Thứ Bảy, 19 tháng 4, 2014

thực trạng tự đánh giá năng lực giảng dạy của giáo viên cơ sở ii trường đại học lao động – xã hội thành phố hồ chí minh


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "thực trạng tự đánh giá năng lực giảng dạy của giáo viên cơ sở ii trường đại học lao động – xã hội thành phố hồ chí minh": http://123doc.vn/document/1050885-thuc-trang-tu-danh-gia-nang-luc-giang-day-cua-giao-vien-co-so-ii-truong-dai-hoc-lao-dong-xa-hoi-thanh-pho-ho-chi-minh.htm



trung học các chuyên ngành: Quản trị nhân lực, Lao động - Xã hội, Kế toán. Bên cạnh đó,
Trường còn cộng tác với cơ sở I Trường Đại học Lao động - Xã hội Hà Nội để đào tạo sinh
viên có trình độ cao đẳng về Quản lý lao động và Công tác xã hội. Trong năm học 2007 -
2008 Trường dự kiến xét tuyển 100 chỉ tiêu đại học, 200 chỉ tiêu cao đẳng và khoảng 1000
chỉ tiêu trung học. Do vậy việc tìm hiểu năng lực gi
ảng dạy của đội ngũ giáo viên của
Trường, để đưa ra những biện pháp nâng cao năng lực giảng dạy cho đội ngũ giáo viên, đáp
ứng nhu cầu phát triển của Trường là vấn đề cấp thiết hiện nay.
Từ những lý do nêu trên, việc tiến hành thực hiện nghiên cứu đề tài : “Thực trạng tự
đánh giá năng lực giảng dạy của giáo viên cơ sở II Trường Đại h
ọc Lao động – Xã hội
TP.Hồ Chí Minh” là hết sức cần thiết và cấp bách.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và điều tra thực tiễn, đề tài tiến hành tìm hiểu thực trạng
tự đánh giá NLGD của giáo viên cơ sở II Trường ĐHLĐXH TPHCM. Từ đó đưa ra những
biện pháp nhằm nâng cao NLGD của giáo viên cơ sở II Trường ĐHLĐXH TPHCM để đáp
ứng với sự phát triển của Trường hiện nay.
3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về NLGD của người giáo viên, ý thức, tự ý thức,
đánh giá, tự đánh giá, tự đánh giá của giáo viên.
- Khảo sát thực trạng tự đánh giá NLGD của giáo viên cơ sở II Trường ĐHLĐXH
TPHCM
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao NLGD của giáo viên cơ sở II Tr
ường
ĐHLĐXH TPHCM
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Tự đánh giá NLGD của giáo viên cơ sở II Trường ĐHLĐXH TPHCM
4.2. Khách thể nghiên cứu
Cán bộ quản lý: Các Phó giám đốc, Trưởng Phó phòng ban, Trưởng Phó khoa, Ban
thanh tra giáo dục .Tất cả giáo viên (60 giáo viên) cơ sở II Trường ĐHLĐXH TPHCM.
5. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
- Đa số giáo viên cơ sở II Trường ĐHLĐXH TPHCM tự đánh giá
ở mức khá về NLGD.
- Có sự khác biệt về sự tự đánh giá NLGD giữa các nhóm khách thể nghiên cứu theo giới
tính, trình độ đào tạo, chuyên ngành được đào tạo và thâm niên công tác.

- Có sự tương quan có ý nghĩa giữa các kết quả tự đánh giá từng mặt năng lực trong
NLGD và sự tương quan giữa từng mặt năng lực với NLGD nói chung của giáo viên cơ sở
II Trường ĐHLĐXH TPHCM.
6. GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Nội dung nghiên cứu
Chỉ tập trung tìm hiểu về thực trạng tự đánh giá NLGD: Năng lực hiểu học sinh trong
quá trình giảng dạy, tri th
ức và tầm hiểu biết, năng lực chế biến tài liệu học tập, nắm vững
kỹ thuật giảng dạy và năng lực ngôn ngữ của giáo viên cơ sở II Trường ĐHLĐXH TPHCM.
Khách thể nghiên cứu
Cán bộ quản lý: Các Phó giám đốc, Trưởng Phó phòng ban, Ban thanh tra giáo dục .Tất
cả giáo viên (60 giáo viên) cơ sở II Trường ĐHLĐXH TPHCM .
7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Ph
ương pháp chủ yếu để nghiên cứu lý luận là phương pháp nghiên cứu tài liệu.
Phương pháp này diễn ra theo giai đoạn như phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và khái quát
hóa những lý thuyết, cũng như những nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước trên
cơ sở các công trình đã được đăng tải trên các sách báo, các đề cương bài giảng về các vấn
đề liên quan đến đề tài.
7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra b
ằng anket
Sử dụng hệ thống bảng câu hỏi đối với giáo viên nhằm thu thập số liệu, đánh giá thực
trạng tự đánh năng lực giảng dạy của giáo viên cơ sở II Trường Đại học Lao động - Xã hội.
Ankét được xây dựng trên cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu và trên cơ sở phiếu thăm
dò ý kiến được phát ra để điều tra th
ử trên diện hẹp (20 giáo viên), từ đó đưa ra những chỉnh
lý, sửa đổi, bổ sung nhằm đảm bảo tính phù hợp, độ tin cậy của bộ công cụ để tiến hành
điều tra trên diện rộng. Anket tập trung vào các nội dung cần tìm hiểu sau:
Tự đánh giá các lí do chọn nghề dạy học của giáo viên cơ sở II Trường ĐHLĐXH TP.
HCM.
Tự đánh giá về NLGD của giáo viên cơ sở II Trường ĐHLĐXH TP. HCM.
Có 5 bậc điểm được quy ước như sau

5
M
là mức độ rất tốt (ứng với 5 điểm)

4
M
là mức độ tốt (ứng với 4 điểm)

3
M
là mức độ khá (ứng với 3 điểm)

2
M
là mức độ trung bình (ứng với 2 điểm)

1
M
là mức độ dưới trung bình (ứng với 1 điểm)

Tự đánh giá cơ sở đem lại năng lực giảng dạy của giáo viên cơ sở II Trường ĐHLĐXH
TP. HCM.
7.2.2 Phương pháp phỏng vấn, trò chuyện
Phỏng vấn các Phó giám đốc, Trưởng Phó phòng ban, Trưởng Phó khoa, Ban thanh tra
giáo dục để nắm bắt thêm tình hình thực tế NLGD của giáo viên, nguyên nhân dẫn đến thực
trạng đó và các biện pháp nhằm nâng cao NLGD của giáo viên cơ sở II Trường ĐHLĐXH
TP. HCM.
Tham khảo ý ki
ến các chuyên gia với mục đích tìm các kết luận thoả đáng trong việc
đánh giá thực trạng tự đánh giá NLGD của giáo viên và đề xuất các biện pháp nâng cao
NLGD của giáo viên.
7.2.3 Phương pháp quan sát
Dự giờ các giáo viên, mỗi giáo viên dự 2 tiết nhằm thu thập những thông tin cần thiết
bổ sung cho việc thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
7.2.4 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
Nghiên cứu bài giảng, giáo án của một số giáo viên cơ sở II Trường ĐHLĐXH TPHCM
để tìm hiểu năng lực giảng dạy của giáo viên.
7.2.5Phương pháp thực nghiệm
Thử nghiệm biệ
n pháp nâng cao năng lực chế biến tài liệu giảng dạy.
7.3 Phương pháp sử dụng toán thống kê
Dùng phương pháp toán thống kê để xử lý số liệu điều tra, phân tích kết quả nghiên cứu,
định lượng chính xác cho từng nội dung nâng cao tính thuyết phục của các số liệu được nêu
ra trong luận văn. Trong luận văn này các phép toán sau được sử dụng:
- Tính trung bình cộng, độ lệch tiêu chuẩn: Giá trị trung bình và độ lệch tiêu chuẩn được
sử dụng và thể hiện trong hầu hết các bảng số liệu dùng để tính toán và mô tả thực trạng tự
đánh giá NLGD của giáo viên cơ sở II Trường ĐHLĐXH TPHCM
- Hệ số tương quan Pearson: Trong nghiên cứu này, hệ số tương quan Pearson đã được
dùng để phản ánh tương quan giữa các kết quả tự đánh giá NLGD và từng mặt năng lực cụ
thể cấu thành nên NLGD và tương quan giữa các mặt nă
ng lực trong NLGD của giáo viên
cơ sở II Trường ĐHLĐXH TPHCM.
- Kiểm nghiệm giả thuyết: Để kiểm chứng giả thuyết về tác động của giới tính, trình độ
được đào tạo, thâm niên giảng dạy, chuyên ngành giảng dạy đối với NLGD của giáo viên cơ
sở II Trường ĐHLĐXH TPHCM, phương pháp kiểm nghiệm F đã được áp dụng.



Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 SƠ LƯỢC LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Giáo dục là vấn đề liên quan đến sự phát triển của xã hội. Muốn có một nền giáo dục
toàn diện thì phải có những nhà giáo dục với những phẩm chất và năng lực cần thiết. Do vậy
vấn đề năng lực giảng dạy nói riêng và nhân cách của người giáo viên nói chung trở thành
vấn đề quan trọng của mọi thời đại, m
ọi quốc gia, được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm
hiểu. Các tác giả nghiên cứu vấn đề này dưới nhiều hình thức, nhiều khía cạnh đa dạng,
phong phú, song tựu chung lại là nghiên cứu vấn đề ở hai mặt lý luận và thực tiễn.
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề lý luận về nhân cách người thầy giáo
Từ khi con người xuất hiện trên trái đất, do nhu cầu truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm
xã hội l
ịch sử mà giáo dục xuất hiện. Từ đó vấn đề về phẩm chất, năng lực của người thầy
giáo cũng được con người đặc biệt quan tâm. Những tư tưởng đề cập tới phẩm chất và năng
lực của người thầy giáo cụ thể là:
Socrate là một tấm gương sáng về nghề dạy học, từng nói về chức năng nhiệ
m vụ của
người thầy : “ Nhà giáo phải giúp phá vỡ lớp hiểu biết giả tạo nơi học trò, phải làm cho học
trò của mình ý thức về sự giốt nát của họ, để cho chân lý có thể chói sáng trong tâm trí ho”.
[23, tr.15] Để làm được như vậy, người thầy giáo theo Socrate phải có đức hạnh cao cả, đó
là tình yêu chân lý và sự can đảm nói lên chân lý ấy.
Khổng Tử – người đại diện cho nền giáo dục phong kiến Trung Hoa, khi
đó vai trò của
nhà giáo dục được đánh giá rất cao. Những cấp bậc quan trọng trong xã hội đó là: quân, sư,
phụ (vua – thầy rồi mới đến cha). Do đó nhân cách của người thầy cũng được yêu cầu cao.
Khổng Tử đã đề cập tới nhân cách của thầy giáo bằng một chữ “đức” – thầy giáo phải luôn
trau dồi đạo đức để luôn là tấm gương sáng cho học trò noi theo . Muố
n vậy thì thầy phải
“dạy không biết mệt mỏi”để trò “học không biết chán” và tình cảm thầy trò như tình cha
con [34, 63 ].
J.A Cômenxki đã đánh giá rất cao vai trò của giáo dục và của người thầy giáo. Ông coi
nghề dạy học là nghề vinh quang nhất nhưng cũng đặt ra cho người thầy giáo những yêu cầu
rất cao về lòng nhân ái: “Không thể trở thành một người thầy nếu không là một người
cha”.[34, tr. 88 ]
Cùng với Comenxki là John Locke
– một nhà giáo dục tư sản nổi tiếng người Anh. Ông
đã nêu lên khẩu hiệu : “Giáo viên cần phải dịu dàng, ôn hoà và tin tưởng nơi học sinh” . “
Cần phải giúp chúng, giơ tay cho chúng nắm để dẫn chúng đi một cách nhẹ nhàng, trong
khi chờ đợi chúng đủ sức để đi một mình”[23, 45 ] J.J. Rousseu, nhà giáo dục người

Pháp, xuất phát điểm cho công tác giáo dục của ông là “ giáo dục tự nhiên, tự do”. Từ kinh
nghiệm bản thân, ông đã đúc kết một trong những phẩm chất quan trọng nhất giúp người
giáo viên thành công trong công tác giáo dục, đó là kiên trì và bình tĩnh .
Ở phương tây cũng đã ghi nhận một số tác phẩm của Xinét (Mi), Bukere (Anh), Tomadi
(Italia), đặc biệt là các tác phẩm của Raisơ (Mĩ) đã phản ánh một số kết quả nghiên cứu đặc
điểm nhân cách của giáo viên ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách của học sinh . Bên
cạnh đó có một số tác phẩm viết dưới dạng kinh nghiệm trong giảng dạy như tác phẩm của
Ghbert Highet trong cuốn “nghệ thuật giáo dục”[17]. Trong cuốn này ông đã
nêu lên một số phẩm chất cần thiết của một giảng viên Đại học như: Hiểu biết cặn kẽ và yêu
thích bộ môn củ
a mình, phải biết yêu và chinh phục một tập thể trẻ tuổi, cần kiên nhẫn,
quyết đoán, tử tế, chân thật, hoà đồng và thông cảm với học trò, hiểu rõ những cá nhân đặc
biệt trong lớp , khoan dung và khôi hài … Tuy nhiên việc nghiên cứu một cách toàn diện về
nhân cách người thầy giáo vẫn chưa được thể hiện trong tâm lí học phương tây.
Ở Liên xô, sau cách mạng tháng mười năm 1917, V.I Lênin, Đảng cộng sản Liên Xô và
chính quyền Xô Viết
đánh giá rất cao vai trò của đội ngũ giáo viên trong sự nghiệp giáo
dục. Lần đầu tiên một phẩm chất được đặt lên hàng đầu đối với người giáo viên, đó là thế
giới quan khoa học. Tâm lí học Xô Viết ngay từ đầu đã quan tâm đến việc xây dựng ngành
Tâm lí học sư phạm, nghiên cứu các quy luật tâm lí của việc dạy học và giáo dục , nhưng
Tâm lí học người thầy giáo thì mãi đến sau những năm nă
m mươi của thế kỷ hai mươi mới
bắt đầu được hình thành. Là một bộ phận của Tâm lí học sư phạm, Tâm lí học người thầy
giáo xem những phẩm chất, năng lực của người thầy giáo là đối tượng nghiên cứu của mình.
Nhiều tác phẩm được ra đời bởi một số nhà Sư phạm Xô Viết nổi tiếng đã đặt một nền
móng lí luận v
ững chắc, mở đầu cho việc nghiên cứu Tâm lí học người thầy giáo xã hội chủ
nghĩa.
V.A Xukhômlinxki trong sự nghiệp giáo dục của mình luôn tâm niệm:
“ Muốn trở thành người thầy giáo chân chính của trẻ thì phải hiến dâng trái tim cho trẻ”
[42, tr. 8] , và ông đã làm như thế với những học sinh bé nhỏ của mình – những học sinh
tiểu học.
A.S.Makarenko – nhà giáo dục suốt đời theo đuổi mục đích lớ
n: “ Con người chỉ có
một chuyên môn, một chuyên môn độc nhất là trở nên cao quý, trở nên một người chân
chính”. Đó là mục đích sống và cũng là mục đích giáo dục. Do vậy ông đã đề ra yêu cầu rất
cao về phẩm chất, năng lực của người làm công tác giáo dục đó là: “Yêu nghề, yêu trẻ, sống
say sưa, vui vẻ, phải mẫu mực trong mọi lời nói, ăn mặc, cử chỉ, có lý tưở
ng, hoài bão, ước

mơ, sống lạc quan” [34, tr. 272 ]. Và điều quan trọng nhất là “ Lòng trung thực công bằng,
làm việc hết mình vì lợi ích chung của toàn xã hội “ [34, tr.373 ] .
Ph.N. Gônôbôlin là người có nhiều đóng góp trong việc nghiên cứu tâm lí người
thầy giáo. Trong tác phẩm “Những phẩm chất tâm lí của người giáo viên” ông đã đưa ra
những kết luận được đúc kết từ những công trình quan sát lâu năm về công tác sư phạm của
người giáo viên và có thể đ
em lại thành công cho công tác của giáo viên. Trong tác phẩm
này ông đòi hỏi người giáo viên phải có thế giới quan, tính tích cực xã hội , khả năng tự
giáo dục, động cơ hoạt động giáo dục, thái độ đối với trẻ, tình cảm đạo đức và thẩm mỹ.
V.A. Cruchetxki với cuốn sách “ Những cơ sở của Tâm lí học sư phạm” ông đã
khái quát được những nét nhân cách cần thiết của người giáo viên xã hội chủ
nghĩa. Về năng
lực ông cho rằng người giáo viên cần phải có: Năng lực dạy học, năng lực khoa học, năng
lực nhạn biết, năng lực ngôn ngữ, năng lực tổ chức , năng lực xây dựng uy tín, năng lực
giao tiếp , năng lực tưởng tượng sư phạm và năng lực phân phối chú ý.
A. V. Petrovski, một nhà tâm lí học sư phạm và lứa tuổ
i người Nga. Ông đề cao vai
trò của người giáo viên và ông cho rằng để thành công trong công tác dạy học và giáo dục
thì người giáo viên phải có những kỹ năng, kỹ xảo sư phạm như kỹ năng và kỹ xảo thông tin,
kỹ năng và kỹ xảo động viên, kỹ năng và kỹ xảo phát triển, kỹ năng và kỹ xảo định hướng,
bên cạnh đó cần có xu hướng sư phạm, năng lực sư
phạm (năng lực dạy học, năng lực thiết
kế, năng lực tri giác, năng lực truyền đạt, năng lực giao tiếp, năng lực tổ chức), thái độ đối
xử khéo léo sư phạm, Đạo đức sư phạm …
N. Đ Lêvitôp với cuốn Tâm lí học trẻ em và Tâm lí học sư phạm tập 3 cũng đề cập
tới “nhân cách của người giáo viên Xô vi
ết và sự hình thành uy tín của người giáo viên” .
Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu của các tác giả Côvaliop, Cuzơmina …
Ở Việt Nam từ bao đời nay nhân dân ta rất coi trọng người giáo viên, nhân dân kính
mến yêu thương họ, học sinh cảm phục, biết ơn họ. Từ sau Cách mạng tháng tám, Hồ Chủ
Tịch, các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta rất chú ý đến chất lượng của đội ngũ giáo viên.
Coi giáo viên là những chiến sĩ cách mạng trên mặt trậ
n văn hoá tư tưởng, những người có
trách nhiệm lớn lao trong việc xây dựng nên nhân cách xã hội chủ nghĩa cho thế hệ trẻ. Để
thực hiện trọng trách nặng nề đó, Bác Hồ không ngừng nhắc nhở thầy, cô giáo về đạo đức
cách mạng: “ Trong giáo dục, không những phải có tri thức phổ thông mà phải có đạo đức
cách mạng. Có tài, phải có đức, có tài không có đức tham ô, hủ hoá có hại cho nước … ”
[28, tr. 85 ]

Để góp phần thực hiện đường lối của Đảng và nhà nước về công tác đào tạo bồi
dưỡng đội ngũ giáo viên, năm 1974, ban Tâm lí học thuộc viện khoa học giáo dục đã thành

lập tổ Tâm lí học thầy giáo, với chức năng là nghiên cứu các phẩm chất nhân cách của
người thầy giáo xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Các tác giả Phạm Văn Đỗ, Bùi Thị Phúc, Bùi
Trọng Thiềm đã nêu lên giả định về cấu trúc nhân cách của người thầy giáo trong công
trình nghiên cứu của mình (1978). Theo các tác giả này cấu trúc nhân cách của người thầy
giáo bao gồm hai thành phần lớn :Thành phần thứ nhất là các phẩm chấ
t tư tưởng có thể
gọi là đức gồm các yếu tố về thế giới quan, tư tưởng chính trị, lòng yêu trẻ, yêu nghề, các
nét tính cách, ý chí, các nhu cầu, động cơ, lí tưởng nghề nghiệp. Thành phần thứ hai là các
năng lực sư phạm ( có thể gọi là tài) gồm các yếu tố thuộc nhóm năng lực giảng dạy, năng
lực giáo dục và năng lực hoạt động thực tiễn h
ỗ trơ. Từ sau công trình của các tác giả Phạm
Văn Đỗ… (1978) tới năm 1990 một hệ thống luận điểm về những phẩm chất và năng lực
của người thầy giáo được thể hiẹn trong các tài liệu và giáo trình Tâm lí học như cuốn Tâm
lí học tập II do giáo sư tiến sĩ Phạm Minh Hạc chủ biên với sự tham gia của Phạm Hoàng
Gia, Trần Trọng Thuỷ
. Trong đó các tác giả có đề cập tới một chương về tâm lí người
thầy giáo. Hay cuốn đề cương bài giảng Tâm lí học trẻ em và Tâm lí học sư phạm do
hội đồng bộ môn Tâm lí học Trường Đại học Sư phạm I Hà Nội biên soạn. Trong đó có
chương: Một số vấn đề về năng lực của người giáo viên xã hội chủ nghĩa … Năm 1999 Phó
giáo sư
Lê Văn Hồng chủ biên cuốn Tâm lí học lứa tuổi và Tâm lí học sư phạm với sự
tham gia của Lê Ngọc Lan và Nguyễn Văn Thàng, trong đó có chương: Tâm lí học nhân
cách người thầy giáo. Bên cạnh đó còn nhiều tài liệu Tâm lí học khác ở các trường Sư phạm

Nhìn chung vấn đề về nhân cách giáo viên không phải là mới mẻ để thiếu đi những cơ sở
lý luận, nh
ưng cũng không phải là vấn đề không cần bàn đến. Những điều nêu trên đây phần
nào cho thấy tầm quan trọng của nhà giáo trong sự nghiệp giáo dục, trong sự phát triển của
xã hội. Do vậy việc nghiên cứu nhân cách người thầy giáo nhằm hoàn thiện nó là rất quan
trọng và cần thiết. Thực tiễn ngày nay các nghiên cứu về người thầy giáo đã được mở rộng
trong mối quan hệ với nhiều thành tố
, chẳng hạn như với kết quả học tập từ khi còn ngồi
trên ghế nhà trường sư phạm, với kết quả chuyên môn, với nhân cách của học sinh, hay giữa
các phẩm chất, năng lực với nhau … Đó là những vấn đề nghiên cứu thực sự cần thiết góp
phần phát triển sự nghiệp giáo dục, phát triển xã hội.
1.1.2 Các công trình nghiên cứu thực tiễn về năng lực ng
ười thầy giáo
Vấn đề năng lực của người giáo viên có không ít công trình nghiên cứu đề cập tới.
Một số là tự đánh giá của sinh viên Sư phạm, một số tìm hiểu đánh giá của học sinh phổ
thông về nhân cách người giáo viên của mình, cũng có đề tài tìm hiểu về những phẩm chất
và năng lực của người giáo viên phổ thông cần phải có để đáp ứng yêu cầu của công tác

giảng dạy và giáo dục. Nhưng những công trình ấy chỉ tập trung vào một số yếu tố nào đó
trong hệ thống những năng lực của người thầy giáo, chưa tìm hiểu toàn diện các năng lực
trên khách thể là giáo viên .Tuy vậy các kết quả nghiên cứu vẫn mang lại ý nghĩa thực tiễn
nhất định, góp phần mở ra hướng đi mới cho việc tìm hiểu thực trạng năng lự
c giảng dạy
nói riêng và nhân cách người thầy giáo nói chung.
Gônôbôlin trong tác phẩm : “Những phẩm chất tâm lí của người giáo viên”, ngoài
việc nghiên cứu lý luận, ông đã tiến hành thăm dò thực tiễn từ một số lớn các giáo viên, cán
bộ giáo dục thuộc các trường phổ thông ở Liên xô khi bàn về “năng lực sư phạm”. Ông đã
đưa ra được một hệ thống các năng lực sư phạm gắn bó chặt chẽ vớ
i nhau giúp người giáo
viên thành công trong công tác giáo dục.
Ở nước ta sau năm 1975 xuất hiện nhiều nghiên cứu về năng lực của người giáo viên,
phần lớn tập trung ở các công trình nghiên cứu của các chuyên gia thuộc lĩnh vực này.
Trong kỷ yếu hội nghị tâm lí học lần thứ năm, năm 1983, nhóm nghiên cứu tâm lí học
thuộc viện khoa học giáo dục như Phạm Văn Đỗ, Bùi Thị Phúc, Bùi Trọng Thềm. Các
tác giả này đã phác thảo cấu trúc nhân cách và cấu trúc năng lực sư phạm của người thầy
giáo xã hội chủ nghĩa, sau đó các tác giả đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm các năng lực
sư phạm của giáo viên như: Năng lực nắm vững tài liệu giảng dạy, nắm vững đối tượng
giáo dục, năng lực tổ chức, năng lực xây dựng m
ối quan hệ thầy, trò và ảnh hưởng của các
mối quan hệ ấy đến hiệu quả giảng dạy, giáo dục. Bên cạnh đó các tác giả đã tiến hành một
đề tài nghiên cứu về: “sự hình thành và phát triển năng lực sư phạm của người thầy
giáo xã hội chủ nghĩa”. Kết quả cho thấy quy luật chung của sự hình thành và phát triển
năng lực sư phạm, đồ
ng thời cũng thấy được các yếu tố có tác dụng thúc đẩy sự hình thành,
phát triển năng lực sư phạm qua các thời kỳ: Thời kỳ còn học trong trường sư phạm và thời
kỳ đã trở thành giáo viên. Trên cơ sở đó giúp sinh viên và giáo viên có những định hướng
để hình thành năng lực sư phạm.
Tiếp theo sau những kỷ yếu là một số công trình nghiên cứu về năng lực người thầ
y giáo
dưới góc độ đề tài tốt nghiệp đại học. Như đề tài: “Tìm hiểu định hướng giá trị nghề dạy
học của sinh viên trường Đại học sư phạm Tp. Hồ Chí Minh” của Võ Minh Trung năm
học 1997 – 2001 ở khoa tâm lí giáo dục. Kết quả đề tài đưa ra một số nhận định về nhận
thức, thái độ, hành vi đối với nghề dạy học của sinh viên s
ư phạm, mặt khác cũng đưa ra
một mẫu người giáo viên trong tương lai với những phẩm chất và năng lực. Trong đó đề cập
đến mặt năng lực như: Tri thức vừa sâu, vừa rộng, kỹ năng vận dụng phương pháp dạy học,
giáo dục thích hợp, năng lực cảm hoá học sinh, năng lực khéo léo đối xử sư phạm, năng lực
giao tiế
p sư phạm, năng lực hiểu học sinh trong quá trình dạy học và giáo dục, kỹ năng tự

học, tự nghiên cứu, có khả năng tổ chức quản lý, nhậy bén và linh hoạt, kỹ năng vận động
và phối hợp các lực lượng giáo dục gia đình và xã hội, kỹ năng phân tích tổng hợp và chế
biến tài liệu, có đầu óc thực tiễn, và có khả năng thiết lập các mối quan hệ tốt.
Qua đề tài nghiên cứu của mình, tác giả đã đưa ra được mẫu người thầy giáo tươ
ng lai
với các năng lực và phẩm chất về nhiều mặt. Như vậy đề tài này đã góp phần tạo ra phương
hướng rèn luyện, phấn đấu cho các sinh viên sư phạm trong hiện tại và tương lai sau này.
Ngoài hướng tiếp cận trên sinh viên Trường Đại học cũng có luận văn tốt nghiệp tiếp cận
trên học sinh, giáo viên và phụ huynh các trường phổ thông trung học. Như đề tài: “Bước
đầu tìm hiểu về
những phẩm chất và năng lực mà người giáo viên phổ thông Trung
học cần phải có để đáp ứng những yêu cầu hiện nay của công tác giảng dạy và giáo
dục” do Nguyễn Thị Bảo Ngân sinh viên khoa Tâm lí – Giáo dục năm học 1999 – 2003
tiến hành nghiên cứu đã đưa đến những kết quả về các phẩm chất và năng lực mà người
giáo viên cần phải có để đáp ứng yêu cầu củ
a công tác giảng dạy và giáo dục.
Tóm lại: Nói chung việc nghiên cứu lý luận cũng như thực tiễn về năng lực của
người giáo viên nói riêng, nhân cách người giáo viên nói chung đều đi đến nhận định về
năng lực cần thiết cho người giáo viên xã hội chủ nghĩa là:năng lực dạy học, năng lực
giáo dục, năng lực tổ chức.
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.2.1 NHÂN CÁCH, NHÂN CÁCH NGƯỜ
I GIÁO VIÊN
1.2.1.1 Nhân cách
Khái niệm nhân cách
Ngày nay vấn đề nhân cách được nhiều khoa học quan tâm nghiên cứu như Triết học,
Xã hội học, Y học, Giáo dục học, Tâm lí học … . Trong xã hội mọi người có quan hệ với
nhau, con người là trung tâm của các mối quan hệ xã hội. vì vậy con người phải được thể
hiện như là một nhân cách. Xây dựng con người xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải gắn liền
với việc xây dựng nhân cách phát triể
n hài hoà. Sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ có kết quả chỉ
khi những thầy, cô giáo thực hiện sự nghiệp này có nhân cách hoàn thiện và hiểu được quy
luật phát triển nhân cách của con người.
Chính do tầm quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn của vấn đề nhân cách, đòi hỏi
chúng ta phải có khái niệm chính xác, hoàn chỉnh về nhân cách.
Hiện nay trong tâm lí học có nhiều quan điểm khác nhau về nhân cách:
Trong Tâm lí học phương Tây, nhân cách được nghiên c
ứu trên cơ sở của nhiều lý
thuyết. Trong các sách Tâm lí học của Mỹ, xuất bản gần đây có một số khái niệm về nhân
cách :

“Nhân cách là những hành vi, tư duy và cảm xúc có tính chất ổn định và đặc biệt của
cá nhân” ( Psycholo – Robert A. Baron – USA – 1992)
“Nhân cách được định nghĩa như là một mô hình ổn định của các đặc điểm tâm lí và
hành vi mà nhờ đó người ta có thể so sánh và thấy sự tương phản giữa người này và người
khác” ( Psychology – Douglas A, Rartein, Alison Clarke Stewart, Edward J. Roy. Thomas
K. Sraw, Chistopher D.wickens – USA – 1994, trang 586)
“Nhân cách là mô hình tư duy, cảm xúc và hành vi độc đáo của con người, nó ổn
định theo thời gian và các tình huống” (Psychologhy and introduction – Charles G. Morris
– New Jersey, trang 373)
Dựa trên những quan điểm của triết học Mác – xít các nhà Tâm lí học có tên tuổi
thuộc liên bang Xô Viết trước đây, như A.B. Pêtrôvsky, E.V.Shôrôcôva, B.D. Parưghin,
L.C. Vưgôtxky, A.N . Lêônchiev, B.G.Ananhiev, K.K.Platônôp, B.C. Merlin, G.P.
Predvetrnưi H.M. Reivalg … đều nghiên cứu về nhân cách và đã đưa ra những định nghĩa
và quan tâm nhiều đến cấu trúc tâm lí của nhân cách. Nhìn chung các định nghĩa đều nhấn
mạnh đến hoạt động có ý thức của nhân cách và đặt nó trong các mối quan hệ nhất định.
Đúng như I.C’Kon nhận xét rằ
ng có nhiều định nghĩa có giá trị như: “Nhân cách là sự thống
nhất các tính chất cá thể và vai trò xã hội của chủ thể trong hoạt động” hoặc “Nhân cách
như là một đặc điểm có tính chất xã hội của cá nhân, được tạo nên từ hoạt động của chủ thể
trong mối quan hệ tương hỗ với những cá nhân khác”. A.G. Côvanhiôv đưa ra một định
nghĩa rõ hơn trong đó cũng nh
ấn mạnh tới vai trò xã hội của chủ thể thông qua hoạt
động:“Nhân cách là một cá nhân hoạt động có ý thức, chiếm một vị trí nhất định trong xã
hội và đang thực hiện một vai trò xã hội nhất định”
Ở nước ta, vấn đề nhân cách cũng là một trong những vấn đề được các nhà khoa học
quan tâm. Trên góc độ của khoa học Tâm lí nhiều định nghĩa đã được đưa ra, ta hãy xem xét
một số
định nghĩa sau:
Trong từ điển Tâm lí học ( do TS. Vũ Dũng chủ biên, nhà xuất bản Khoa học Xã hội
Hà Nội) nhân cách được đề cập đến như là “Toàn bộ đặc điểm, phẩm chất tâm lí của cá
nhân đã hình thành và phát triển từ trong các quan hệ xã hội . Một mặt nhân cách là sản
phẩm của sự phát triển lịch sử xã hội, mặt khác nhân cách cũng là người sáng tạo ra hoàn
cảnh, điề
u kiện, của cải xã hội. Hình thành từ trong hệ thống các quan hệ khác nhau, từ
kinh tế, chính trị, từ đạo đức đến tư tưởng , nhân cách cũng lại xuất hiện và tự thể hiện
bằng các quan hệ của chính mình”.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét