LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "những giải pháp định hướng nâng cao vai trò nhân tố chủ quan trong giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông trung học hiện nay": http://123doc.vn/document/1055440-nhung-giai-phap-dinh-huong-nang-cao-vai-tro-nhan-to-chu-quan-trong-giao-duc-dao-duc-cho-hoc-sinh-pho-thong-trung-hoc-hien-nay.htm
hành động trong lao động sản xuất, trong đời sống cộng đồng xã hội.
Do đó, đạo đức theo quan niệm mác xít là một hình thái ý thức
xã hội, bao gồm một hệ thống các qui tắc, các chuẩn mực nhằm điều
chỉnh hành vi và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ
với nhau và quan hệ với xã hội để bảo vệ lợi ích của cá nhân và của
cộng đồng.
Là một hình thái ý thức xã hội, nên cũng như các hình thái ý xã
hội khác, đạo đức phản ánh tồn tại xã hội. Sự xuất hiện của đạo đức
đáp ứng đòi hỏi khách quan của cuộc sống xã hội, nó phản ánh đời
sống xã hội, mà trước hết là chế độ kinh tế - xã hội. Khi nền kinh tế -
xã hội có sự biến đổi, đòi hỏi đạo đức xã hội cũng phải thay đổi theo.
Trong lịch sử nhân loại, cùng với sự phát triển của sản xuất, của
tiến bộ xã hội những quy tắc, chuẩn mực, phạm trù đạo đức theo đó
tăng lên, phản ánh đời sống xã hội ngày càng phong phú, đa dạng hơn,
trở thành một trong những phương thức điều chỉnh các mối quan hệ xã
hội, điều chỉnh hành vi của con người sao cho phù hợp với yêu cầu,
chuẩn mực xã hội.
Phản ánh tồn tại xã hội, do đó đạo đức mang tính lịch sử, quan
niệm về một nền đạo đức vĩnh cửu, đặt trên mọi lịch sử và trên những
sự khác biệt về dân tộc, một thứ đạo đức bất chấp cả thời gian mà mọi
sự biến thiên của thực tế là siêu hình, giáo điều và duy tâm. Quan niệm
đó là hoàn toàn xa lạ với quan niệm mác xít, khẳng định tính lịch sử
của đạo đức trong tác phẩm Chống Đuyrinh, Ăngghen đã chỉ ra rằng:
"Chung quy lại thì mọi thuyết đạo đức đã có từ trước tới nay đều là sản
phẩm của tình hình kinh tế xã hội lúc bấy giờ" [2, 63].
5
Trong các xã hội có sự phân chia thành giai cấp, đạo đức luôn
mang tính giai cấp. Trong xã hội nguyên thủy, khi lực lượng sản xuất
còn kém phát triển, con người phải nương tựa vào nhau và sống nhờ
vào những ân huệ của giới tự nhiên, thì sự thông cảm và tinh thần
tương trợ cũng như công bằng và sự bình đẳng được coi là công cụ tự
bảo vệ, là điều kiện để tồn tại và là chuẩn mực đạo đức của xã hội đó.
Sự xuất hiện xã hội có giai cấp, dẫn tới sự phá vỡ ý thức đạo
đức thống nhất vốn có của xã hội nguyên thủy và hình thành một nền
đạo đức khác, mở đầu cho lịch sử đạo đức mang tính giai cấp trong xã
hội có giai cấp. Đạo đức luôn luôn là đạo đức của giai cấp, từ xã hội cổ
đại cho đến xã hội hiện đại, từ giai cấp chủ nô đến giai cấp phong kiến,
từ giai cấp tư sản đến giai cấp vô sản, mỗi giai cấp đều có nền đạo đức
của nó: đạo đức của giai cấp chủ nô, đạo đức giai cấp phong kiến, đạo
đức của giai cấp tư sản, đạo đức của giai cấp vô sản.
Trong các nền đạo đức đã xuất hiện trong lịch sử, đạo đức mới,
tức đạo đức của giai cấp vô sản, đạo đức cộng sản chủ nghĩa là nền đạo
đức có giá trị phổ biến và nhân đạo nhất.
Thừa nhận tính lịch sử, tính giai cấp của đạo đức, triết học Mác
- Lênin không hề phủ nhận những giá trị phổ biến toàn nhân loại của
đạo đức. Những giá trị đạo đức như lòng nhân ái, bao dung, độ lượng,
tính trung thực, sự công bằng, tôn trọng lẽ phải thì xã hội nào, thời kỳ
nào cũng cần, cũng có. Tất nhiên, do những điều kiện lịch sử cụ thể
khác nhau, do lý tưởng đạo đức khác nhau mà đôi khi người ta có cách
hiểu không hoàn toàn giống nhau, về các giá trị đạo đức có ý nghĩa phổ
biến đó.
6
Thừa nhận có thứ đạo đức của con người đích thực, tức là thứ
đạo đức thoát khỏi sự tha hóa của con người, đạt tới sự tự do và giải
phóng con người, thoát khỏi mọi sự ràng buộc giai cấp, nhưng triết học
mác xít cũng đã khẳng định rằng, để có được một nền đạo đức thật sự
có tính người, mang tính nhân loại phổ biến, điều trước hết là phải xóa
bỏ được sự đối lập giai cấp.
Nghiên cứu các nền đạo đức đã tồn tại trong lịch sử nhân loại,
Ăngghen đã chỉ ra rằng nền đạo đức có nhiều nhân tố hứa hẹn lâu dài
nhất, chắc chắn là nền đạo đức hiện nay đang tiêu biểu cho sự lật đổ
chế độ hiện đại, bảo vệ tương lai, tức nền đạo đức vô sản.
Đạo đức vô sản, đạo đức cộng sản chủ nghĩa là một nền đạo đức
thật sự có tính người, mang tính nhân loại phổ biến. Nền đạo đức ấy kế
thừa, có chọn lọc, có phê phán và phát triển tất cả những gì tốt đẹp nhất
được nhân loại tạo ra trong lịch sử, đó là một nền đạo đức của tương
lai, một nền đạo đức mang tính nhân văn cao cả.
Đạo đức vô sản, đạo đức cộng sản chủ nghĩa biểu hiện sự sáng
tạo mang tính quần chúng rộng rãi. Các giá trị đạo đức này mang ý
nghĩa cao cả, vì nó là những sản phẩm sáng tạo của con người và vì con
người. Những giá trị ấy nói lên bản chất sáng tạo của trí tuệ, của ý thức
danh dự, của lòng dũng cảm và những phẩm chất cao quý của con
người. Nền đạo đức ấy vừa là sản phẩm của nền sản xuất xã hội đầy
sáng tạo và nhân văn, vừa là động lực thúc đẩy xã hội phát triển.
Đạo đức cộng sản chủ nghĩa là đạo đức mới, là nền đạo đức mà
chúng ta hiện nay đang hướng tới và xây dựng.
Là một hình thái ý thức xã hội, đạo đức một mặt được hình
thành một cách tự phát, từ chính cuộc sống hàng ngày của con người để
đáp ứng đòi hỏi khách quan của sinh hoạt cộng đồng. Mặt khác, đạo
7
đức phải là kết quả của sự giáo dục và tự giáo dục, tự rèn luyện của
mỗi cá nhân theo các chuẩn mực giá trị đạo đức của xã hội.
Giáo dục theo nghĩa chung nhất, đó là hoạt động nhằm tác động
một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối
tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất
và năng lực như yêu cầu đề ra.
Giáo dục nói chung, giáo dục đạo đức nói riêng là một quá trình
bao gồm hai mặt, một mặt đó là sự tác động từ bên ngoài vào đối tượng
giáo dục, mặt khác thông qua sự tác động này làm cho đối tượng tự
biến đổi bản thân mình, tự hoàn thiện, tự nâng mình lên qua giáo dục.
Đạo đức, nhất là đạo đức của lứa tuổi học sinh phổ thông trung
học được hình thành chủ yếu bằng con đường giáo dục. Giáo dục đạo
đức góp phần chuyển các quan niệm đạo đức từ tự phát sang tự giác, từ
bị động sang chủ động, không ngừng nâng cao trình độ nhận thức các
giá trị đạo đức cho mỗi người, từ trình độ nhận thức thông thường lên
trình độ nhận thức khoa học. Nhận thức thông thường hình thành do
ảnh hưởng trực tiếp của những điều kiện sinh hoạt hàng ngày mang lại,
nó phản ánh những giá trị đạo đức gần gũi với cuộc sống đời thường,
còn nhận thức khoa học phản ánh các giá trị đạo đức một cách gián
tiếp, khái quát, cả những giá trị đạo đức hiện đại, cả những phẩm giá
của con người được kết tinh trong truyền thống lâu dài của dân tộc.
Giáo dục đạo đức góp phần to lớn, tích cực trong việc truyền lại
cho thế hệ đang trưởng thành những giá trị đạo đức, mà thế hệ trước đã
tạo ra, những giá trị đạo đức được kết tinh trong hàng nghìn năm lịch
sử của dân tộc. Trên cơ sở đó giúp họ nhận ra chân giá trị của các giá
trị đạo đức, nhận thấy giá trị và ý thức cuộc sống mang tính nhân bản,
8
nhân ái, nhân văn sâu sắc, góp phần to lớn trong việc nhân đạo hóa con
người và đời sống xã hội của con người, trong việc hình thành, củng cố
những giá trị nhân cách tốt đẹp.
Chẳng hạn, qua giáo dục chủ nghĩa yêu nước và tinh thần quốc
tế vô sản, những giá trị đạo đức tốt đẹp như: lòng tự hào dân tộc, ý thức
và hành vi sẵn sàng bảo vệ độc lập và chủ quyền quốc gia, yêu hòa
bình, tôn trọng các dân tộc khác được củng cố, được nâng lên làm
cho thế hệ trẻ thấy được những giá trị lớn lao, ý nghĩa đích thực của
cuộc sống hòa bình, tự do, độc lập. Những giá trị ấy trở thành tình cảm,
động lực thôi thúc họ vượt qua mọi khó khăn, gian khổ để bảo vệ độc
lập, chủ quyền quốc gia vươn lên trong sự nghiệp xây dựng đời sống
hòa bình, ấm no, hạnh phúc.
Giáo dục đạo đức không chỉ có tác dụng nâng cao các giá trị
đạo đức, tạo ra những giá trị đạo đức mới, mà còn góp phần tích cực
vào việc khắc phục những quan điểm đạo đức lạc hậu, sự lệch chuẩn
các giá trị nhân cách, những thói hư tật xấu, chống lại những hiện
tượng vô đạo đức đang đầu độc bầu không khí xã hội, tạo ra cơ chế
phòng ngừa các phản giá trị đạo đức, phản giá trị văn hóa
Tóm lại, giáo dục đạo đức có vai trò rất to lớn trong việc hình
thành ý thức, tình cảm cũng như các hành vi đạo đức của con người,
đặc biệt của lứa tuổi học sinh phổ thông trung học.
Nhận thức được vai trò của đạo đức mới, cũng như tác dụng to
lớn của công tác giáo dục đạo đức trong việc hình thành đạo đức mới,
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã sớm quan tâm đến công tác này,
nhất là giáo dục đạo đức trong các trường học.
9
Hiện nay, trước nhiều biến động phức tạp của đạo đức trong xã
hội, trước sự suy thoái về đạo đức của một bộ phận thanh niên học sinh
trong các trường học, trong chiến lược chăm lo phát triển nguồn lực
con người của Đại hội VIII, Đảng ta đã khẳng định: "Cùng với đổi mới
nội dung giáo dục theo hướng cơ bản, hiện đại, phải tăng cường giáo
dục công dân, giáo dục thế giới quan khoa học, lòng yêu nước, ý chí
vươn lên vì tương lai của bản thân và tiền đồ của đất nước" [7, 29].
1.1.2. Điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan trong giáo
dục đạo đức cho học sinh phổ thông trung học
Điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan: Các khái niệm "điều
kiện khách quan" và "nhân tố chủ quan" được hình thành và phát triển
trong quá trình nghiên cứu hoạt động thực tiễn của con người. Vì vậy,
để làm sáng tỏ nội dung của các khái niệm trên, trước hết cần phải xác
định rõ nội dung của các khái niệm có liên quan trực tiếp tới hoạt động
của con người. Đó là khái niệm "chủ thể" và "khách thể".
Trong hoạt động thực tiễn, con người đối lập với thế giới vật
chất khách quan như là đối tượng bên ngoài mà họ cần tác động và cải
tạo, nhằm thỏa mãn những nhu cầu và lợi ích của mình. Ở đó, con
người là chủ thể hoạt động. Những đối tượng chịu sự tác động của con
người chính là khách thể bị cải tạo. Con người với tư cách là một chủ
thể được hiểu có thể hoặc là toàn thể nhân dân, hoặc là một giai cấp,
hoặc một nhóm người, hoặc là một cá nhân nào đó. Còn khách thể là
toàn bộ hiện thực khách quan tồn tại không lệ thuộc vào ý thức của chủ
thể, được chủ thể sử dụng với tư cách là đối tượng hoạt động thực tiễn
của mình.
10
Các khái niệm: chủ quan và chủ thể, khách quan và khách thể
quan hệ gắn bó chặt chẽ, nhưng không đồng nhất với nhau. Nhân tố chủ
quan, về thực chất, là những phẩm chất, những thuộc tính về ý thức, ý
chí của chính chủ thể hành động. Về mặt cơ cấu, nhân tố chủ quan bao
gồm: tri thức, ý chí, tình cảm và năng lực tổ chức hành động của chủ
thể, chúng chỉ phối hợp và biểu hiện ra trong hoạt động của chủ thể.
Những phẩm chất này bao giờ cũng có tính hai mặt: tích cực và tiêu
cực. Nếu như nhân tố chủ quan phụ thuộc vào ý thức, ý chí của chủ thể,
thì điều kiện khách quan lại lệ thuộc vào khách thể, vào những mối liên
hệ của khách thể. Đó là tất cả những gì tạo nên một hoàn cảnh hiện
thực, quy định và tác động vào mọi hoạt động của chủ thể, tồn tại
không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể hoạt động. Điều kiện khách
quan là một tổng thể các yếu tố, các bộ phận có quan hệ chặt chẽ với
nhau, trong đó hệ thống các thuộc tính, các mối liên hệ bản chất, quy
luật chi phối sự tồn tại và phát triển của khách thể là bộ phận quan
trọng nhất, quyết định nhất.
Luận văn này quan tâm đến điều kiện khách quan và nhân tố
chủ quan trong giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông trung học.
Điều kiện khách quan ở đây, là nói tới bản thân người được giáo
dục đạo đức và những điều kiện kinh tế xã hội khác ảnh hưởng tới đạo
đức của họ. Người được giáo dục đạo đức đề cập trong luận văn là học
sinh phổ thông trung học.
Đa số học sinh phổ thông trung học là ở lứa tuổi thanh niên, lứa
tuổi này hoạt động tư duy ghi nhớ, chú ý, hứng thú, khát vọng, ý chí,
tình cảm và xúc cảm đều biến đổi so với thiếu niên. Họ có sức khỏe dồi
dào, bộ máy thần kinh và hoạt động thần kinh bậc cao trung đã hoàn
11
thiện, nên họ có phản xạ chính xác, nhanh nhẹn, dễ thích ứng hơn với
các tác động khác nhau của hiện thực xung quanh, hăng hái trong hoạt
động, ham hiểu biết, thích đổi mới, nhu cầu về tình bạn, tình yêu phát
triển mạnh, những đặc điểm này tác động mạnh tới sự hình thành tư
tưởng chính trị ở họ và khi họ đã xác định được niềm tin, lý tưởng, họ
có thể xả thân vì tưởng và phấn đấu với niềm lạc quan, với sức sống
mạnh mẽ để đạt được niềm tin và lý tưởng đó.
Tư duy của họ so với thiếu niên đã có hệ thống hơn, có tính phê
phán hơn, do vậy khi tiếp thu tri thức chính trị, nhất là tri thức lý luận,
họ thường đòi phải chứng minh, luận giải chặt chẽ. Vì có sự hiểu biết,
họ có khả năng tranh luận, khả năng tìm tòi đọc thêm sách báo, các
nguồn thông tin khác để bổ sung cho tri thức của mình. Sự phát triển
hoàn chỉnh về tâm sinh lý cũng cho phép họ có khả năng tự tìm hiểu, tự
nghiên cứu những vấn đề chính trị xã hội. Học sinh ở lứa tuổi thanh
niên thích sinh hoạt cộng đồng, thích giao lưu. Vì vậy, họ tự nguyện và
tích cực tham gia các hoạt động đoàn thể, hoạt động lớp, các lễ hội,
hoạt động chính trị xã hội, và chính qua các hoạt động đó, họ được rèn
luyện năng lực thực tiễn. Ở họ, không có tính bảo thủ, trì trệ như người
lớn tuổi. Vì vậy, họ dễ thích ứng với đường lối đổi mới, dễ thích ứng
với các chủ trương, chính sách mới. Vì họ quan tâm đến tương lai, luôn
hướng về tương lai nên họ cũng rất quan tâm đến những vấn đề lớn của
đất nước, của thời cuộc. Điều đó giúp họ xác định phương hướng tiến
thân lập nghiệp.
Khả năng cảm thụ xúc cảm, đồng cảm của họ phát triển cao, do
vậy họ cởi mở để hòa nhập, thích những hình thức hoạt động văn hóa
nghệ thuật, dễ cảm thông với người khác. Ở họ, kinh tế chưa độc lập,
12
còn phụ thuộc gia đình. Vì vậy, họ coi trọng các quan hệ xã hội, coi
trọng gia đình, tích cực học tập, tích cực học thêm. Những kiến thức họ
được học ở phổ thông có tính chất cơ bản, phổ cập không bị gián đoạn,
chưa va chạm trong thực tế, nên khi học ở phổ thông trung học đảm bảo
tính liên thông, tính kế thừa và phát triển. Khi học ở phổ thông, họ đã ý
thức được vị trí của mình qua các chủ trương chính sách, quy định, quy
chế hiện hành. Vì vậy họ phải có sự tự điều chỉnh, tự rèn luyện, sự
vươn lên trong môi trường phổ thông trung học. Những sự tác động trên
đã đưa họ vào những hoạt động cụ thể một cách tích cực như: nghe nói
chuyên đề về chế độ chính sách pháp luật, tham gia lao động công ích,
tham gia hoạt động văn hóa văn nghệ, quyên góp từ thiện, ủng hộ Bà
mẹ Việt Nam anh hùng, tìm hiểu về Đảng, Bác Hồ
Vì có hoài bão, ước mơ, có lý tưởng chính trị và ý chí vươn lên,
nên học sinh đa số đã tích cực phấn đấu vào Đoàn, tuy nhiên đặc điểm
của lứa tuổi cũng có những mặt hạn chế tác động đến tuổi trẻ học sinh.
Thứ nhất, tâm lý không thích nghe, không thích bàn luận đến
các vấn đề chính trị mà thiên về những vấn đề tình bạn, tình yêu, văn
hóa, nghệ thuật. Do đó chính trị ít được quan tâm. Thứ hai, vì chưa trải
qua các hoạt động thực tiễn trong sản xuất, chiến đấu, thiếu kinh
nghiệm sống, vốn sống chưa đủ nên dễ mơ hồ về chính trị, ngại tham
gia công tác đoàn thể. Sự chưa từng trải này nguy hiểm ở chỗ là dễ bị
các thế lực chính trị xấu lôi cuốn thông qua các hình thức hoạt động
khác Chính vì vậy, như Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy: Giáo dục thanh
niên không thể tách rời mà phải liên hệ chặt chẽ với những cuộc đấu
tranh của xã hội. Trong xã hội cũ có nhiều nọc độc nó làm hại thanh
niên, nhất là văn hóa độc ác của Mỹ, nó dùng mọi cách như sách báo,
13
phim ảnh v.v để làm cho thanh niên hư hỏng trụy lạc, thậm chí một
số thanh niên hóa ra lưu manh, trộm cắp, cờ bạc, v.v Người còn nói
rằng: Từ tiểu học, trung học cho đến đại học, là nơi rèn luyện nhi đồng
và thanh niên, óc những người trẻ tuổi trong sạch như một tấm lụa
trắng, nhuộm xanh thì nó sẽ xanh, nhuộm đỏ thì nó sẽ đỏ. Có nghĩa là
sự chưa từng trải, sự thiếu vốn sống ấy phải được sự tác động tích cực
của nhiều hình thức giáo dục phù hợp với lứa tuổi để tạo ra nhu cầu và
cũng là để chiếm lĩnh khoảng trống trong họ trên mặt trận tư tưởng. Do
có sức sống dồi dào, có nguyện vọng muốn được thử sức mình nhưng
lại chưa đủ kinh nghiệm sống và không phải mọi mục tiêu đặt ra đều
được ý thức rõ ràng, cho nên đôi khi trong thâm tâm học sinh không
thấy thỏa mãn, họ dễ thay đổi mục tiêu đã đề ra. Họ thường quan tâm
tới bản thân và nhân cách của mình nên càng đề cao mình quá mức, và
trong mọi hoạt động họ đều muốn thử sức, muốn bộc lộ khả năng của
mình và nhiều khi không phân biệt hoạt động đó là xấu, là tốt thế nào.
Những đặc điểm này dẫn đến dễ ngả nghiêng trước những bước ngoặt,
trước những vấn đề phức tạp của cuộc sống, dẫn đến những hành động
bột phát trái với pháp luật, trái với đạo đức, với những tiêu chuẩn hành
vi đã được xã hội chấp nhận, nhất là trong lối sống, nếp sống. Bác Hồ
đã nêu rõ trong bức thư gửi thanh niên: Nói tóm lại: ưu điểm của thanh
niên ta là hăng hái giàu tinh thần xung phong; khuyết điểm là: ham
chuộng hình thức, thiếu thực tế, bệnh cá nhân, bệnh "anh hùng".
Ngoài sự tác động của các đặc điểm tâm lý lứa tuổi, đạo đức
của học sinh phổ thông trung học còn chịu ảnh hưởng không nhỏ của
các điều kiện kinh tế - xã hội khác.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét