Thứ Bảy, 19 tháng 4, 2014

vận dụng một số phương pháp thống kê phản ánh tình hình xuất khẩu thuỷ sản trong những năm qua 1995-2002


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "vận dụng một số phương pháp thống kê phản ánh tình hình xuất khẩu thuỷ sản trong những năm qua 1995-2002": http://123doc.vn/document/1051345-van-dung-mot-so-phuong-phap-thong-ke-phan-anh-tinh-hinh-xuat-khau-thuy-san-trong-nhung-nam-qua-1995-2002.htm


kiện phát triển hầu hết các đối tợng xuất khẩu chủ lực mà thị trờng thế giới
có nhu cầu.
Nhìn chung, có thể phát triển thuỷ sản khắp các nơi trên toàn nớc ta
nhằm phát huy tiềm năng, đặc thù và sản vật đặc sắc của mỗi vùng.Tuy
nhiên, Việt Nam có một số vùng sinh thái đất thấp, đặc biệt là đồng bằng
sông Cửu Long và châu thổ sông Hồng, nơi có thể đa nứơc mặn vào rất sâu
tạo ra một vùng nuôi nớc lợ chuyên hoặc nuôi trồng thuỷ sản kết hợp với
trồng lúa và các hợp đồng canh tác nông nghiệp khác rộng lớn gần một
triệu ha. Trong hệ sinh thái này có thể tiến hành các hợp đồng nuôi trồng
thuỷ hải sản vừa có chất lợng cao, vừa có giá thành hạ mà các hệ thống
canh tác khác không thể có những lợi thế cạnh tranh đó đựơc. Lợi thế này
đặc biệt phát huy thế mạnh trong cạnh tranh với hệ thống nuôi trồng công
nghiệp khi giá cả thuỷ sản trên thị trờng thế giới ở mức thấp, nhất là mặt
hàng tôm xuất khẩu.
Việt Nam cha phát triển nuôi trồng thuỷ sản công nghiệp nên còn
nhiều tiềm năng đất đai để phát triển nuôi, còn nhiều tiềm năng các vùng
biển để nuôi mà không ảnh hởng tới môi trờng sinh thái.Việc đa thành công
kỹ thuật nuôi hải sản trên các vùng cát ven biển đã mở ra một tiềm năng và
triển vọng mới cho việc phát triển nuôi tôm và các hải sản khác theo phơng
thức nuôi công nghiệp, nhất là đối với vùng duyên hải sản dọc theo bờ biển
miền Trung. Điều đó vừa mang ý nghĩa đẩy nhanh tốc độ phát triển nuôi
trồng thuỷ sản thâm canh, sử dụng những tài nguyên xa nay bỏ phí, vừa có
ý nghĩa thiết thực trong công cuộc xoá đói giảm nghèo đồng thời cũng là
một giải pháp hữu hiệu nhằm cải tạo và bảo vệ môi trờng vùng ven biển.
Ngời Việt Nam cũng có khả năng thích ứng nhanh với thị trờng đổi
mới.
Việt Nam có mối quan hệ truyền thống rộng và sự chú ý của thị tr-
ờng đổi mới.
Việt Nam có nhiều lao động và nguồn nhân lực còn ít đợc đào tạo, sẽ
thích hợp cho những lợi thế khởi điểm mang tính tĩnh khi dùng loại lao
động này trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thuỷ sản. Trong quá trình
phát triển sẽ nảy sinh những lợi thế so sánh động, đó là lợi thế về công
nghệ cao, lợi thế về kỹ thuật yểm trợ.
5
2. Để phát triển thuỷ sản một cách bền vững có hiệu quả cao cũng cần
phải nhận thức rõ những thách thức đang đặt ra, đó là
Quá d thừa lao động ở các vùng ven biển, nguồn nhân lực đợc đào
tạo ít cuộc sống vật chất thiếu thốn là sức ép rất lớn đối với kinh tế -xã hội
và môi trờng sinh thái của nghề khai thác hải sản.
Cơ sở hạ tầng yếu, cha đồng bộ với trình độ công nghệ lạc hậu trong
khai thác, nuôi trồng, chế biến dẫn đến năng suất và hiệu quả kinh tế thấp.
Công nghệ sản xuất thuỷ sản của Việt Nam nhìn chung còn rất lạc
hậu so với các nớc cạnh tranh.
Những đòi hỏi rất cao và càng ngày chặt chẽ về yêu cầu vệ sinh và
chất lợng thuỷ sản của các nớc nhập khẩu.
Sự hội nhập quốc tế với sự dỡ bỏ hàng rào thuế quan, sự gia tăng dần
vị thế của thuỷ sản Việt Nam trên trờng quốc tế sẽ tạo ra sự cạnh tranh
khốc liệt, với nhiều phơng thức khác nhau trên thị trờng thế giới và thị tr-
ờng Việt Nam.
Môi trờng cho phát triển thuỷ sản là môi trờng linh hoạt và nhạy
cảm. Việc phát triển khai thác nuôi trồng thuỷ sản không theo quy hoạch và
không chú ý đảm bảo các điều kiện an toàn sinh thái và an toàn vệ sinh
thực phẩm sẽ dẫn tới nhiều hậu quả rất nghiêm trọng có tính chất lâu dài về
môi trờng, xã hội, thị trờng ở nớc ta.
3. Công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá ngành thuỷ sản nớc ta trong
những năm qua
Tiềm năng kinh tế thủy sản nớc ta rất lớn, nhng để tiếp tục duy trì và
nâng cao vị trí quan trọng của nó trong nền kinh tế quốc dân, cần đẩy mạnh
công cuộc hoá hiện đại hoá. Bởi vì, ngành thuỷ sản nớc ta là một bộ có tiềm
năng và vị trí lớn trong nền kinh tế; đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá
không chỉ trang bị kĩ thuật và công nghệ tiên tiến, cải thiện đIều kiện lao
động, nâng cao năng lực cạnh tranh mà còn nhằm góp phần thực hiện công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn là một vấn đề bức xúc hiện
nay.
Trong những năm qua, trình độ khoa học của ngành thuỷ sản nớc ta
tuy có bớc phát triển nhng vẫn còn thua kém các nớc trong khu vực và trên
thế giới. Chẳng hạn, trong khai thác thuỷ sản phần lớn dùng phơng tiện
6
nhỏ, lao động thủ công, khai thác ven bờ, năng suất thấp, làm cạn kiệt tài
nguyên,việc ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại để vơn ra khai thác xa
bờ còn nhiều hạn chế. Trong nuôi trồng thuỷ sản còn mang tính tự phát
nuôi trồng theo kinh nghiệm dân gian, theo hộ gia đình qui mô nhỏ, việc
ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào nuôi trồng cha rộng rãi, năng
suất thấp, chất lợng sản phẩm nuôi cha cao. Trong chế biến thuỷ sản một
lĩnh vực đợc áp dụng nhiều tiến bộ khoa học kĩ thuật nhất, nhng vẫn sản
xuất qui mô nhỏ, phân tán, khoa học công nghệ lạc hậu và thiếu đồng bộ,
năng suất lao động thấp, chủng loại hàng hoá đơn điệu, sức cạnh tranh kém,
cha tạo đợc mối liên hoàn giữa sản xuất nguyên liệu - chế biến - tiêu thụ.
Trong dịch vụ hậu cần vẫn có những yếu tố bất cập thiếu đồng bộ. Kết cấu
hạ tầng phục vụ phát triển khai thác, nuôi trồng, chế biến thuỷ sản còn
nhiều yếu kém.
Vì vậy, tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá để làm
chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ
và quản lý từ sử dụng sức lao động thủ công sang sử dụng một cách phổ
biến sức lao động với công nghệ phơng tiện và phơng pháp tiên tiến hiện
đại, tạo ra năng suất lao động cao cho ngành thuỷ sản là một tất yếu, là một
đòi hỏi bức xúc của sự nghiệp phát triển kinh tế -xã hội đất nớc.
Những năm qua công nghiệp hoá hiện đại hoá đã có ý nghĩa quan
trọng đối với ngành thuỷ sản trên tất cả các lĩnh vực: trong chế biến thuỷ
sản, trong lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản, trong khai thác thuỷ sản, trong dịch
vụ hậu cần nghề cá .
Quá trình thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá từng bớc làm cho
lực lợng sản xuất của ngành thuỷ sản phát triển, thay đổi những công nghệ
lạc hậu thiếu đồng bộ bằng những công nghệ mới khá hiện đại; tạo ra nhiều
chủng loại hàng hoá với chất lợng và mẫu mã tốt hơn, thị trờng từng bớc đ-
ợc mở rộng; các lĩnh vực nuôi trồng khai thác và dịch vụ hậu cần nghề cá
phát triển sôi động hơn làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành thuỷ sản;
phát huy đợc thế mạnh kinh tế vùng ven biển hải đảo; hình thành một số
khu công nghiệp mới và mạng lới dịch vụ ở vùng nông thôn ven biển; thu
hút nhiều lao động của vùng này; góp phần làm tăng kim ngạch xuất khẩu,
tích luỹ vốn phát triển kinh tế, góp phần tăng thu nhập cải thiện đời sống
ng dân.
7
4. Kế hoạch phát triển của ngành thuỷ sản thời kỳ 2001 -2005
4.1 . Phơng hớng
+ Phát huy tiềm năng và thế mạnh của biển, các vùng nớc ngọt, lợ,
tiềm lực lao động khả năng hợp tác quốc tế, kết hợp liên ngành nông lâm
thuỷ lợi, du lịch để phát triển sản xuất kinh doanh thuỷ sản theo cơ chế thị
trờng, dới sự quản lí của Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa, đa thuỷ
sản thành ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nớc nhà.
+ Sắp xếp lại nghề nghiệp khai thác ven bờ, chuyển mạnh cơ cấu
sang khai thác xa bờ, xây dựng các mô hình sản xuất có tính hợp tác và
trình độ công nghệ cao đối với vùng xa bờ. Tăng cờng công tác bảo vệ
nguồn lợi thuỷ sản. Phát triển mạnh nuôi trồng thuỷ sản làm thay đổi cơ
cấu nông thôn vùng ven biển, bảo vệ môi trờng duy trì cân bằng sinh thái ở
những vùng nuôi, khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trờng nuôi, đồng thời
có biện pháp hữu hiệu phòng ngừa dịch bệnh phát sinh.
+ Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học công nghệ tạo sự chuyển biến
mạnh mẽ trong việc sử dụng và ứng dụng những thành tựu khoa học công
nghệ trong sản xuất kinh doanh và quản lí. Nâng cao hàm lợng khoa học
công nghệ trong sản phẩm cũng nh trong các quyết định quản lí, thực hiện
thành công 3 chơng trình kinh tế ngành.
+ Tập trung đầu t để xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật của ngành, u
tiên những vùng kinh tế trọng điểm các vùng miền Bắc, miền Trung và
miền Nam. Đa nhanh các công trình vào sản xuất, bảo đảm hiệu quả đầu t.
+ Tăng cờng cải cách chính mới về tổ chức bộ máy đáp ứng với các
yêu cầu hiện đại về quản lí nghề cá. Tăng cờng đầu t và đổi mới một cách
cơ bản công tác đào tạo và bồi dỡng đội ngũ cán bộ quản lí, cán bộ chuyên
môn kĩ thuật giỏi và những ngời lao động nghề cá giỏi. Đổi mới cơ chế đào
tạo, thi tuyển, bồi dỡng, sử dụng cán bộ, tích cực giản biên chế, xây dựng
đội ngũ cán bộ, công chức năng lực, hiệu quả đáp ứng yêu cầu giai đoạn
mới.
+ Bảo đảm an toàn sản xuất và tham gia tích cực công tác quốc phòng
và bảo vệ an ninh vùng biển.
4.2. Các chỉ tiêu chủ yếu.
Chỉ Tiêu Đơn vị 2001 2005
8
1. Tổng sản lợng
Trong đó:
-Đánh bắt hải sản
-NTTS và khai thác nội địa
2. Kim ngạch xuất khẩu
3. Diện tích nuôi trồng thuỷ sản
4. Tổng vốn đầu t cho phát triển:
Nguồn vốn :
-Vốn ngân sách
-Tín dụng u đãi
-Tín dụng thong mại
-Huy động
-Nớc ngoài
5. Vốn đầu t cho các chơng trình
a.Chơng trình khai thác hải sản xa bờ
b. Chơng trình phát triển NTTS
c. Chơng trình phát triển xuất khẩu TS
d. Tăng cờng năng lực quản lí và đào tạo
Triệu tấn
nt
nt
Tỷ USD
1000 ha
Tỷ đồng
nt
nt
nt
nt
nt
nt
nt
nt
nt
nt
nt
2,1
1,25
0,85
1,45
640
4105,5
739
1230
410
1313
413,5
909,9
2587
478,6
130
2,45
1,3
1,15
2,3-2,5
800
5038,4
906
1510
500
1610
512,4
633,8
3900
308,6
196
5. Nguồn nhân lực Việt Nam trong ngành thuỷ sản hiện nay
Vừa qua kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản đạt 1,475 tỷUSD cho đến ngày
31/12/2000. Đây thực sự là một mốc son lịch sử của ngành thuỷ sản; là kết quả
đờng lối đổi mới của Đảng; sự quan tâm chỉ đạo của Chính phủ; sự nỗ lực vơn
lên của toàn thể lao động nghề cá trong cả nớc và sự lãnh đạo đIều hành của
Bộ Thuỷ sản.
Để thuỷ sản thật sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nớc và giúp Việt
Nam trở thành một cờng quốc về xuất khẩu các mặt hàng thuỷ hải sản, tạo ra
nhiều công ăn việc làm thì vấn đề cơ bản là phát huy đợc lợi thế so sánh của
Việt Nam so với khu vực và trên thế giới. Việt Nam có những yếu tố thuận lợi
về sản xuất kinh doanh và xuất khẩu thuỷ sản nh nguồn lao động dồi dào,
29/61 thành phố có biển, chiều dài bờ biển 3260km và hơn 4000 hòn đảo lớn
nhỏ. Riêng về nguồn nhân lực, chúng ta hiện có một đội ngũ hùng hậu và đa
dạng. Đó là:
9
+ Về số lợng:
Tổng số lao động thuỷ sản hiện nay (theo số liệu ớc tính) là 3400000
ngời, trong đó:
Lao động khai thác hải sản: 484000 ngời.
Lao động nuôi trồng thuỷ sản: 668000 ngời.
Lao động chế biến thuỷ sản: 102000 ngời.
Lao động thơng mại, hậu cần dịch vụ, cơ khí sửa chữa 2146000 ngời.
+ Lao động thuỷ sản trong các thành phần kinh tế :
Trong quốc doanh: khoảng 5-7%
Ngoài quốc doanh trên 90%
Qua khảo sát cuối năm 2000 của Công đoàn ngành thuỷ sản cho thấy
rằng: trình độ mọi mặt của lao động thuỷ sản nhìn chung cha cao, tuy rằng tỷ
lệ lao động trẻ dới 45 tuổi là khá cao, chiếm 93%.
Sản xuất thuỷ sản chủ yếu nằm ở vùng sâu, vùng xa, hải đảo, nơi mà
cơ sở hạ tầng nh điện, đờng, trờng, trạm vừa thiếu vừa yếu, trong khi đó trình
độ dân trí thấp. Đặc điểm của lao động thuỷ sản thuộc nhóm nặng nhọc, độc
hại và nguy hiểm ngời lao động phải làm việc trong các điều kiện thiếu vệ
sinh, nhiều rủi ro nguy hiểm do quá trình sản xuất nghề cá luôn gắn với sông
nớc và bị chi phối bởi thời tiết nh giông bão, lũ lụt. Phần lớn lao động trong
các lĩnh vực sản xuất thuỷ sản vẫn là lao động thủ công, điều kiện an toàn và
vệ sinh kém. Trong nuôi trồng thuỷ sản thì ngời lao động phải tiếp xúc thờng
xuyên với môi trờng nớc, phần lớn là nớc mặn, nớc mất vệ sinh do cha đợc xử
lý, trang bị phòng hộ cá nhân còn thiếu. Trong chế biến thuỷ sản, một lĩnh vực
có trình độ công nghệ cao nhất trong ngành thì điều kiện lao động có đợc cải
thiện đáng kể trong những năm gần đây do yêu cầu của khách hàng về chất l-
ợng sản phẩm và quá trình đổi mới công nghệ chế biến xuất khâủ.
Lao động thuỷ sản mang tính thời vụ rõ rệt. Do vậy ngời lao động có
công việc thiếu ổn định, dễ mất việc. Thời gian làm việc vì thế có khi phải kéo
dài từ 12 -14 giờ trong ngày nếu vào vụ thu hoạch. Điều kiện trờng lao động
có nhiều ảnh hởng xấu đến sức khoẻ công nhân nh hơi khí độc, ẩm ớt, lạnh
nhất là ở khâu chế biến, đại đa số công nhân chỉ đủ sức làm việc ở tuổi dới 45.
+Về thu nhập và đời sống của ngời lao động:
Với thành phần kinh tế nhà nớc, bình quân thu nhập đạt 601 ngàn đồng / ngời /
tháng. Đối với khu vực ngoài quốc doanh hiện cha có số liệu đầy đủ nhng nhờ
10
tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế khá mạnh, nhờ đầu t của Chính phủ nên
trang trại nuôi thuỷ sản phát triển khá mạnh. Có những trang trại thu nhập
hàng trăm triệu đồng /ha/vụ nhất là ở các tỉnh trọng điểm thuỷ sản tại miền
Trung và đồng bằng sông Cửu Long. Nhìn chung đời sống ngời lao động thuỷ
sản đã đợc nâng lên một bớc so với trớc đây.
B. Tình hình xuất khẩu thuỷ sản nớc ta trong
những năm qua.
I. Vai trò cuả xuất khẩu đối với quá trình phát triển
kinh tế
Xuất khẩu đã đợc thừa nhận là hoạt động rất cơ bản của hoạt động kinh
tế đối ngoại, là phơng tiện thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Việc mở rộng xuất
khẩu để tăng thu nhập ngoại tệ cho tài chính và cho nhu cầu nhập khẩu cũng
nh tạo cơ sở cho phát triển các hạ tầng là một mục tiêu quan trọng nhất của
chính sách thơng mại. Nhà nớc ta đã và đang thực hiện các biện pháp thúc đẩy
các ngành kinh tế hớng theo xuất khẩu, khuyến khích khu vực t nhân mở rộng
xuất khẩu để giải quyết công ăn việc làm và tăng thu ngoại tệ cho đất nứơc. Vì
vậy, có thể nói vai trò của xuất khẩu là rấtquan trọng trong quá trình phát triển
kinh tế.
1. Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp
hoá đất nớc
Công nghiệp hoá đất nớc theo những bớc đi thích hợp là con đờng tất
yếu để khắc phục tình trạng nghèo và chậm phát triển của nớc ta. Để công
nghiệp hoá đất nớc trong một thời gian ngắn, đòi hỏi phải có một số vốn rất
lớn để nhập khẩu máy móc, thiết bị, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến.
Hiện nay, nguồn vốn để nhập khẩu có thể đợc hình thành từ các nguồn
nh: đầu t nớc ngoài, vay nợ và viện trợ Thế nhng các nguồn vốn trên đều phải
trả bằng cách này hay cách khác ở thời kỳ sau. Do đó, nguồn vốn quan trọng
nhất để nhập khẩu, công nghiệp hoá đất nớc là xuất khẩu. Thời kỳ 1986-1990
ở nớc ta nguồn thu về xuất khẩu bằng 3/4 tổng nguồn thu ngoại tệ. Và thu về
xuất khẩu năm 1994 đảm bảo đợc 80% nhập khẩu so với 24,6% năm 1986.
11
2. Xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế , thúc đẩy sản
xuất phát triển.
Cơ cấu sản xuất và tiêu dùng trên thế giới đã và đang thay đổi vô cùng
mạnh mẽ. Đó là thành quả của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại.
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá phù hợp với xu
hớng phát triển của kinh tế thế giới là tất yếu đối với nớc ta.
Hiện nay, có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản
xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Một là, xuất khẩu chỉ việc tiêu thụ những sản phẩm thừa do sản xuất vợt
quá nhu cầu nội địa. Trong trờng hợp nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát
triển nh nớc ta, sản xuất về cơ bản còn cha đủ tiêu dùng nếu chỉ thụ động chờ
ở sự thừa ra của sản xuất thì xuất khẩu vẫn cứ nhỏ bé và phát triển chậm chạp.
Do đó, sản xuất và sự thay đổi cơ cấu kinh tế cũng sẽ rất chậm chạp.
Hai là, coi thị trờng và đặc biệt thị trờng thế giới là hớng quan trọng để
tổ chức sản xuất. Quan điểm này chính là xuất phát từ nhu cầu của thị trờng
thế giới để tổ chức sản xuất. Điều đó có tác động tích cực đến chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển. Sự tác động đến sản xuất thể hiện ở
chỗ:
+ Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác có cơ hội phát triển thuận
lợi. Chẳng hạn, khi phát triển ngành thuỷ sản xuất khẩu sẽ tạo cơ hội đầy đủ
cho việc phát triển ngành sản xuất nuôi trồng thuỷ sản. Sự phát triển của ngành
công nghiệp chế biến thuỷ sản xuất khẩu có thể sẽ kéo theo sự phát triển của
ngành công nghiệp chế tạo thiết bị phục vụ cho nó.
+ Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trờng tiêu thụ góp phần cho
sản xuất phát triển và ổn định.
+ Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản
xuất , nâng cao năng lực sản xuất trong nớc.
+ Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế -kỹ thuật nhằm cải tạo và nâng
cao năng lực sản xuất trong nớc. Điều này muốn nói đến xuất khẩu là phơng
tiện quan trọng tạo ra vốn và kỹ thuật, công nghệ từ thế giới bên ngoài vào
Việt Nam, nhằm hiện đại hoá nền kinh tế của đất nớc, tạo ra một năng lực sản
xuất mới.
+ Thông qua xuất khẩu, hàng hoá của ta sẽ tham gia vào cuộc canh
tranh trên thị trờng thế giới về giá cả, chất lợng. Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi
12
chúng ta phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất luôn thích nghi
với thị trờng.
+ Xuất khẩu còn đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn
thiện công việc quản trị sản xuất kinh doanh.
3. Xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm và
cải thiện đời sống của nhân dân.
Tác động của xuất khẩu đến đời sống bao gồm rất nhiều mặt. Trớc hết
sản xuất hàng xuất khẩu là nơi thu hút hàng triệu lao động vào làm việc và có
thu nhập không thấp. Xuất khẩu còn tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm
tiêu dùng thiết yếu phục vụ đời sống và đáp ứng ngày một phong phú thêm
nhu cầu tiêu dùng của nhân dân.
4. Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối
ngoại của nớc ta.
Chúng ta thấy rõ xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại có tác động
qua phụ thuộc lẫn nhau. Xuất khẩu là một hoạt động kinh tế đối ngoại Có thể
hoạt động xuất khẩu có sớm hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác tạo điều
kiện thúc đẩy các quan hệ này phát triển. Mặt khác, chính các quan hệ kinh tế
đối ngoại nh tín dụng, đầu t lại tạo tiền đề cho mở rộng xuất khẩu.
Nh vậy có thể nói đẩy mạnh xuất khẩu đợc coi là vấn đề có ý nghĩa
chiến lợc để phát triển kinh tế và thực hiện công nghiệp hoá đất nớc thành
công.
I. Tình hình sản xuất thuỷ sản trong nớc.
1. Tình hình chung về xuất khẩu thuỷ sản.
Ngành thuỷ sản Việt Nam có nhiều tiềm năng phát triển và phát triển
mạnh từ năm 1995 trở lại đây. Nhịp độ tăng sản lợng thuỷ sản trung bình hàng
năm giai đoạn 1996-2000 là 12,3%. Năm 2000, sản lợng thuỷ sản cả nớc đạt
2,22 triệu tấn, tăng 1 triệu tấn so với năm 1995. Năm 2001, sản lợng thuỷ sản
cả nớc đạt 2,4 triệu tấn, trong đó sản lợng thuỷ sản khai thác đạt 1,74 triệu tấn,
chiếm 72,5% tổng sản lợng thuỷ sản, thuỷ sản nuôi trồng đạt 0,66 triệu tấn,
chiếm 27,5%. Tính đến năm 2002, cả nớc có 250 nhà máy chế biến thuỷ sản
với năng lực chế biến gần 250 nghìn tấn sản phẩm xuất khẩu / năm(năm 2001,
chế biến đợc 222,9 nghìn tấn). Trong đó có 68 doanh nghiệp đã đợc EU công
13
nhận vào danh sách các nứơc xuất khẩu thuỷ sản sang EU và trên 100 doanh
nghiệp áp dụng HACCP(Hệ thống phân tích tại điểm kiểm soát tơí hạn)đủ khả
năng xuất khẩu vào thị trờng Mỹ. Trình độ công nghệ chế biến thuỷ sản của
Việt Nam đợc đánh giá ở mức trung bình của thế giới .
Nhịp độ tăng trởng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam thời kỳ 1991-2000
đạt mức trung bình hàng năm 20% năm. Năm 2000 kim ngạch xuất kẩu thuỷ
sản đạt 1475 triệuUSD(tăng 6,2 lần so với năm 1990 ) và chiếm tỷ trọng
10,2% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoấ của Việt Nam. Với nhịp độ tăng tr-
ởng cao và ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu giá trị kim ngạch xuất
khẩu, thuỷ sản thực sự trở thành động lực thúc đẩy tăng trởng xuất khẩu chung
của cả nớc. Đến nay, thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam đã có mặt ở 60 nớc trên
thế giới. Trớc đây thị trờng Nhật Bản thờng chiếm 50-60% xuất khẩu thuỷ sản
của Việt Nam, đến nay chỉ còn 30%. Từ tháng 8-2001, Mỹ đã thay thế Nhật
Bản, trở thành thị trờng xuất khẩu thuỷ sản lớn nhất của Việt Nam(năm 2001,
xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang Nhật Bản đạt 471 triệuUSD, chiếm
26,2% còn xuất khẩu thuỷ sản sang Mỹ đạt 500 triệu USD chiếm 28,5% tổng
kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam ). Thị trờng Trung Quốc đang nổi
lên là một thị trờng lớn thứ ba và đầy hứa hẹn đối với xuất khẩu thuỷ sản nớc
ta . Thị trờng EU là khu vực thị trờng nhập khẩu lớn nhất thế giới hiện nay, nh-
ng lại là thị trờng khó tính nhất nên mặc dù những nỗ lực xúc tiến xuất khẩu
rất lớn từ phía nhà nớc và doanh nghiệp Việt Nam, nhng đến nay chúng ta chỉ
có 68 doanh nghiệp đủ điều kiện tơng đơng theo Đạo luật 91/493/EC của Hội
đồng EU. Vì thế xuất khẩu thuỷ ản của Việt Nam sang EU năm 1999 chỉ
chiếm 9,6% tổng kim ngạch xuất khẩu thuỷsản của nớc ta, năm 2000 giảm
xuống còn 7%, năm 2001 còn 6%. Thị trờng các nớc NICs châu á và Đông
Nam á là khu vực thị trờng có mức tiêu thụ khá lớn các chủng loại thuỷ sản
phù hợp với cơ cấu nguồn lợi thuỷ sản nớc ta. Năm 2000 các nớc và vùng lãnh
thổ NICs nh Hàn Quốc, Hồng Công, Đài Loan mỗi nơi nhập khẩu khoảng 5%
tổng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam.
Năm 2002 ngành thuỷ sản đã hoàn thành kế hoạch và vợt qua ngỡng 2tỷ
USD kim ngạch xuất khẩu trong điều kiện khan hiếm nguyên liệu, giá xuất
khẩu giảm mạnh, các thị trờng lớn gây khó khăn Năm 2003 ngành thuỷ sản
sẽ cố gắng đạt sản lợng 2,49 triệu tấn thuỷ hải sản, trong đó khai thác 1,4 triệu
tấn, nuôi trồng 1,09 triệu tấn (tăng 11,6%) trên diện tích 1 triệu ha (tăng
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét