Vật Lý 10 THPT ban cơ bản nhằm phát huy tính tích cực, tự lực của HS.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm (T
NSP) để kiểm tra tính hiệu quả của đề tài.
6.4. Thống kê toán học
Dùng phương pháp thống kê mô tả và thống kê kiểm định để xử lý kết quả TNSP qua đó khẳng
định giả thuyết sự khác biệt giữa kết quả học tập của nhóm đối chứng (ĐC) và nhóm thực nghiệm (TN)
và khẳng định kết quả nghiên cứu của đề tài.
7. Cấu trúc của đề tài
MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
Chương 1. Cơ sở lý luận của ứng dụng C
NTT trong các PPDH tích cực nhằm phát huy tính
tích cực, tự lực của HS
Chương 2.
Xây dựng tiến trình DH chương Động lực học chất điểm nhằm phát huy tính tích
cực, tự lực của HS với sự trợ giúp của Website DH.
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm
KẾT LUẬN
8. Đóng góp của đề tài
- Góp phần làm
sáng tỏ cơ sở lý luận của việc sử dụng website DH nhằm phát huy tính tích cực, tự
lực của HS trong học tập.
- Thiết kế được Website hỗ trợ dạy học chương “Động lực học chất điểm” Vật lý 10 THPT ban cơ
bản.
- Cung cấp một số tiến trình DH chương “Động lực học chất điểm” làm tư liệu tham
khảo cho các
giáo viên giảng dạy ở trường phổ thông.
NỘI DUNG
CHƯƠNG I. CƠ SỞ CỦA VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC
VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA WEBSITE DẠY HỌC NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC,
TỰ LỰC CỦA HỌC SINH
1.1. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở THPT
1.1.
1. Đổi mới PPDH theo hướng phát huy cao độ tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS
trong quá trình học tập.
Tính
tích cực của HS trong quá trình học tập là yếu tố cơ bản, có tính quyết định đến chất lượng
và hiệu quả học tập. Do đó, phương châm của việc đổi mới PPDH theo hướng này là đặt HS vào vị trí
trung tâm của QTDH, hình thành kiểu DH “tập trung vào người học” thay thế cho kiểu “tập trung và
o
người dạy”. Phát huy cao độ vai trò của cá nhân HS, đánh thức những tiềm năng sáng tạo của mỗi HS,
kích thích nhu cầu, hứng thú học tập, tạo không khí thi đua, độc lập suy nghĩ, giải quyết vấn đề hay
cùng nhau hợp tác giải quyết vấn đề.
1.1.
2. Đổi mới PPDH theo hướng kế thừa và phát huy những yếu tố tích cực của PPDH truyền
thống, kết hợp áp dụng có chọn lọc và sáng tạo các PPD
H hiện đại cho phù hợp với thực tiễn giáo
dục THPT Việt Nam.

Chúng ta chưa bằng lòng với PPDH truyền thống bởi vì nó bộc lộ khác nhiều nhược điểm và tỏ
ra không phù hợp với yêu cầu mới của nền giáo dục hiện đại. Và việc tiếp nhận các PPDH hiện đại để
dần thay thế cho các PPDH truyền thống là tất yếu nhưng không thể ngày một ngày hai được. Do đó,

trước hết, cần phải kế thừa những tinh hoa, giá trị của các PPDH truyền thống đồng thời chuyển đổi
những gì có thể chuyển đổi được ngay, chuẩn bị và nhanh chóng tiến tới những bậc thang cao hơn, hiện
đại hơn về PPDH.
1.1.
3. Đổi mới PPDH theo hướng phát triển năng lực tự học của HS.
Mỗi PPDH có hiệu quả phải hướng vào việc phá
t huy cao độ năng lực tự học của HS, phải kích
thích và tạo động lực cho người học: DH phải lấy tự học làm mục tiêu và làm động lực. Phát huy năng
lực tự học theo các hướng như: huy động sự tham gia tích cực của HS trong quá trình học tập trên lớp;
Tăng cường các hoạt động độc lập của HS ngoài lớp học; Tăng cường các hoạt động học tập của HS
theo nhóm; Tăng cường các hoạt động học tập độc lập tìm kiếm tri thức; Khuyến khích các hoạt động
ứng dụng tri thức vào thực tiễn; Khuyến khích tự đánh giá kết quả học tập và đánh giá lẫn nhau.
1.1.4. Đổi mới PPDH theo hướng cá biệt hóa HS.
- Phát triển các PPDH nhằm
kích thích và huy động tối đa sự tham gia của mỗi HS, của mọi HS.
- Làm cho HS có thể học, làm việc, giải quyết vấn đề th
eo cách riêng, theo nhịp độ riêng.
- PPDH phải đa dạng, linh hoạt sao cho thích ứng với mọi nhu cầu, khả năng, nhịp độ, nhiệm vụ…của
từng cá
nhân HS.
- Huy động sáng kiến của từng cá nhâ
n HS.
1.1.
5. Đổi mới PPDH theo hướng tăng cường phát triển kỹ năng thực hành.
Mọi QT
DH, mục đích cuối cùng là tạo ra năng lực thực tiễn cho mỗi cá nhân người học. Vì vậy,
cần tăng cường các PPDH bằng hành động như: học tập qua hành động, học qua hành, hành mà học;
học để hành, để làm (learning by doing, learning to do)
1.1.
6. Đổi mới PPDH theo hướng tăng cường ứng dụng phương tiện kỹ thuật DH hiện đại.
Sử dụng phương tiện kỹ thuật không chỉ giúp HS nâng cao hiệu suất, hiệu quả học tập m
à còn
hướng vào việc hình thành cho HS các năng lực sử dụng phương tiện thông tin để học suốt đời và hoạt
động thực tiễn. Vì vậy, tăng cường ứng dụng phương tiện kỹ thuật DH là một phương hướng cơ bản để
nâng cao chất lượng DH và là điều kiện cơ bản để thực hiện có hiệu quả nhiều PPDH.
1.1.
7. Đổi mới các phương pháp kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của HS theo hướng điều
khiển kín QTDH nhằm đảm bảo tính chân thực, khách quan và phát huy tốt chức năng của đánh
giá trong dạy học.
Vì đánh giá
là khâu cuối cùng của mọi QTDH nên các PP kiểm tra đánh giá là một khâu cơ bản
trong sự đổi mới PPDH. Kiểm tra, đánh giá vừa là một loại hình PPDH và nếu thực hiện tốt thì nó sẽ là
điều kiện cơ bản để đổi mới PPDH thành công.
Trên đây là những định hướng đổi mới PPDH cơ bản nhưng trong khuôn khổ của đề tài, chúng
tôi chỉ tập trung nghiên cứu đổi mới PPDH theo hướng tích cực sử dụng CNTT. Vì ngày nay, việc ứng
dụng CNTT trong DH là một xu thế, một giải pháp có hiệu quả trong việc đổi mới và phát triển PPDH
ở các trường THPT.
1.2. Một số lý luận cơ bản về tính tích cực, tự lực của HS trong quá trình dạy học
1.2.1. Tính tích cực, tự lực của học sinh trong quá trình nhận thức
1.2.
1.1. Tính tích cực nhận thức
Tính tích cực nhận thức là thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể thông qua sự huy động ở
mức độ cao các chức năng tâm lý nhằm giải quyết các vấn đề học tập. Nó vừa là mục đích hoạt động,
vừa là phương tiện, vừa là điều kiện để đạt được mục đích, vừa là kết quả của hoạt động. Nó là phẩm
chất hoạt động của cá nhân.

Tính tích cực nhận thức biểu hiện ở những dấu hiệu như: hăng hái trả lời các câu hỏi của GV, bổ
sung các câu trả lời của bạn, thích phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra; hay nêu thắc mắc, đòi
hỏi giải thích cặn kẻ những vấn đề chưa rõ; chủ động vận dụng kiến thức kĩ năng để nhận thức vấn đề
mới; tập trung chú ý và
o vấn đề đang học; kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản lòng trước tình
huống khó khăn…
Người ta phân ra ba loại tính
tích cực:
- Tính tích cực tái hiện, bắt chước tính tích cực chủ yếu dựa và
o trí nhớ và tư duy tái hiện.
- Tính tích cực tìm tòi được đặc trưng bằng sự bình luận, phê phán, tìm tòi tích cực về mặt nhận
thức, lòng khá
t khao hiểu biết và hứng thú học tập.
- Tính tích cực sáng tạo là mức độ cao nhất của tính tích cực. Nó đặc trưng bằng sự khẳng định con
đường riêng của mì
nh, không giống với con đường mọi người thừa nhận, đã trở thành chuẩn hóa để đạt
được mục đích.
1.2.
1.2. Tính tự lực nhận thức
Tính tự lực nhận thức là hạt nhâ
n của tính tích cực. Nó bao gồm nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
-
Theo nghĩa rộng, bản chất của tính tự lực nhận thức là sự sẵn sàng về mặt tâm lý cho sự tự học.
Tức người học ý thức được nhu cầu học tập của mình và của tập thể, ý thức được mục đích học tập
-
Theo nghĩa hẹp, tính độc lập nhận thức là năng lực, nhu cầu học tập và tính tổ chức học tập cho
phé
p HS tự học.
Từ sự hiểu tính tích cực nhận thức đó có thể nhận thấy trong đó thể hiện sự thống nhất giữa phẩm
chất và năng lực, giữa ý thức tình
cảm và hành động, giữa động cơ, tri thức và PP hoạt động tự học.

vậy, tính tự lực nhận thức có các thành phần cấu trúc như sau:
+ Động cơ nhận thức. Thể hiện ở như cầu hứng thú nhận thức, động cơ có tính c
hất xã hội và thế
giới quan. Thiếu động cơ nhận thức thì không thể diễn ra hoạt động nhận thức- học tập.
+ Năng lực học tập được đặc trưng bằng tri thức, kỹ năng, kỹ xảo vững vàng làm chỗ dựa cho hoạt
động nhận thức, bằng sự phát triển trí tuệ, PP suy nghĩ. Nhờ đó mà HS có thể dễ dàng tự xác định được
nhiệm vụ nhận thức thay đổi những cách thức hành động để phù hợp với những hoàn cảnh mới và biết
đánh giá đúng những yêu cầu và nhiệm vụ đề ra. Do đó người học mới có thể tự lĩnh hội tri thức mới từ
những nguồn nhận thức khác nhau.
+
Sự tổ chức học tập là sự thống nhất giữa PP suy nghĩ và PP lao động chung của hoạt động tự lực
nhận thức.Vì PP lao động chung bao gồm việc lập kế hoạch, tổ chức kế hoạch học tập và tự kiểm tr
a.

+ Tính tự lực nhận thức là mặt hành động ý chí, thể hiện ở tính mục đích, tính kiên trì, tinh thần
khắc phục khó khăn nhằm thực hiện có kết quả nhiệm vụ học tập.
1.2.
1.3. Mối liên hệ giữ tính tích cực và tính tự lực nhận thức

Tính tích cực nhận thức là điều kiện cần thiết của tính tự lực nhận thức và không thể nào có tính tự
lực nhận thức mà thiếu tính tích cực nhận thức.
Tính
tích cực nhận thức cũng là kết quả và là sự biểu hiện của sự nảy sinh và phát triển tính tự lực
nhận thức. Trong tính tự lực nhận thức đã thể hiện tính tích cực nhận thức và đồng thời thể hiện tính
tích cực đó lại có tác dụng hướng dẫn cá nhân đến tính tích cực nhận thức ở mức độ cao hơn. S
ong từ
đó không thể đồng nhất khái niệm tính tự lực và tính tích cực nhận thức với nhau được.
Để phát huy tính tích cực, tự lực của HS trong QTDH thì GV cần phải tạo động cơ học tập cho các
em để từ đó HS thích chú học tập thì mới dẫn đến sự tự giác và chủ động trong học tập, tức các em tích
cực học tập. Bằng cách nào thực hiện được nhiệm vụ này?
1.2.
2. Các biện pháp tăng cường tính tích cực, tự lực của học sinh
Để có thể phát huy được tích tích cực, tự lực của HS trong quá trình học tập t
hì GV cần: Đảm bảo
cho HS có điều kiện tâm lý thuận lợi để tích cực hoạt động; tạo điều kiện để HS có thể tự lực giải quyết
những nhiệm vụ được giao.
1.2.
2.1. Đảm bảo cho HS có điều kiện tâm lý thuận lợi để tích cực trong hoạt động
a. GV phải xây dựng các tình huống “có vấn đề” để tạo m
âu thuẫn nhận thức, gợi động cơ hứng
thú tìm cái mới.
Có thể tạo động cơ hứng thú bằng các tác động bê
n ngoài như sự khích lệ, khen thưởng, hứa hẹn
một viễn cảnh tương lai tốt đẹp Tuy nhiên, quan trọng nhất, có khả năng làm thường xuyên và có
hiệu quả bền vững là sự kích thích bên trong bằng mâu thuẫn nhận thức, mâu thuẫn giữa nhiệm vụ mới
phải giải quyết và khả năng hiện có của HS còn bị hạn chế, chưa đủ, cần phải cố gắng vươn lên
tìm
kiếm một giải pháp mới, kiến thức mới. Thường xuyên đặt HS vào vai trò chủ thể, tham gia giải quyết
những mâu thuẫn nhận thức sẽ tạo cho HS một thói quen, lòng ham thích hoạt động trí óc có chiều sâu,
tự giác, tích cực.
b. Tạo môi trường sư phạm thuận lợi
Để giờ học có hiệu quả, HS có tâm thế sẵn sàng khi bước vào giờ học và tâm thế ấy được duy trì
trong suốt quá trình
học thì GV phải tạo được bầu không khí học tập tích cực. Trong môi trường đó, H
S
dễ dàng bộc lộ những hiểu biết của mình và sẵn sàng tham gia tích cực vào QTDH, vì lúc đó tâm lý của
các em rất thoải mái.
GV vui vẻ, hài hước và biết chờ đợi, động viên, giúp đỡ và tổ chức lớp học sao ch
o các HS mạnh dạn
tham gia thảo luận, phát biểu ý kiến của riêng mình, nêu thắc mắc, lật ngược vấn đề chứ không chỉ chờ
sự phán xét của GV. Đặc biệt, bản thân GV phải khắc phục tâm lý sợ mất nhiều thời gian, phải kiên
quyết dành nhiều thời gian hơn cho HS phát biểu, thảo luận, dần dần tốc độ phát biểu và suy nghĩ sẽ
nhanh hơn.

1.2.
2.2. Tạo điều kiện để HS có thể tự lực giải quyết những nhiệm vụ được giao
HS là chủ thể của hoạt động nhận thức (HĐNT) cho nên sự thà
nh công của họ trong việc giải quyết
vấn đề học tập có tác dụng rất quan trọng làm cho họ tự tin, hứng thú, mạnh dạn suy nghĩ để giải quyết
những vấn đề ngày càng khó hơn. Trong thực tế DH, nhiều HS tuy không kém thông minh nhưng vì
không có kĩ năng, kĩ xảo cần thiết nên thất bại nhiều lần trong học tập, nếu không được kịp thời giúp
đỡ thì sẽ trở thành tự ti, rụt rè, rối trí mỗi khi được gia
o nhiệm vụ. Để khắc phục tình trạng trên thì có
thể thực hiện một số biện pháp sau đây :
a. Nên lựa chọn một logic bài học thích hợp
Trong một số trường hợp, nếu thấy cần thiết thì GV nên phân chia bài học thành những vấn đề nhỏ
vừa với trình độ xuất phát của HS sao cho họ có thể tự lực giải quyết đư
ợc với sự cố gắng vừa phải.
Trong quá trình giảng dạy, G
V không thể làm tràn lan, kiến thức nào cũng giao cho HS tự lực xây
dựng, chiếm lĩnh. Cần phải có sự lựa chọn kĩ lưỡng một số vấn đề vừa sức và xác định mức độ mà HS
có thể tham gia trong việc giải quyết từng vấn đề cụ thể.
b. Thường xuyên rèn luyện cho H
S kĩ năng thực hiện một số thao tác cơ bản, bao gồm thao tác chân
tay và thao tác tư duy
Trong học tập vật lí, những thao tác chân tay phổ biến là: Quan sát, sử dụng các thiết bị để đo lường

một số đại lượng cơ bản, lắp ráp thí nghiệm, Những thao tác tư duy hay dùng là phân tích, tổng hợp,
so sánh, khái quát hoá, trừu tượng hoá, cụ thể hoá, Thực tế, những thao tác chân tay thì có thể huấn
luyện tương đối nhanh còn các thao tác tư duy thì đặc biệt khó khăn vì GV không quan sát được quá
trình HS thực hiện. Để thực hiện có hiệu quả thì GV nên đưa ra các câu hỏi mà muốn trả lời được, HS
phải thực hiện một vài thao tác nào đó. Căn cứ vào kết quả trả lời thì có thể biết được HS thực hiện
đúng hay không đúng. Nếu HS chưa trả lời đúng thì GV phải đưa ra những câu hỏi đơn giản hơn, đòi
hỏi thực hiện ít thao tác hơn. Nếu đư
ợc làm thường xuyên thì HS sẽ tích luỹ được kinh nghiệm, thực
hiện đúng và nhanh hơn công việc được giao.
c. Cho HS t
iếp cận với các PP nhận thức vật lí được sử dụng phổ biến
Trong học tập vật lí, muốn c
ho HS quen dần với PP đi tìm chân lí mới trong quá trình học tập, nhất
thiết phải dạy cho họ các PP nhận thức phổ biến. Bởi vậy,
chủ trương giới thiệu cho HS một cách
tường minh nội dung của một số PP nhận thức đang được chú trọng. Tuy nhiên, việc vận dụng các PP
đó để nghiên cứu một hiện tượng, một tính chất, một định luật vật lí là một việc không dễ dàng. Chính
vì thế, trong nhà trường, cần cố gắng làm cho HS biết được trên con đường đi tìm chân lí thì phải thực
hiện những hành động nào, phải trải qua những giai đoạn nà
o; đồng thời tuỳ theo trình độ của HS và các
điều kiện cụ thể của nhà trường mà tổ chức cho HS tham gia trực tiếp một số giai đoạn của PP nhận thức đó.
Trong trường phổ thông hiện nay, những PP nhận thức vật l
í hay gặp là: PP thực nghiệm, PP tương tự, PP mô
hình, PP thí nghiệm lí tưởng. Tuy nhiên, khi áp dụng các PP nhận thức vật lí cần phải phối hợp sử dụng các
PP suy luận logic như phân tích, tổng hợp, qui nạp, diễn dịch, Những PP logic nà
y được sử dụng trong tất cả
các giai đoạn của quá trình nhận thức nên GV cần chú ý rèn luyện cho HS một cách thường xuyên.

1.3. Một số vấn đề về PPDH nhằm phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh
1.3.1. Khái niệm về phương pháp dạy học tích cực
Phương pháp hiểu the
o nghĩa chung nhất của thuật ngữ này, là con đường, là cách thức (hay tập
hợp những thủ pháp, những thao tác trí tuệ hay tay chân) nhằm thực hiện thành công một nhiệm vụ nào
đó.
Về mặt bản chất, PPDH là hệ thống những hành động và thao tác theo một trật tự nhất định của
GV và HS trong mối qua
n hệ biện chứng với nhau nhằm giúp HS chiếm lĩnh được nội dung học vấn,

đạt được mục đích dạy học đề ra.
Như vậy, theo định nghĩa này, để hoà
n thiện PPDH thì cần phải xác lập được một hệ thống các
hành động, thao tác của thầy và trò tương ứng với những công cụ, những đơn vị nội dung DH theo
tuyến tính thời gian để có thể đạt được từng mục đích DH nhất định. Có như thế, PPDH mới có khả năng
chuyển giao và có tính thực thi.
PPDH tích cực với phương châm là đặt HS vào vị trí trung tâm của QTDH, hình thành PPDH
“tập trung vào người học”. Phát huy cao độ vai trò của cá nhân HS, đánh thức những tiềm năng sáng
tạo của mỗi HS, kích thích nhu cầu, hứng thú học tập. HS càng tích cực bao nhiêu thì hiệu quả nhận
thức càng cao bấy nhiêu.

1.3.2. Đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực
1.3.
2.1. Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của HS
Trong DH tích cực thì HS vừa là đối tượng vừa là chủ thể của QTDH. HS được tích cực tham gia
vào các hoạt động học tập do G
V tổ chức và chỉ đạo. Được đặt vào tình huống có vấn đề, HS tự mình
khám phá tri thức, trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề theo suy nghĩ của bản
thân.
1.3.
2.2. Dạy và học chú trọng rèn luyện PP tự học
Theo cách này, QTDH cần rèn l
uyện cho người học có được PP, kỹ năng, thói quen ý chí tự học để
từ đó khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi người, làm cho bản thân người học tìm kiếm, khám phá tri
thức.
1.3.
2.3. Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác
Đối với PPDH tích cực, trong quá trình chiếm lĩnh kiến thức mới thì không chỉ chú ý tới vai trò của
từng cá nhân mà ta phải cần thông qua tương tác giữa GV và HS, giữa HS với HS, giữa các nhóm HS
với nhau. Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến của mỗi cá nhận được bộ lộ, khẳng định
hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới. Người học được tạo điều kiện tiếp cận
những qua
n điểm khác nhau về một vấn đề.
1.3.
2.4. Kết hợp đánh giá của thầy và tự đánh giá của trò
Theo cách này, GV không chỉ hướng dẫn, tổ chức cho HS phát tr
iển các kỹ năng tự đánh giá mà
còn tạo điều kiện cho HS tham gia tương tác, đánh giá lẫn nhau. Mặc khác, ở đây việc kiểm tra - đánh
giá không chỉ dừng lại ở mức độ, yêu cầu tái hiện tri thức mà phải khuyến khí
ch trí thông minh, óc
sáng tạo khi giải quyết vấn đề.
Tóm
lại, từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, GV không còn đóng vai trò đơn thuần là
người truyền đạt kiến thức mà trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo
nhóm nhỏ để HS tích cực, tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập để đạt được mục tiêu k
iến thức, kĩ năng, thái
độ theo yêu cầu của chương trình. GV thực hiện bài lên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác, động viên,
cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào hứng, tranh luận sôi nổi của HS.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét