LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "tác động của việc chấm dứt của hiệp định dệt may trong khuôn khổ wto đối với hoạt động xuất nhập khẩu của công ty tnhh thương mại quốc tế việt phượng": http://123doc.vn/document/1053351-tac-dong-cua-viec-cham-dut-cua-hiep-dinh-det-may-trong-khuon-kho-wto-doi-voi-hoat-dong-xuat-nhap-khau-cua-cong-ty-tnhh-thuong-mai-quoc-te-viet-phuong.htm
soát Hàng dệt (Textiles Surveillance Body - TSB) được thành lập để quản lý
hiệp định và giám sát sự thi hành. Các nước áp đặt hạn ngạch phải thông báo
mỗi biện pháp mới lên TSB và hàng năm báo cáo tình hình. Cơ quan TSB
cũng có nhiệm vụ giải quyết các tranh chấp, và hàng năm báo cáo hoạt động
của mình lên Ủy ban Hàng dệt (Textiles Committee) của GATT.
Vì MFA đi ngược lại hai qui tắc căn bản của GATT là trong suốt và
không phân biệt đối xử, và nằm ngoài khung pháp lý chung nên tuy được
quản lý bởi GATT, chỉ áp dụng cho các nước liên can chứ không cho toàn thể
các nước thành viên. Cũng vì yếu tố biệt lệ này mà Trung Quốc, tuy không là
thành viên, cũng tham gia, từ đầu thập niên 1980. MFA được gia hạn 4 lần,
năm 1977, 1981, 1986 và 1991, sau khi được thương thuyết lại và mỗi lần đều
kèm theo nhiều điều lệ mới. Trong những năm cuối, tham gia MFA có 8 nước
phát triển ("nước nhập khẩu") - Áo, Canada, Cộng đồng kinh tế châu Âu
EEC, Mỹ, Phần Lan, Nhật, Thụy Sĩ và Na Uy-, và 36 nước đang phát triển,
với tư cách nước xuất khẩu. Trên 8 nước nhập khẩu này, chỉ có Nhật và Thụy
Sĩ là không hề áp dụng hạn ngạch. Trong 21 năm thi hành, từ 1974 đến 1994,
MFA thật ra đã là công cụ của các nước giàu ngăn chặn nhập khẩu từ các
nước nghèo hơn là "mở rộng thương mại, giảm các hàng rào mậu dịch và dần
dần tự do hoá mậu dịch quốc tế về hàng dệt, cùng lúc điều tiết sự phát triển
của luồng thương mại này và tránh các hậu quả gây xáo trộn thị trường và
ngành sản xuất trong các nước nhập khẩu cũng như xuất khẩu", như mục tiêu
chính thức đề ra. Các hạn ngạch được thương lượng trên cơ sở song phương,
thường xuyên xem xét lại, và tỷ lệ gia tăng thường thấp hơn con số 6% qui
định trong MFA.
Do đó các nước xuất khẩu không ngừng đòi hỏi phải bãi bỏ chế độ hạn
ngạch này và cơ sở pháp lý của nó. Vấn đề dệt may là một trong những đề tài
khúc mắc của vòng thương thuyết Uruguay, và các nước nghèo cũng chỉ đồng
ý với một số nhượng bộ cho hai Hiệp ước GATS (dịch vụ) và TRIPs (sở hữu
5
tri thức) với điều kiện các nước giàu cũng phải nhượng bộ về mặt nông
nghiệp và dệt may. Một trong những thoả nhượng này là tuy không chấm dứt
ngay năm 1994, chế độ MFA phải được thay thế bằng một cơ chế ràng buộc
tất cả mọi thành viên như các qui chế khác của WTO và chuẩn bị cho việc sát
nhập ngành dệt may vào khung pháp lý chung của WTO. Cơ chế này, tức
Hiệp ước ATC, chỉ là công cụ cho một giai đoạn chuyển tiếp và không thể
được dùng để kéo dài một tình trạng ngoại lệ đã quá lâu. Do đó điều lệ 9 của
ATC khẳng định là Hiệp ước sẽ chấm dứt "ngày đầu tiên của tháng thứ 121
sau khi Hiệp ước WTO ban hành, khi ấy ngành dệt may sẽ hoàn toàn sáp nhập
vào Hiệp ước GATT 1994", tức là ngày 1.1.2005. Và nhất là Hiệp ước sẽ
không được gia hạn ("There shall be no extension of this Agreement").
2.2.Hiệp ước ATC
Hiệp ước ATC có những điểm chính sau đây:
a) phạm vi rộng vì bao gồm sợi, vải, thành phẩm (made-up articles) và
quần áo, tức là hầu hết ngành may dệt, chỉ loại trừ các nguyên liệu thô,
b) một lịch trình sát nhập dần dần những mặt hàng ấy vào khuôn khổ các
điều lệ của Hiệp ước GATT 1994, và song song,
c) một lịch trình tự do hoá qua đó các hạn ngạch được gia tăng theo từng
giai đoạn cho đến khi được bãi bỏ,
d) một cơ cấu phòng chống tạm thời đặc định (specific transitional
safeguard) cho trường hợp các ngành sản xuất nội địa có thể bị tổn hại trong
thời gian quá độ.
e) một Cơ quan Giám sát Hàng dệt (Textiles MonitoringBody -TMB)
được thành lập để đảm bảo là mọi qui định được tuân thủ.TMB có nhiệm vụ
báo cáo hoạt đồng và tiến triển của các lịch trình lên Hội đồng mậu dịch hàng
hoá (Council for Trade in Goods -CTG), là bộ phận của WTO kiểm soát sự
thi hành Hiệp ước ATC. Khác với thời MFA, các tranh chấp không thuộc
thẩm quyền của TMB mà phải đưa lên Cơ quan Giải quyết Tranh chấp
(Dispute Settlement Body - DSB).
6
Tuy WTO đã có một hiệp ước riêng cho các biện pháp phòng chống
(Agreement on Safeguards - SG) nhưng Hiệp ước ATC vẫn dành một điều
khoản (điều lệ 6) cho phép các nước nhập khẩu dùng đến biện pháp này theo
điều kiện khác, ngoại lệ so với Hiệp ước SG: trong khi SG qui định là các
biện pháp phòng chống phải áp dụng cho tất cả mọi nguồn, theo nguyên tắc
không phân biệt đối xử, ATC cho phép nước nhập khẩu áp dụng một biện
pháp "đặc định", tức là chỉ nhắm một đối tượng, nếu xác định được là đối
tượng ấy đã gây ra tổn hại cho mình tuy rằng sự gia tăng nhập khẩu là từ mọi
nguồn. Lý do là vì ATC không cho phép áp đặt hạn ngạch mới, nên các nước
ngày trước không tham gia MFA (phi hạn ngạch) vẫn phải có cách tự vệ. Cơ
cấu phòng chống ATC vận hành như sau: nước nhập khẩu, khi thấy cần bảo
vệ thị trường của mình, yêu cầu nước xuất khẩu hội ý với mình. Hai bên có
thể thoả thuận một biện pháp giới hạn nhập khẩu. Thoả thuận này cũng như
yêu cầu hội ý đều phải được thông báo lên TMB. Nếu không đi đến thoả
thuận, nước nhập khẩu có thể trình lên TMB một đề nghị giới hạn đơn
phương. TMB có 30 ngày để điều tra và đưa ra khuyến cáo. Nếu hai bên vẫn
không đồng ý thì có thể kiện nhau trước DSB. Vì mọi giai đoạn đều đặt dưới
sự giám sát của TMB, một cơ quan đa phương, nên cơ cấu này, tuy hãy còn vi
phạm nguyên tắc không phân biệt đối xử, ít ra cũng trong suốt hơn các hạn
ngạch song phương, chỉ có hai nước liên can là biết với nhau. Mặt khác, để
tránh việc nước nhập khẩu lạm dụng và biến phòng chống thành một thứ hạn
ngạch "chui", các biện pháp này cũng "tạm thời" tức là chỉ có thể áp dụng
trong 3 năm, không gia hạn. ATC dùng chữ "transitional" thay vì
"temporary" cũng để nhắc lại yếu tố quá độ của cả Hiệp ước.
Từ 1995 đến 2001, có 53 biện pháp phòng chống thông báo lên TMB,
trong đó một nửa (26) là do Mỹ, phần còn lại do các nước châu Mỹ la tinh.
Điều đáng nói là trong năm đầu, 1995, đã có 23 biện pháp, toàn bộ là của Mỹ,
khiến ai cũng phải hoảng hốt, từ các nước xuất khẩu đến các nhà quan sát và
cả TMB. Nhưng sau đó thì ngoài 3 trường hợp của Mỹ và 1 của Ba Lan (năm
7
2001), chỉ có 4 nước châu Mỹ la tinh dùng đến điều lệ 6: Argentina, Brazil,
Ecuador, và Colombia. Cả 4 nước này đều là thành viên của tổ chức
International Textile and Clothing Bureau (ITBC) tại Genève. Tổ chức ITBC
cũng hoạt động tích cực trong ngành dệt may.
Sát nhập vào khuôn khổ GATT hay vào khung pháp lý của WTO chỉ có
nghĩa đơn giản là bãi bỏ hạn ngạch, để hàng may dệt không còn là biệt lệ
trong luật WTO. Lịch trình sát nhập được ấn định như sau:
Bảng 1 - Lịch trình sát nhập vào GATT 1994
Giai đoạn Kỳ hạn
Tỷ lệ sát nhập tối thiểu
(tính trên khối lượng
nhập năm 1990)
Giai đoạn 1 1.1.1995 16% (còn lại 84%)
Giai đoạn 2 1.1.1998 17% (còn lại 67%)
Giai đoạn 3 1.1.2002 18% (còn lại 49%)
Giai đoạn 4 1.1.2005 100%
Nguồn: Văn phòng WTO
Đây là đầu mối của nhiều tranh cãi. Trước hết, nhiều nước nhập khẩu thi
hành chậm hơn qui định: chẳng hạn Ấn Độ than phiền là cho đến tháng 6 năm
2004, khi giai đoạn 4 sắp chấm dứt, Mỹ mới chỉ bãi bỏ 103 hạn ngạch trên
tổng số 937, tức là còn lại những 89% ! Sau đó, ngay cả cấu trúc của lịch trình
cũng gây vấn đề. Đầu tiên, tỷ lệ sát nhập tính trên khối lượng chứ không phải
trị giá nên trong hai giai đoạn đầu, các mặt hàng được chọn để đưa vào khung
pháp lý đa số là những hàng rẻ, những hàng cao cấp hơn vẫn bị giới hạn.
Ngoài ra, vì những tỷ lệ của 3 giai đoạn đầu tương đối thấp, số còn lại dồn
cho giai đoạn chót lên tới 49%, có nghĩa là ngay cả khi các nước chấp hành
nghiêm chỉnh, cũng vẫn còn gần một nửa công cuộc tự do hoá sẽ xảy ra cùng
một lúc vào ngày 1.1.2005. Không khác gì một thứ "big bang"! Hơn nữa, vì
các nước nhập khẩu có toàn quyền chọn các mặt hàng cho 3 giai đoạn sát
nhập đầu tiên, đại đa số 49% (hoặc hơn!) này là những hàng "mẫn cảm" nhất
về mặt chính trị.
8
Tự do hoá có nghĩa là các hạn ngạch còn tồn tại sẽ phải được gia tăng
mỗi năm, như thời MFA. Tuy nhiên, thay vì cố định như tỷ lệ MFA, tỷ lệ
ATC cũng tăng dần với thời gian, cho đến kỳ hạn cuối cùng, theo lịch trình
sau đây:
Bảng 2 - Lịch trình tự do hoá hạn ngạch
Năm Tỷ lệ gia tăng Khối lượng (đơn vị)
1994 6% (như theo qui định
của MFA)
Thí dụ: 1000 đơn vị
1995
1996
1997
(6% x 1,16)
6,96%
6,96%
6,96%
1 070
1 144
1 224
1998
1999
2000
2001
(6,96% x 1,25)
8,70%
8,70%
8,70%
8,70%
1 330
1 446
1 572
1 709
2002
2003
2004
(8,70% x 1,27)
11,05%
11,05%
11,05%
1 898
2 108
2 340
Nguồn: Văn phòng WTO
Như thế, một hạn ngạch nếu được nâng cao đúng theo qui định của
MFA, tức 6% một năm, sẽ tăng 79% sau 10 năm, nhưng nếu theo các tỷ lệ
của ATC, thì tăng 134% tức là hơn gấp đôi.
Tuy nhiên đây là trường hợp lý tưởng vì trong thực tế, đa số các tỷ lệ gia
tăng ấn định trong các thoả thuận song phương thấp hơn, thường chỉ từ 3% đến
9
6%, nên ngay cả khi nước nhập khẩu chấp hành nghiêm chỉnh lịch trình trên, hạn
ngạch cũng chỉ tăng lên có chừng mực thôi. Mặt khác các nước xuất khẩu cũng
than phiền là các hạn ngạch có tỷ lệ cao nhất, tức là sẽ được tự do hoá nhiều nhất,
cũng ít được dùng đến nhất vì gồm những mặt hàng ít có lợi cho họ.
Ngoài những buổi họp thường lệ, TMB cũng tổng kết và đánh giá tình
hình sau mỗi giai đoạn của các lịch trình. Vì việc thực thi các hiệp ước của
vòng Uruguay, trong đó có Hiệp ước ATC, là một trong những mối bất đồng
giữa các thành viên, nên Hội nghị Bộ trưởng của WTO tại Doha năm 2001
cũng thông qua một quyết định về vấn đề này, trong đó đưa ra hai đề nghị cho
ngành dệt may để mở rộng thị trường bằng cách tính các tỷ lệ gia tăng hạn
ngạch theo phương pháp khác. Hội đồng CTG có nhiệm vụ bàn bạc và trình
kết luận lên Tổng Hội đồng (General Council), cơ quan tối cao của WTO,
trước cuối tháng 7 năm 2002. Tuy thế các nước thành viên vẫn không đi đến
đồng thuận trong năm 2003 và các cuộc họp vẫn tiếp tục trong năm nay.
Chỉ còn vài tháng nữa là Hiệp ước ATC sẽ chấm dứt, cùng lúc cáo chung
một biệt lệ kéo dài từ năm 1960 cho đến nay. Song, càng gần đến kỳ hạn này,
càng có nhiều tiếng kêu bi thương, cảnh báo là sẽ có khủng hoảng trầm trọng
trong nhiều nước sau khi các hạn ngạch được bãi bỏ. Tháng 6.2004, khoảng
90 công ty và hiệp hội dệt may của 49 nước, cả nhập khẩu lẫn xuất khẩu, sau
khi họp một hội nghị thượng đỉnh về công bình trong mậu dịch dệt may
("Summit on Fair Trade in Textiles and Clothing") tại Bruxelles (Bỉ), viết thư
cho ông Supachai Panitchakdi, Tổng Giám Đốc WTO, yêu cầu gia hạn Hiệp
ước ATC thêm 3 năm, cho đến 31.12.2007, vì họ sẽ không thể cạnh tranh nổi
với các nước như Ấn Độ và Trung Quốc khi thị trường hoàn toàn mở cửa.
Theo họ, có nguy cơ 30 triệu người sẽ mất việc trên thế giới và thậm chí một
số nước sẽ bị phá sản. Họ cũng yêu cầu WTO mở một cuộc họp khẩn cấp, trễ
nhất là ngày 1.7.2004, để xem xét các vấn đề họ nêu lên trong một tài liệu gửi
kèm, gọi là " Tuyên Ngôn Istanbul". Cùng lúc, các lobbies Mỹ vận động được
117 đại biểu và thượng nghị sĩ Mỹ (trong đó có John Kerry, ứng cử viên tổng
10
thống) yêu cầu tổng thống Bush can thiệp cho cùng mục đích. Các nhà sản
xuất nội địa các nước nhập khẩu lo lắng đã đành, điều đáng ngạc nhiên là liên
minh với họ lại là một số nước xuất khẩu, phản đối một điều mà chính phía
bên họ đòi hỏi từ hơn 40 năm nay.
II. Tình hình xuất khẩu dệt may của Việt Nam trong thời gian qua.
1. Kim ngạch xuất khẩu.
Dệt may là một trong những ngành xuất khẩu chủ lực của nước ta trong
những năm gần đây, đóng góp quan trọng cho quá trình công nghiệp hóa hiện
đại hóa đất nước. Chỉ trong một thời gian ngắn, dệt may Việt Nam đã vươn
lên trở thành nghành công nghiệp lớn đứng thứ 2 đất nước. Trong mấy năm
gần đây kim ngạch xuất khẩu dệt may luôn dẫn đầu nhóm các mặt hàng xuất
khẩu chủ lực của ta (trừ dầu thô) với tốc độ tăng trưởng luôn đạt ít nhất là
10%. Tuy nhiên sau sự kiện hiệp định dệt may trong khuôn khổ WTO kết
thúc, ngành dệt may của Việt Nam đã có những biến động nhất định
Bảng3: Kim ngạch xuất khẩu dệt may
Đơn vị tính: Triệu USD
Năm Kim ngạch xuất khẩu Tỷ lệ tăng trưởng (%)
2000 1.892
2001 1.972 4,23
2002 2.752 39.55
2003 3.678 36,65
2004 4.3 16,19
2005 4.82 10,17
Quý I/2006 1.36 Tăng 40% so với cùng kì năm ngoái.
Nguồn: Tổng cục thống kê
Nhìn vào bảng trên ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng: Ngành dệt may của
Việt Nam có tốc độ tăng trưởng rất lớn tuy nhiên lại không hề ổn định và
chứa nhiều bấp bênh. Năm 2002, 2003, 2004 là những năm mà dệt may Việt
Nam đã thu được những thành tựu lớn lao, kim ngạch xuất khẩu đã không
những hoàn thành chỉ tiêu mà còn vượt mức kế hoạch đặt ra sở dĩ đạt được
tốc độ tăng trưởng trên là do ngành dệt may Việt Nam có một số lợi thế như
11
nguồn lao động dồi dào, khéo tay, chi phí lao động không cao, các doanh
nghiệp Việt Nam đã xây dựng và giữ được chữ tín trong kinh doanh với nhiều
nhà nhập khẩu lớn trên thế giới. Tuy nhiên đến năm 2005 tuy vẫn đạt tỷ lệ
tăng trưởng trên 10% nhưng đây vẫn là con số không mấy khả quan đối với
ngành dệt may Việt Nam. Nguyên nhân đó là từ 1/1/2005 các nước thành viên
của tổ chức thương mại thế giới (WTO) bãi bỏ hạn ngạch xuất khẩu dệt may
cho nhau, thì ngành dệt may Việt Nam lại vẫn chịu sức ép của hạn ngạch do
chưa phải là thành viên của WTO. Đặc biệt là trên thị trường Mỹ, thị trường
xuất khẩu chính của Việt Nam. Tuy nhiên đó không phải lí do chính ví dụ như
trên thị trường EU mặc dù EU không áp dụng hạn ngạch đối với Việt Nam
nhưng kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này vẫn không những không tăng
mà còn có sự sụt giảm. Giải thích cho lí do này nhiều chuyên gia cho rằng
ngành dệt may Việt Nam rất có ít lợi thế cho sự phát triển bền vững, đặc biệt
là các ngành công nghiệp phụ trợ chưa phát triển tương xứng. Điều đó góp
phần lý giải tại sao các doanh nghiệp Việt Nam vẫn phải chấp nhận gia công
xuất khẩu là chính (chiếm tới 70-80% kim ngạch), hình thức thương mại bán
sản phẩm chiếm tỷ trọng rất khiêm tốn.
Mặt khác, xu thế toàn cầu hóa thương mại cùng với sự phát triển mạnh
mẽ cảu khoa học công nghệ đang đặt ngành dệt may Việt Nam trước những
áp lực và thách thức to lớn. Dù Việt Nam trở thành thành viên tổ chức WTO,
trong những năm tới ngành dệt may vẫn chưa thể phát triển nhanh và cạnh
tranh được với nhiều nước xuất khẩu khác nếu như các doanh nghiệp chưa
thực sự đổi mới mạnh mẽ trong cung cách tổ chức sản xuất kinh doanh của
mình.
2. Thị trường xuất khẩu.
Cho đến đầu những thập niên, ngành dệt may của ta chủ yếu vẫn xuất khẩu
sang hai thị trường chính là Liên Xô và Đông Âu. Khi khối xã hội chủ nghĩa
Đông Âu sụp đổ vào năm 1990 đã gây rất nhiều khó khăn cho tất cả các mặt hàng
xuất khẩu của Việt Nam trong đó có ngành dệt may. Vấn đề đặt ra lúc bấy giờ là
12
tìm kiếm thị trường thay thế cho ngành dệt may Việt Nam. Sự chuyển hướng này
đến cùng một lúc với một số cải cách kinh tế trong khuôn khổ chính sách đổi mới
kinh tế áp dụng từ năm 1986 đã tạo điều kiện tốt cho dệt may Việt Nam dần dần
hội nhập vào thị trường thế giới. Từ năm 1992 đến năm 2000, Việt Nam đã có
những hiệp định dệt may quan trọng với hai thị trường lớn đó là EU và Mỹ.
Tháng 12/1992 Việt Nam ký với liên hiệp Châu Âu một hiệp định thương mại có
hiệu lực từ năm 1993, ấn định một số hạn ngạch cho xuất khẩu quần áo. Hiệp định
này được sửa 3 lần sau đó, lần sửa cuối cùng là vào tháng 4/2004 và áp dụng đến
cuối năm 2005. Năm 2000, Việt Nam ký với Mỹ hiệp định thương mại song
phương, gọi tắt là USBTA. Theo hiệp định này, ngành dệt may được đăc biệt lợi:
bình quân thuế suất giảm từ 60% xuống 5%. Do đó kim ngạch xuất khẩu Việt
Nam liên tục tăng và trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong
những năm gần đây.
Bảng 4:Một số thị trường chính của Việt Nam
Đơn vị: Triệu USD
Năm 200
0
2001 2002 2003 2004 2005
Mỹ 49 981 2,430 2,630
EU 845 875
Nhật Bản 521 605
Các thị trường khác
Nguồn: Tổng cục thống kê
Nhìn vào số liệu từ bảng trên ta thấy kim ngạch xuất khẩu sang các thị
trường chính của Việt Nam ngày càng tăng mạnh. Tại Thị trường Mỹ, từ năm
2001, hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ đã mở cửa thị trường Mỹ
cho hàng dệt may Việt Nam, đồng thời kích thích thêm lượng tiêu thụ mặt
hàng này, và đã trở thành thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam trong thời
gian gần đây (luôn chiếm từ 50-60% trong tổng số kim ngạch xuất khẩu của
Việt Nam). Theo số liệu thống kê của Hoa Kỳ, năm 2001 kim ngạch xuất
khẩu hàng dệt may của Việt Nam vào thị trường Mỹ mới chỉ đứng ở vị trí 70
trong tổng số gần 200 nước xuất khẩu mặt hàng này vào thị trường Mỹ, thì
13
đến năm 2002 đã vượt lên xếp thứ 23, năm 2003 bứt phá mạnh hơn, xếp thứ 8
và đến năm 2004, xếp vị trí ở vị trí thứ 6 vượt 64 bậc sau 3 năm. Theo sự
đánh giá của các chuyên gia người Mỹ chỉ có hàng Việt Nam mới có khả
năng cạnh tranh được với hàng của Trung Quốc tại thị trường này. Nhiều mặt
hàng của Việt Nam tại thị trường Mỹ còn thuộc loại cao nhất trong số các
nước xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường này. Cụ thể năm 2001 đơn giá
xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam bình quân là 1,51 USD/m2 sản phẩm.
Đến năm 2004 tăng lên 3,14 USD/m2 sản phẩm. Trong khi hàng Trung Quốc
từ 2,96 USD/m2, tụt xuống còn 1,25 USD/m2.
Tại thị trường EU, mặc dù chính phủ hai nước đã xúc tiến những cơ hội
nhằm tăng sản lượng xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường này nhưng kim
ngạch xuất khẩu sang thị trường này vẫn còn rất kém. Tại thị trường EU, dệt
may Việt Nam đang đứng ở vị trí thứ 14. Việt Nam vẫn chưa chú trọng đến
thị trường đầy tiềm năng này do đó chưa có sự đầu tư thích đáng.
Tại thị trường Nhật, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam cũng không cao
mặc dù Nhật Bản là thị trường đối xử bình đẳng đối với hàng hóa các nước,
từ lâu đã không áp dụng hạn ngạch với hàng dệt may.
Biểu đồ1: Thị phần khách hàng của Việt Nam
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét