Thứ Bảy, 19 tháng 4, 2014

lợi nhuận và các phương hướng, biện pháp chủ yếu nâng cao lợi nhuận tiêu thụ sản phẩm ở công ty giầy thuỵ khuê


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "lợi nhuận và các phương hướng, biện pháp chủ yếu nâng cao lợi nhuận tiêu thụ sản phẩm ở công ty giầy thuỵ khuê": http://123doc.vn/document/1051587-loi-nhuan-va-cac-phuong-huong-bien-phap-chu-yeu-nang-cao-loi-nhuan-tieu-thu-san-pham-o-cong-ty-giay-thuy-khue.htm


Doanh lợi là một chỉ tiêu tơng đối phản ánh quan hệ so sánh giữa lợi
nhuận thu đợc trong kỳ với các yếu tố có liên quan đến việc tạo ra lợi
nhuận.
Có nhiều cách xác định doanh lợi, song chúng đều có chung mục đích
là đa các doanh nghiệp có những điều kiện sản xuất không giống nhau
về cùng một mặt bằng so sánh. Bên cạnh đó, chỉ tiêu doanh lợi còn
cho phép ta so sánh hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh giữa các
thời kỳ khác nhau trong cùng một doanh nghiệp. Dới đây là một số chỉ
tiêu doanh lợi thờng đợc sử dụng.
1.1.2.1/Doanh lợi vốn.
Doanh lợi vốn là quan hệ giữa lợi nhuận thu đợc với số vốn bình quân
sử dụng trong kỳ.
Công thức xác định nh sau:
DLv(%) =
%100x
Vbq
Ln
Trong đó:
DLv: Doanh lợi vốn.
Vbq: Vốn bình quân sử dụng trong kỳ.
Tuỳ theo mục đích phân tích mà vốn bình quân có thể là vốn kinh
doanh bình quân, vốn cố định bình quân, vốn lu động bình quân
Ln: Lợi nhuận thu đợc trong kỳ.
Lợi nhuận thu đợc trong kỳ có thể là lợi nhuận trớc thuế, hoặc lợi
nhuận sau thuế.
Doanh lợi vốn chỉ ra rằng: Cứ 100 đồng vốn bình quân trong kỳ
góp phần tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận (lợi nhuận trớc thuế
hoặc sau thuế). Đây là chỉ tiêu tổng hợp nói lên trình độ sử dụng tài
sản, vật t, tiền vốn của doanh nghiệp, thông qua đó, kích thích doanh
nghiệp tìm ra các biện pháp nhằm tận dụng mọi tiềm năng sẵn có,
khai thác sử dụng vốn có hiệu quả.
1.1.2.2/Doanh lợi giá thành.
Doanh lợi giá thành là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận đạt đợc từ các hoạt
động sản xuất kinh doanh với giá thành toàn bộ sản phẩm hàng hoá
dịch vụ tiêu thụ trong kỳ.
Công thức xác định:
Dlg(%) =
%100x
Ztb
Lnkd
Trong đó:
Dlg: Doanh lợi giá thành.
Ztb: Giá thành toàn bộ sản phẩm tiêu thụ trong kỳ.
Lnkd: Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh.
(Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh có thể là lợi nhuận trớc
thuế hoặc sau thuế).
Doanh lợi giá thành cho thấy: Cứ bỏ ra 100 đồng chi phí cho việc
sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trong kỳ sẽ thu đợc bao nhiêu đồng
lợi nhuận, nói một cách khác, đây là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu
quả của những chi phí bỏ ra cho việc sản xuất kinh doanh trong kỳ của
doanh nghiệp.
1.1.2.3/Doanh lợi doanh thu tiêu thụ sản phẩm.
Doanh lợi doanh thu tiêu thụ sản phẩm là quan hệ giữa lợi nhuận đạt
đợc từ hoạt động sản xuất kinh doanh với doanh thu tiêu thụ sản phẩm
trong kỳ.
Công thức xác định:
Dld(%) =
%100x
Dt
Lnkd
Trong đó:
Dld: Doanh lợi doanh thu tiêu thụ.
Dt: Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ.
Lnkd: Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh.
Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh có thể là lợi nhuận trớc
thuế hoặc lợi nhuận sau thuế.
Doanh lợi doanh thu tiêu thụ sản phẩm cho biết: Cứ trong 100 đồng
doanh thu tiêu thụ thu về trong kỳ có bao nhiêu đồng lợi nhuận (lợi
nhuận trớc thuế hoặc lợi nhuận sau thuế).
1.1.2.4/Doanh lợi vốn chủ sở hữu.
Doanh lợi vốn chủ sở hữu là chỉ tiêu tơng đối phản ánh quan hệ so
sánh giữa lợi nhuận ròng kết qủa sản xuất kinh doanh với vốn chủ sở
hữu bình quân sử dụng trong kỳ.
Công thức xác định nh sau:
Dlvc=Lnr/Vcsh x 100%
Trong đó:
Dlvc: Doanh lợi vốn chủ sở hữu.
Vcsh: Vốn chủ sở hữu bình quan sử dụng trong kỳ.
Lnr: Lợi nhuận ròng thu đợc trong kỳ. (Có thể là lợi nhuận ròng từ
hoạt động sản xuất kinh doanh).
Doanh lợi vốn chủ sở hữu chỉ ra rằng: Cứ 100 đồng vốn chủ sở hữu
bình quan trong kỳ đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng.
Ngoài các chỉ tiêu doanh lợi nói trên, trong công tác quản lý, ngời ta
còn sử dụng nhiều các chỉ tiêu doanh lợi khác nh doanh lợi vốn đầu t,
doanh lợi giá trị tổng sản lợng để đánh giá chất lợng xây dựng kế
hoạch và thực hiện kế hoạch trong kỳ.
1.1.2.5/Phơng trình Du-pont.
Phơng trình Du-pont, do nhà kinh tế học Du-pont tìm ra, đợc xác định
nh sau:
Doanh lợi vốn chủ sở hữu= Doanh lợi doanh thu x Vòng quay tổng
vốn x 1/(1- hệ số nợ).
Từ phơng trình Du-pont, ta có thể xác định doanh lợi vốn chủ sở hữu
thông qua chỉ tiêu doanh lợi doanh thu, vòng quay tổng vốn và hệ số
nợ của doanh nghiệp.
Nhìn vào công thức trên, ta thấy, doanh lợi vốn chủ sở hữu chịu tác
động của 3 nhân tố kể trên. Để tăng doanh lợi vốn chủ sở hữu thì cần
tăng doanh lợi doanh thu, tăng vòng quay tổng vốn và tăng hệ số nợ.
Trong đó, hệ số nợ đợc coi là đòn bẩy kinh tế làm khuyếch đại doanh
lợi vốn chủ sở hữu (trong điều kiện doanh nghiệp có khả năng tạo ra tỷ
suất lợi nhuận trớc lãi vay và thuế lớn hơn lãi vay phải trả).
Việc sử dụng hệ số nợ làm đòn bẩy tài chính nh một con dao hai lỡi:
nó có thể khuếch đại sự gia tăng nhanh chóng đối với doanh lợi vốn
chủ sở hữu, đặc biệt là những nguồn nợ chiếm dụng hợp pháp nh
những khoản phải trả cha đến hạn (không phải trả chi phí sử dụng vốn
), song nó cũng làm doanh nghiệp thua lỗ, thậm chí có nguy cơ phá
sản rất nhanh, khi sản xuất kinh doanh có dấu hiệu suy thoái. Mục tiêu
sản xuất kinh doanh là nâng cao lợi nhuận ròng cho chủ sở hữu doanh
nghiệp, do vậy, khi sử dụng hệ số nợ để khuyếch đại doanh lợi vốn
chủ sở hữu cần phải đánh giá đúng khả năng phát triển của doanh
nghiệp để quyết định một cơ cấu nợ hợp lý. Có nh vậy mới khai thác
đợc tác dụng của đòn bẩy dơng và hạn chế những rủi ro có thể xảy ra.
Tóm lại, có thể coi doanh nghiệp là một hệ thống mà việc vận hành
nó đòi hỏi phải tiến hành hàng loạt các giải pháp kinh tế - kỹ thuật và
tổ chức. Do đó, đánh giá một cách toàn diện hiệu quả hoạt động của
doanh nghiệp là một việc không hề đơn giản. Chính vì vậy sẽ là thiếu
sót nếu không kết hợp cả chỉ tiêu lợi nhuận tuyệt đối với các chỉ tiêu
lợi nhuận tơng đối (doanh lợi) trong phân tích kinh tế. Chúng sẽ bổ trợ
cho nhau và là công cụ đắc lực giúp nhà quản lý có đợc những quyết
định đúng đắn nhất.
1.2/Sự cần thiết phấn đấu tăng lợi nhuận của doanh
nghiệp trong điều kiện kinh doanh hiện nay.
1.2.1/Xuất phát từ vai trò của lợi nhuận đối với quá trình sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Cac-Mac, trong lý luận của mình, đã chỉ ra rằng: bất cứ nền sản xuất
xã hội nào cũng phải tính toán lao động xã hội bỏ ra và kết quả sản
xuất thu đợc. Lợi nhuận, do vậy, có một vai trò quan trọng không thể
phủ nhận đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nói riêng
và sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân nói chung.
Vai trò của lợi nhuận đối với quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp thể hiện ở những điểm chủ yếu sau:
Thứ nhất, lợi nhuận là kết quả tổng hoà của hàng loạt các giải pháp
kinh tế- kỹ thuật và tổ chức, nó phản ánh nhiều mặt hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp từ khâu cung cấp nguyên vật liệu cho sản
xuất đến khâu đa sản phẩm tiêu thụ. Thông qua việc phân tích tình
hình thực hiện lợi nhuận có thể đánh giá đợc trình độ của doanh
nghiệp trong việc tổ chức quản lý và sử dụng lao động, vật t, tiền vốn.
Lợi nhuận, chính vì vậy, là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất l-
ợng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Thứ hai, lợi nhuận là một trong những đòn bẩy kinh tế quan trọng tác
động đến việc hoàn thiện các mặt hoạt động của doanh nghiệp.
Để có thể tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trờng cạnh tranh, các
doanh nghiệp không còn con đờng nào khác là phải tự bơn chải, lấy
thu bù chi và đảm bảo có lãi. Lợi nhuận vừa là mục tiêu, vừa là động
lực thúc đẩy các doanh nghiệp khai thác triệt để các nguồn lực sẵn có,
sử dụng lao động, vật t, tiền vốn sao cho đem lại hiệu quả kinh tế cao
nhất.
Lợi nhuận còn là cơ sở để doanh nghiệp chẳng những có thể tái sản
xuất giản đơn mà còn có thể tái sản xuất mở rộng. Hơn nữa, đó còn là
nguồn chủ yếu để cải thiện điều kiện sản xuất, nâng cao đời sống vật
chất tinh thần cho ngời lao động, là đòn bẩy góp phần khơi dậy tiềm
năng của ngời lao động vì sự phát triển vững chắc của doanh nghiệp
trong tơng lai.
Thứ ba, một doanh nghiệp làm ăn có lãi cho thấy triển vọng phát triển
của doanh nghiệp đó trong tơng lai. Đây chính là động lực để các nhà
đầu t bỏ vốn vào doanh nghiệp, làm tăng quy mô và sức cạnh tranh
của doanh nghiệp trên thơng trờng. Nhng nếu nh doanh nghiệp đó
làm ăn thua lỗ, hoạt động không hiệu quả nh mong muốn thì tất yếu
sẽ có sự di chuyển vốn đầu t sang lĩnh vực khác có lợi hơn.
Thứ t , lợi nhuận là nguồn để doanh nghiệp có thể thực hiện nghĩa vụ
của mình đối với Nhà nớc, thông qua đó góp phần vào sự phát triển
của nền kinh tế quốc dân.
Nếu ví nền kinh tế nh một cơ thể sống thì các doanh nghiệp chính là
những tế bào. Cơ thể- nền kinh tế- muốn phát triển lành mạnh, vững
chắc, thì mỗi tế bào của nó- các doanh nghiệp- phải lớn mạnh, phải
làm ăn có lãi. Lợi nhuận mà các doanh nghiệp đạt đợc chẳng những là
cơ sở để doanh nghiệp có thể tái sản xuất mở rộng, mà còn là tiền đề
cho tăng trởng kinh tế. Bằng việc trích nộp một khoản lợi nhuận vào
ngân sách Nhà nớc dới hình thức thuế, các doanh nghiệp có thể đóng
góp một phần đáng kể cho sự phát triển của nền kinh tế quốc dân.
Nh vậy, lợi nhuận không chỉ là vấn đề sống còn đối với bản thân mỗi
doanh nghiệp, mà còn là uy tín của doanh nghiệp đối với Nhà nớc và
các đối tác, là trách nhiệm của doanh nghiệp đối với cán bộ công nhân
viên, động thời là nguồn tạo nên sức mạnh cạnh tranh của doanh
nghiệp trên thơng trờng, trớc các đối thủ. làm ăn thua lỗ, doanh
nghiệp sẽ không có điều kiện để tích luỹ, thậm chí để tái sản xuất giản
đơn, cha nói đến tái sản xuất mở rộng, ngoài ra, doanh nghiệp cũng
không làm tròn nghĩa vụ đối với Nhà nớc và các đối tác, không có điều
kiện quan tâm nhiều hơn đến đời sống vật chất cũng nh tinh thần của
ngời lao động. Do đó, đối với mỗi doanh nghiệp, không ngững nâng
cao lợi nhuận luôn luôn là điều trăn trở.
Đối với ng ời bỏ vốn đầu t .
Trớc khi bỏ vốn cho một hoạt động kinh doanh nào đó, nhà đầu t luôn
muốn biết đồng vốn mà mình bỏ ra có khả năng sinh lời hay không.
Lợi nhuận sau thuế mà doanh nghiệp có khả năng thu đợc chính là t-
ơng lai mà họ kỳ vọng. Phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu lợi nhuận
của doanh nghiệp là một căn cứ giúp nhà đầu t có thể cân nhắc để đa
ra những quyết định đúng đắn. Nếu doanh nghiệp hoạt động thua lỗ,
không đạt hiệu quả nh mong muốn thì tất yếu sẽ có sự di chuyển vốn
đầu t sang lĩnh vực khác có lợi hơn.
Đối với toàn bộ nền kinh tế.
Lợi nhuận của doanh nghiệp là nguồn thu quan trọng của ngân sách
Nhà nớc dới hình thức thuế. Nhà nớc sử dụng ngân sách nhằm thoả
mãn nhu cầu của nền kinh tế quốc dân, tăng cờng củng cố lực lợng an
ninh quốc phòng, duy trì bộ máy hành chính, cải thiện đời sống vật
chất lẫn văn hoá, tinh thần của nhân dân.
Là thớc đo đánh giá chất lợng và hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp, thế mà chỉ tiêu lợi nhuận đã không thể nói lên điều gì trong cơ
chế cũ, bởi tình trạng lãi giả lỗ thật tràn lan. Chuyển sang cơ chế thị
trờng, khi mà các doanh nghiệp phải tự bơn chải để lấy thu bù chi và
đảm bảo có lãi, lợi nhuận mới thực sự là mục tiêu sống còn, thực sự là
thớc đo quan trọng để đánh giá các mặt hoạt động của doanh nghiệp.
Phần dới đây chúng ta sẽ xem xét một số phơng hớng, biện pháp chủ
yếu làm tăng lợi nhuận cho các doanh nghiệp.
1.3/Một số phơng hớng biện pháp chủ yếu tăng lợi
nhuận cho các doanh nghiệp trong điều kiện sản
xuất kinh doanh nh hiện nay.
Nh phần trên đã trình bày, lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng có
liên quan tới nhiều khâu của quá trình sản xuất. Bất kỳ một khâu nào
trong quá trình sản xuất không hiệu quả cũng đều làm giảm lợi nhuận.
Trong tổng lợi nhuận, lợi nhuận tiêu thụ của doanh nghiệp chiếm tỷ
trọng lớn nhất. Chính vì vậy, luận văn xin giới hạn trong phạm vi lợi
nhuận tiêu thụ và các biện pháp phấn đấu tăng lợi nhuận tiêu thụ của
doanh nghiệp.
Lợi nhuận đợc xác định theo công thức:
Lnkd = Dt Ztb Tg.
Trong đó:
Lnkd: Lợi nhuận tiêu thụ sản phẩm trong kỳ.
Dt: Doanh thu tiêu thụ sản phẩm.
Ztb: Giá thành toàn bộ sản phẩm tiêu thụ.
Tg: Thuế gián thu trong kỳ.
Từ công thức trên ta thấy lợi nhuận tiêu thụ của doanh nghiệp chịu
ảnh hởng bởi doanh thu bán hàng, giá thành toàn bộ sản phẩm tiêu
thụ và thuế gián thu. Nhng cần nhận thức rõ rằng, thuế là chỉ tiêu thể
hiện nghĩa vụ bắt buộc của doanh nghiệp đối với Nhà nớc. Thuế là
nhân tố khách quan ảnh hởng nghịch chiều với lợi nhuận, doanh
nghiệp không đợc tìm cách giảm thuế, trốn thuế để tăng lợi nhuận.
Còn lại, lợi nhuận chịu ảnh hởng của nhân tố doanh thu tiêu thụ và giá
thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ. Nhng mỗi nhân tố trên lại chịu
ảnh hởng của các nhân tố khác theo những chiều hớng khác nhau. Vì
vậy, những phơng hớng chủ yếu để tăng lợi nhuận đều xoay quanh
việc nghiên cứu và tác động vào các nhân tố ảnh hởng tới lợi nhuận:
Doanh thu tiêu thụ và giá thành sản phẩm.
1.3.1/Biện pháp thứ nhất: Tăng doanh thu tiêu thụ sản phẩm
trong kỳ.
Trong điều kiện các yếu tố các không đổi, việc tăng doanh thu tiêu thụ
sẽ làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc tăng doanh
thu lại phụ thuộc vào nhiều nhân tố. Do vậy, để tăng doanh thu cần
phải tác động vào các nhân tố ảnh hởng đến doanh thu theo chiều h-
ớng tích cực.
Thứ nhất: Cần phải tăng số lợng và chất lợng của sản
phẩm sản xuất và tiêu thụ trong kỳ. Thật vậy, từ công thức xác
định lợi nhuận:
Lnkd =Sti (Gi Ztbi Tgi).
LNkd: Lợi nhuận tiêu thụ sản phẩm trong kỳ.
Sti: Khối lợng sản phẩm loại i tiêu thụ trong kỳ.
Gi: Giá bán đơn vị sản phẩm loại i.
Ztbi: Giá thành toàn bộ của sản phẩm i.
Tgi: Thuế gián thu đơn vị.
Ta thấy: nếu các nhân tố: giá bán, giá thành toàn bộ, thuế gián thu
đợc cố định thì lợi nhuận tiêu thụ trong kỳ sẽ tăng đồng hành với
sự gia tăng của khốilợng sản phẩm tiêu thụ.
Khối lợng sản phẩm tiêu thụ gia tăng trớc hết phụ thuộc vào khối lợng
và chất lợng sản phẩm sản xuất ra.
Để có thể tăng nhanh khối lợng và nâng cao chất lợng sản phẩm,
doanh nghiệp cần đầu t cho sản xuất về cả chiều rộng lẫn chiều sâu.
Đầu t chiều sâu đồng nghĩa với việc hiện đại hoá máy móc thiết bị,
mạnh dạn ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất, song song với việc
loại bỏ những máy móc đã lạc hậu, lỗi thời để các khâu của dây
chuyền sản xuất đợc đồng bộ, hoạt động ăn khớp, nhịp nhàng với
nhau. Bên cạnh đó là việc đầu t nâng cao tay nghề cho công nhân để
họ có thể làm chủ công nghệ hiện đại, vận hành có hiệu quả các dây
chuyền sản xuất mới.
Đầu t chiều sâu cũng là một giải pháp để tăng khối lợng sản phẩm sản
xuất. Doanh nghiệp có thể huy động thêm vốn để mua sắm máy móc
thiết bị, song phải đảm bảo tính đồng bộ, phải tiên tiến, có nh vậy
năng suất mới đợc nâng cao.
Ngoài ra, doanh nghiệp cần có những biện pháp tổ chức sản xuất hợp
lý và hiệu quả. Các quy trình sản xuất phải ăn khớp, nhịp nhàng, lao
động phải đợc bố trí phù hợp với kỹ năng và trình độ của họ. Các bộ
phận phục vụ sản xuất phải luôn đảm bảo cho sản xuất đợc thờng
xuyên, không bị gián đoạn vì máy hỏng, mất điện, hay vì nguyên liệu
không kịp cung cấp
Tuy nhiên, khối lợng sản xuất gia tăng không phải lúc nào cũng đồng
hành với việc gia tăng khối lợng tiêu thụ. Từ sản xuất đến tiêu thụ là cả
khoảng cách mà muốn vợt qua, các doanh nghiệp phải xây dựng đợc
một cơ cấu sản phẩm và một chiến lợc sản xuất không những cho
phép tận dụng tối đa năng lực sản xuất sẵn có, mà còn có thể đáp ứng
đợc tốt hơn nhu cầu tiêu dùng ngày một đa dạng của thị trờng.
Khối lợng tiêu thụ gia tăng còn phụ thuộc vào công tác tổ chức bán
hàng của doanh nghiệp. Sản phẩm làm ra nhiều mà tiêu thụ chậm
hoặc không tiêu thụ đợc thì vốn sẽ bị ứ đọng, quá trình sản xuất tiếp
theo sẽ không thể tiến hành. Chính vì vậy, công tác tổ chức bán hàng
đợc ví nh chiếc cầu nối giữa tiêu dùng và sản xuất.
Nếu doanh nghiệp biết kết hợp linh hoạt các hình thức bán hàng (bán
tại kho, bán đại lý, bán buôn, bán lẻ ) thì hàng hoá của doanh nghiệp
có thể len lỏi khắp mọi nơi. Nếu doanh nghiệp biết đa dạng hoá các
phơng thức bán hàng (tiền mặt, chuyển khoản, séc, ngân phiếu ) thì
đối tợng khách hàng của doanh nghiệp có thể đợc mở rộng. Nếu
doanh nghiệp tổ chức tốt các dịch vụ kèm theo (bảo hành, sửa chữa )
thì sản phẩm của doanh nghiệp càng chiếm đợc niềm tin yêu của
khách hàng.
Thứ hai, cần xây dựng kết cấu sản phẩm có lợi nhất. Ta đã
biết, kết cấu sản phẩm là một nhân tố ảnh hởng đến doanh thu theo
những chiều hớng khác nhau, nó có thể làm tăng hoặc giảm lợi nhuận
tiêu thụ. Trong thực tế, nếu doanh nghiệp thay đổi kết cấu mặt hàng
tiêu thụ theo hớng tăng tỷ trọng những mặt hàng có mức lợi nhuận
đơn vị cao, giảm tỷ trọng tiêu thụ những mặt hàng có mức lợi nhuận
đơn vị thấp sẽ làm cho doanh thu và lợi nhuận tăng lên và ngợc lại.
Tuy nhiên, về tính chất, việc điều chỉnh kết cấu mặt hàng tiêu thụ trớc
hết có thể do nhu cầu thị trờng, tức là do nhân tố khách quan tác
động, nhng để đáp những yêu cầu thờng xuyên biến động đó, bản
thân chủ quản lý doanh nghiệp lại phải đa ra các biện pháp điều chỉnh
từ khâu sản xuất đến khâu bán hàng. Việc điều chỉnh này lại mang yếu
tố chủ quan của doanh nghiệp. Nhng có thể nói, không có một ngời
quản lý doanh nghiệp nào lại thay đổi kết cấu theo hớng làm giảm lợi
ích của doanh nghiệp, do vậy, sự tác động của nhân tố này mang tính
khách quan.
Để đạt đợclợi nhuận cao, doanh nghiệp cần đầu t nghiên cứu, đa dạng
hoá chủng loại sản phẩm, nhằm cung cấp và thoả mãn tối đa nhu cầu
thị trờng, đồng thời đảm bảo kết cấu mặt hàng tối u. Điều này thể hiện
trớc hết ở việc cải tiến mẫu mã, kiểu dáng bao bì đóng gói Bên cạnh
đó, cần mở rộng danh mục sản phẩm, đặc biệt những sản phẩm đáp
ứng thị hiếu ngời tiêu dùng và có mức lợi nhuận đơn vị cao.
Thứ ba: Cần xây dựng một chính sách giá cả hợp lý. Chính
sách giá cả cũng là một nhân tố không thể không đề cập đến, nó ảnh
hởng đến doanh thu và lợi nhuận theo những chiều hớng khác nhau.
Sản phẩm sản xuất ra không những phù hợp với nhu cầu mà còn phải
phù hợp với khả năng thanh toán của khách hàng, có nh vậy mới có
thể mở rộng khả năng và thị phần tiêu thụ, từ đó mới nâng cao doanh
thu đợc. Giá cả luôn là công cụ sắc bén trong cạnh tranh, khi có sự t-
ơng đơng về chất lợng sản phẩm giữa các doanh nghiệp trên cùng một
thị trờng thì giá cả phải chăng trở thành một vũ khí cạnh tranh đắc
lực nhất trong việc đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm, đặc biệt là đối với
những vùng thị trờng mà thu nhập của đại đa số ngời dân còn cha cao.
Sản phẩm tiêu thụ đợc chứng tỏ nó đã đợc thị trờng chấp nhận cả về
giá cả và chất lợng. Sản phẩm tiêu thụ đợc ngày càng nhiều thì lợi
nhuận của doanh nghiệp càng cao.
Thứ t: Cần làm tốt công tác thanh toán. Trong nền kinh tế
toàn cầu, khách hàng của mỗi doanh nghiệp không chỉ ở một phạm vi
nhỏ, mà mở rộng đến khắp mọi miền đất nớc, toàn cầu. Do vậy, đa
dạng hoá phơng thức thanh toán sẽ là một điều kiện giúp cho doanh
nghiệp mở rộng đợc mạng lới tiêu thụ. Những phơng thức đó có thể là
thanh toán bằng tiền mặt, bằng séc, chuyển khoản, tín dụng ngân
hàng, tín dụng thơng mại, trả chậm,L/C Với mỗi hình thức thanh
toán có những u điểm riêng, cần linh hoạt áp dụng với những khách
hàng khác nhau để có hiệu quả cao nhất, và đảm bảo thuận tiện cho
khách hàng.
Cuối cùng, một biện pháp không thể không nhắc đến, đặc biệt trong
tình hình kinh doanh hiện nay, đó là việc tổ chức tốt công tác xây
dựng các chiến lợc chung, trong đó chiến lợc chung Marketing đóng
vai trò quan trọng. Doanh nghiệp cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa
các chiến lợc: chiến lợc sản phẩm, chiến lợc định giá, chiến lợc phân
phối và chiến lợc xúc tiến yểm trợ. Có thể nói, việc tăng doanh thu
của doanh nghiệp phụ thuộc vào nhiều yếu tố, cần có sự kết hợp chặt
chẽ giữa các chính sách, chiến lợc để đạt hiệu quả cao nhất

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét