Thứ Sáu, 7 tháng 3, 2014

Một số đề xuất hoàn thiện Luật thuế GTGT tại Việt Nam.

Chương I
ĐẠI CƯƠNG VỀ THUẾ VÀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
I. CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THUẾ
1. Khái niệm và đặc điểm của thuế
Thuế là khoản đóng góp bắt buộc theo luật định không hoàn lại trực
tiếp đối với các tổ chức kinh tế và công dân cho Nhà nước.
Xuất phát từ định nghĩa trên ta có thể thấy một số tính chất cơ bản và quan
trọng của thuế
• Thuế là khoản đóng góp mang tính chất cưỡng chế và pháp lí cao. Nó
được qui định trong các văn bản pháp luật của Nhà nước và có những chế tài đi
kèm nhằm đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của công dân. Chúng ta đều
biết rằng thuế là nguồn thu để nuôi sống Bộ máy của Nhà nước và thực hiện các
chính sách của Nhà nước. Để bảo đảm sự tồn tại của mình, Nhà nước cần phải sử
dụng quyền lực của mình để bắt buộc người dân đóng góp vào cho ngân sách
Nhà nước.
• Thuế là khoản đóng góp mang tính không hoàn trả trực tiếp đối với các
cá nhân và tổ chức nộp thuế. Đặc điểm này giúp ta có thể phân biệt giữa thuế với
phí và lệ phí- hai nguồn thu khác trong ngân sách của Nhà nước. Trong khi phí và
lệ phí là những khoản đóng góp khi các cá nhân và tổ chức sử dụng các dịch vụ
do Nhà nước cung cấp, thì ngược lại thuế là khoản đóng góp bắt buộc đối với các
công dân khi họ nằm trong đối tượng đưọc điều chỉnh của Luật thuế mà nhà nước
không có trách nhiệm phải hoàn lại trực tiếp cho người nộp dưới bất cứ hình thức
nào.
5
• Trong nguồn thu ngân sách của Nhà nước thì thuế chiếm một tỉ trọng rất
lớn. Thuế là cơ sở quan trọng trong việc đảm bảo sự tồn tại của bộ máy Nhà nước
và giúp bộ máy Nhà nước có thể thực hiện được các chính sách đặt ra. Thông
thường thì thuế chiếm tới xấp xỉ 90% nguồn thu ngân sách của Chính phủ. Tuỳ
theo qui mô, mức độ phát triển và chính sách thuế của từng quốc gia mà sẽ quyết
định giá trị thuế thu được. Thuế chứa đựng trong nó rất nhiều các sắc thuế khác
nhau với các đối tượng bị điều chỉnh khác nhau. Tất cả chúng ta đều đang bị điều
chỉnh bởi luật thuế, chúng ta phải nộp thuế mà đôi khi bản thân chúng ta không
biết rằng mình đang phải nộp thuế cho Nhà nước. Nó bao gồm các loại thuế như
VAT, thuế lợi tức, thuế xuất nhập khẩu, thuế thuế nông nghiệp, thuế thu nhập cá
nhân Chính vì diện bao quát rất rộng của thuế nên nó có khả năng tập trung
nguồn thu rất lớn cho ngân sách Nhà nước. Bảng số liệu của Việt Nam dưới đây
sẽ cho chúng ta thấy được phần nào vai trò của thuế trong nguồn thu ngân sách
Bảng 1 : CƠ CẤU THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
Đơn vị: tỉ VN đồng
Chỉ tiêu 1996 1997 1998 1999
2000
(ước tính)
2001
(kế hoạch)
Tổng thu NSNN 62.387 65.352 72.965 78.489 90.664 86.275
Thu từ thuế của DNNN 25.887 27.149 18.911 32.114 44.994 41.182
Thu thuế của DN khác 28.101 27.574 31.388 35.802 34.549 36.078
Thu ngoài thuế 6.856 8.043 10.523 8.212 9.221 7.115
Viện trợ 1.543 2.586 2.143 2.361 1.900 1.900
Nguồn www.worldbank.org.vn
Nhìn vào bảng số liệu có thể thấy được thuế chiếm trong tổng nguồn thu ngân
sách tới xấp xỉ 85% và chiếm khoảng xấp xỉ gần 20% GDP mỗi năm. Với vai trò
đặc biệt, chính sách thuế đang ngày càng được chính phủ các nước quan tâm xây
dựng nhằm đảm bảo phù hợp và có hiệu quả hơn nữa; hiệu quả cảvề mặt kinh tế
cũng như công bằng xã hội.
Phân loại thuế
Để có thể hiểu rõ hơn bản chất và thuận tiện trong việc nghiên cứu để xây
dựng các chính sách thuế, người ta phân loại thuế ra thành các loại thuế cụ thể
6
căn cứ vào các tiêu thức khác nhau tuỳ theo mục đích nghiên cứu. Theo tính chất
điều tiết của thuế, người ta chia thành hai loại là thuế trực thu và thuế gián thu.
Thuế trực thu là loại thuế mà đối tượng nộp thuế cũng đồng thời là đối tượng
chiụ thuế.
Thuế gián thu là loại thuế mà đối tượng chịu thuế không trực tiếp nộp thuế
cho Nhà nước mà thông qua một đối tưọng khác gọi là đối tượng nộp thuế.
 Theo phạm vi điều tiết của thuế, người ta chia thành thuế chung và thuế
có lựa chọn.
 Theo cơ sở thuế, người ta chia thành các loại như sau:
 Thuế thu nhập
 Thuế tài sản: Loại thuế này đánh trên các tài sản có giá trị.
 Thuế kinh doanh: loại thuế này đánh vào các hoạt động kinh doanh
 Thuế tiêu dùng: loại thuế này đánh vào hàng hóa mà bạn tiêu dùng.
Ngoài ra, tuỳ theo các tiêu thức nghiên cứu khác nhau mà người ta chia ra thành
các loại thuế có các tên gọi khác nhau: thuế tài nguyên, thuế môi trường, thuế đất
đai
2. Những khái niệm cơ bản chung của Thuế GTGT .
2.1 Giá trị gia tăng và Thuế GTGT
Giá trị gia tăng là khoản giá trị mới tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát
sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông tới tiêu dùng.
Thuế Giá trị gia tăng (GTGT) còn được gọi là VAT (Value Added Tax) là
loại thuế chỉ đánh trên phần giá trị tăng thêm qua mỗi khâu của quá trình sản
xuất kinh doanh và tổng số thuế thu được ở các khâu chính bằng số thuế tính
trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng.
- Về hình thức, Thuế GTGT do các nhà sản xuất kinh doanh nộp hộ
người tiêu dùng thông qua việc tính gộp thuế này vào giá bán mà người tiêu dùng
phải thanh toán .
7
- Về bản chất, người chịu Thuế GTGT là người tiêu dùng, hoặc người
sản xuất, hoặc cả người sản xuất và người tiêu dùng phụ thuộc vào mối quan hệ
cung cầu của loại hàng hoá đó trên thị trường
2.1.1 Thuế GTGT có các khái niệm chung :
- Đối tượng chịu Thuế GTGT : Là những hàng hoá, dịch vụ theo quy định
của luật pháp phải chịu thuế và thuế được tính dựa trên giá trị bằng tiền của hàng
hoá, dịch vụ đó.
Mỗi quốc gia khi xây dựng Luật thuế GTGT đều nghiên cứu kỹ lưỡng danh
mục hàng hoá, dịch vụ là đối tượng chịu Thuế GTGT bởi vì mặc dù thuế có vai
trò rất quan trọng đối với chính sách vĩ mô của mỗi quốc gia nhưng không vì thế
mà gây ra khó khăn cho bất kỳ hoạt động sản xuất, kinh doanh nào. Có những
hàng hoá, dịch vụ cầ được ưu tiên phát triển, có những hàng hoá, dịch vụ cần
được kiểm soát và công cụ điều tiết quan trọng nhất của nhà nước chính là thuế.
Phạm vi điều chỉnh của luật thuế GTGT là rất rộng lớn và do đặc điểm đối
tượng chịu thuế là hầu hết các hàng hoá, dịch vụ trên thị trường nên sức ảnh
hưởng của nó đối với nền kinh tế và thái độ của dân cư là hết sức to lớn. Vì là
thuế gián thu, khoản thuế GTGT được tính sẵn trong giá thanh toán nên nó không
ảnh hưởng nhiều đến tâm lí của người mua về khoản thuế mình phải nộp.
Đồng thời với đối tượng chịu Thuế GTGT, để khuyến khích việc phát triển
sản xuất, kinh doanh của một số mặt hàng, một số hoạt động dịch vụ các chính
phủ thường ban hành danh mục đối tượng không chịu Thuế GTGT. Ta có thể
tham khảo bảng đối tượng không chịu Thuế GTGT của một số nước (Phụ lục I -
Nguồn : Tờ trình chính phủ đề án sửa đổi bổ xung Luật thuế GTGT)
- Đối tượng nộp thuế : Là đối tượng trực tiếp có quan hệ về mặt nghĩa vụ
đối với cơ quan thuế. Là các tổ chức, cá nhân có sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu
hàng hoá, dịch vụ thuộc diện chịu Thuế GTGT theo quy định trong Luật thuế
GTGT của từng nước. Tuy nhiên ta có thể hiểu đối tượng tiêu dùng cuối cùng là
người phải chịu toàn bộ số thuế tính trên giá trị gia tăng từ khâu sản xuất đến khi
đến tay người tiêu dùng. Trong qua trình luân chuyển trên thị trường cơ quan
8
thuế luôn phải tiến hành tính toán thu thuế đầu ra và hoàn thuế đầu vào cho các
khâu luân chuyển trên thị trường. Hàng hoá, dịch vụ đến tay người tiêu dùng đã
bao hàm toàn bộ Thuế GTGT của các khâu trước trong giá.
Căn cứ và phương pháp tính thuế
a. Căn cứ tính thuế : Căn cứ tính thuế bao gồm giá tính thuế và thuế suất
Giá tính thuế giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ là giá chưa có thuế của
hàng hoá, dịch vụ đó.
Ta có thể tham khảo biểu Thuế GTGT của một số nước trên thế giới như sau :
Bảng 2 : MỘT SỐ BIỂU THUẾ GTGT TRÊN THẾ GIỚI
Nước
Số lượng
thuế suất
Các mức thuế suất (%)
Inđônêxia 1 10%
Philipin 1 10%
Thái Lan 1 10%
Singapore 1 3%
Trung Quốc 2 13% 17%
Australia 1 10%
Hàn Quốc 1 10%
Nhật 1 5%
Đan Mạch 1 25%
Thuỵ Điển 3 6% 12% 25%
Pháp 2 5.5% 19.6%
Việt Nam 4 0% 5% 10% 20%
(Nguồn : Tờ trình chính phủ đề án sửa đổi, bổ sung Luật thuế GTGT )
Thuế suất áp dụng cho Luật thuế GTGT được nghiên cứu sao cho
phù hợp nhất với đặc điểm kinh tế của từng quốc gia. Thuế suất Thuế GTGT
thông thường chỉ gồm từ 1 đến 3 mức nhưng trên thế giới xu hướng đơn giản hoá
số lượng thuế suất Thuế GTGT nhằm đơn giản hoá biểu thuế, đơn giản hoá công
tác hành chính thuế cũng như tạo sự thông thoáng, cởi mở sẵn sàng hội nhập các
nhóm, các cộng đồng kinh tế chung khu vực và châu lục. Biểu Thuế GTGT được
xây dựng căn cứ vào nguyên tắc đánh thuế dựa vào khả năng nộp thuế của các
9
đối tượng khác nhau Khoảng cách tương đối giữa các bậc thuế suất sẽ quyết định
sự điều tiết mạnh hay yếu chính phủ đối với hàng hoá, dịch vụ chịu thuế.
Ta có thể thấy mức thuế suất của các nước chủ yếu chỉ có 1 mức. Vừa đảm
bảo công bằng đối với tất cả các thành phần kinh tế trên thị trường đồng thời tạo
thuận lợi cho việc quản lý của nhà nước do việc tính thuế đơn giản, tránh những
phức tạp nảy sinh do việc có nhiều mức thuế suất gây nên.
b. Phương pháp tính thuế :
Về mặt lý thuyết có 4 phương pháp xác định số thuế phải nộp :
• Phương pháp cộng thẳng (trực tiếp) hay còn gọi là phương pháp kế
toán :
Thuế GTGT = thuế suất x (tiền công + lợi nhuận)
• Phương pháp cộng gián tiếp (vì giá trị gia tăng không được tính đến) :
Thuế GTGT = (thuế suất x tiền công) + (thuế suất x lợi nhuận)
• Phương pháp trừ trực tiếp (cũng gọi là phương pháp kế toán) :
Thuế GTGT = thuế suất x (giá đầu ra – giá đầu vào)
• Phương pháp trừ gián tiếp (còn gọi là phương pháp hoá đơn hay phương
pháp khấu trừ)
Thuế GTGT = (thuế suất x giá đầu ra) - (thuế suất x giá đầu vào)
Trong 4 phương pháp trên, các nước đã có tổng kết là phương pháp thứ 4
có nhiều ưu điểm hơn do :
- Nó gắn với hoá đơn, chứng từ, vì vậy mang tính pháp luật cao hơn và
dễ kiểm tra, kiểm soát.
- Đơn giản hơn vì doanh nghiệp chỉ cần căn cứ vào hoá đơn đầu vào, đầu
ra để kê khai nộp thuế và nộp thuế hàng tháng. Còn 3 phương pháp trên dựa vào
sổ sách kế toán nên phức tạp và không kịp thời.
10
Vì vậy, hầu hết các nước đều áp dụng phương pháp khấu trừ thuế với
nguyên tắc là số Thuế GTGT đầu ra ghi trên hoá đơn bán hàng khấu trừ số thuế
giá trị gia tăng đầu vào ghi trên hoá đơn mua hàng.
Ở Việt Nam ta sử dụng hai phương pháp tính Thuế GTGT là phương pháp
khấu trừ và phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng .
Hầu hết các nước đã áp dụng Thuế GTGT đều có quy định mức doanh thu
để phân biệt đối tượng nộp thuế. Ví dụ Inđonêxia 60.000 USD/năm; Thuỵ Điển
200.000 SEK/năm; Trung Quốc 1.8 triệu nhân dân tệ/năm Đối với hộ kinh
doanh có doanh số trên mức quy định phải nộp Thuế GTGT theo phương pháp
khấu trừ; đối với hộ kinh doanh có doanh số dưới mức quy định hoặc không phải
nộp Thuế GTGT mà chỉ phải nộp thuế thu nhập hoặc có nước đánh Thuế GTGT
nhưng theo một tỷ lệ ấn định trên doanh thu.
2.1.2 Vai trò của Thuế GTGT
Nền kinh tế ngày càng phát triển hàng hoá, dịch vụ luân chuyển và tiêu
dùng ngày càng nhiều nên số Thuế GTGT phát sinh sẽ ngày một lớn và chiếm vị
trí quan trong trong cơ cấu thu ngân sách quốc gia từ thuế. Thông thường, ở
những nước càng phát triển thì tỉ trọng đóng góp của thuế VAT chiếm khá cao.
Ta có thể thấy được điều đó qua số liệu một số nước phát triển trong khối OECD

Năm 1980 tỷ lệ thuế VAT của các nước trong khối OECD là 17% GDP,
trong khi đó tỉ lệ này vào năm 1995 là 15%”
1
. Ta cũng có thể xem cấu trúc thuế
trong khối OECD từ năm 1980-1995 để từ đó thấy được vai trò của thuế thu nhập
cá nhân trong nguồn thu ngân sách chính phủ hàng năm ở những nước phát triển.
Ta có bảng sau :
1
*Nguồn: http://www.ccra-adrc.gc.ca/tax/individuals
11
Bảng 3 : THAY ĐỔI CẤU TRÚC THUẾ TRONG KHỐI OECD TỪ 1980-1995
(tỉ lệ % trong tổng thu)
1980 1985 1990 1995
Thuế thu nhập cá nhân 32 30 30 27
Thuế thu nhập công ty 7 8 8 8
Bảo hiểm xã hội 25 25 25 25
Thuế tài sản 5 5 5 5
Thuế tiêu dùng chung 14 16 17 18
Thuế VAT 17 16 15 15
(Nguồn OECD Revenue Statistic)
Tuy phần đóng góp của Thuế GTGT giảm đôi chút trong tỷ trọng tổng thu
về thuế của khối OECD nhưng OECD bao gồm các nước phát triển nền kinh tế
phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn 1980-1995 nên lượng đóng góp vào ngân
sách của những nước này là rất đáng kể.
Thuế GTGT là loại thuế được các Chính phủ ở các nước phát triển sử dụng
rộng rãi do kết cấu đơn giản, dễ kiểm soát khả năng đóng góp cho ngân sách đáng
kể và có vai trò nhất định trong việc điều hành chính sách tài khoá và các chính
sách kinh tế khác.
Chính sách tài khóa của chính phủ là chính sách sử dụng chi tiêu chính phủ
và thuế là hai công cụ cơ bản để điều chỉnh tổng cầu của nền kinh tế, khi nền kinh
tế suy thoái thì chính phủ có thể tăng chi tiêu hoặc giảm thuế để từ đó kích cầu và
đưa nền kinh tế tăng trưởng trở lại; còn khi nền kinh tế đang ở thời kì phát triển
quá nóng so với mức bình thường thì chính phủ lại giảm chi tiêu của mình hoặc
tăng thuế để làm giảm tổng cầu. Bên cạnh chức năng là một trong những công cụ
thực hiện chính sách tài khoá của chính phủ, Thuế GTGT được coi là có vai trò to
lớn hơn trong việc làm trong lành hoá thị trường, việc khuyến khích sử dụng hoá
đơn đối với các thành phần kinh tế để tính và nộp thuế làm cho mỗi người dân có
ý thức hơn về nghĩa vụ và quyền của mình đối với Nhà nước.
12
Tóm tắt
Ở chương này ta đã trình bày những lí luận chung cơ bản nhất về thuế và
thuế GTGT. Ta đã nêu ra được phần nào vai trò của thuế GTGT là hết sức quan
trọng, do đó chúng ta đã và đang xây dựng cho mình một Luật thuế GTGT hoàn
chỉnh.
Ở chương sau chúng ta sẽ xem xét cụ thể luật Thuế GTGT được ban hành
ở Việt Nam từ năm 1999 và đang từng bước thể hiện vai trò của mình trong quá
trình phát triển kinh tế của Việt Nam.


Chương II
THỰC TRẠNG VÀ VAI TRÒ LUẬT THUẾ GTGT Ở VIỆT NAM
13
Thực hiện đề án cải cách chính sách thuế bước 2, Luật thuế Giá trị Gia tăng
đã được Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 11 tháng 4/1997 thông qua và thi hành từ
ngày 1/1/1999 thay thế luật thuế doanh thu. Luật thuế GTGT được ban hành và
thực hiện đồng bộ với một số luật thuế khác như : Luật thuế TTĐB, Luật thuế
TNDN, Luật sửa đổi bổ sung một số điều về thuế xuất nhập khẩu. Đây là một luật
thuế mới lần đầu tiên thực hiện ở Việt Nam, đối tượng điều chỉnh rộng, tác động
đến mọi mặt của đời sống kinh tế và xã hội.
Trong chương này ta sẽ nghiên cứu một cách tổng quan về Luật thuế GTGT
và tìm hiểu những tác động, những kết quả bước đầu khi áp dụng luật thuế
GTGT.
I. THỰC TRẠNG LUẬT THUẾ GTGT Ở VIỆT NAM
A. Sự cần thiết ban hành Luật Thuế GTGT
Về mặt lý thuyết, Thuế GTGT mang tính khoa học rất cao, có khả năng tạo
được công bằng trong việc thu thuế, thúc đẩy các doanh nghiệp cải tiến quản lý,
tăng năng suất lao động, hạ giá thành để cạnh tranh thuận lợi ở trong và ngoài
nước. Điểm nổi bật của Thuế GTGT là khắc phụ được nhược điểm thu trùng lắp,
chồng chéo qua nhiều khâu của thuế doanh thu. Từ lâu sự chồng chéo này của
thuế doanh thu đã gây nhiều kêu ca, phàn nàn của hầu hết cơ sở kinh doanh và
người tiêu dùng vì nó ảnh hưởng tiêu cực đến giá cả hàng hoá. Thuế doanh thu
tính trên toàn bộ giá bán qua từng khâu có nghĩa là trong trường hợp mua cao,
bán hạ doanh nghiệp vẫn phải nộp thuế doanh thu. Ngược lại, Thuế GTGT chỉ
thu trên giá trị tăng thêm mà doanh nghiệp tạo ra, thận chí doanh nghiệp còn
được hoàn thuế khi thuế đầu vào cao hơn thuế đầu ra. Hơn nữa, Thuế GTGT còn
có tác dụng thúc đẩy xuất khẩu, khuyến khích phát triển sản xuất, chống thất thu
có hiệu quả, bảo đảm nguồn thu cho NSNN. Tóm lại Luật thuế GTGT :
1. Khắc phục nhược điểm của Luật thuế doanh thu
- Thu trùng lắp của thuế doanh thu là thuế thu trên thuế
- Thuế doanh thu có nhiều thuế suất.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét