Chủ Nhật, 2 tháng 3, 2014

Hiểu và dùng đúng thuốc

Hiểu & dùng thuốc đúng – Tác giả: PGS.TS Nguyễn Hữu Đức
NXB Trẻ
5
sự dung nạp đưa đến tăng liều dùng để đạt được tác dụng của thuốc”. Đối với người dùng thuốc, để
hạn chế cả hai sự lờn thuốc kể trên, chỉ có cách là sử dụng thuốc khi thật cần thiết theo sự hướng dẫn
của thầy thuốc, không lạm dụng và không sử dụng bừa bãi.
Hiểu & dùng thuốc đúng – Tác giả: PGS.TS Nguyễn Hữu Đức
NXB Trẻ
6

ĐỀ KHÁNG KHÁNG SINH
Một vấn đề liên quan đến việc sử dụng kháng sinh đã và đang trở thành nỗi ưu tư lớn của những
người hoạt động trong lãnh vực y dược, đó là vấn đề vi khuẩn đề kháng đối với thuốc kháng sinh, gọi
tắt là kháng thuốc, hay nói theo một số bà con ta là thuốc kháng sinh bị “lờn”. Hiện nay ở nhiều bệnh
viện, khi cho làm “kháng sinh đồ”, tức là làm xét nghiệm xem vi khuẩn còn nhạy cảm với kháng sinh
nào, nhiều thầy thuốc phải lo âu: các vi khuẩn gây bệnh đã “lờn” với rất nhiều kháng sinh thông dụng!
Trong phạm vi bài viết này, xin được đề cập vì sao vi khuẩn có thể chống lại tác dụng của kháng sinh
để gây nên hiện tượng đề kháng kháng sinh và thái độ chúng ta phải như thế nào đối với vấn đề này.
Theo định nghĩa chuyên môn, một loại vi khuẩn đề kháng kháng sinh khi loại vi khuẩn này vẫn có
thể sinh trưởng, phát triển được với sự hiện diện của một nồng độ kháng sinh cao hơn gấp nhiều lần
nồng độ ngăn chặn sự sinh trưởng, phát triển của các loại vi khuẩn khác hoặc của chính loại vi khuẩn
đó trước đây. Nói nôm na, với liều dùng thông thường, kháng sinh bị lờn chẳng có tác dụng gì đối với
vi khuẩn.
Vi khuẩn có thể đề kháng kháng sinh bằng nhiều cơ chế khác nhau. Thứ nhất, chúng có thể tự sản
xuất ra các enzyme phá hủy cấu trúc và làm mất tác dụng của kháng sinh. Thí dụ, chúng tiết ra enzyme
có tên là betalactamase phá hủy các thuốc thuộc nhóm penicillin. Thứ hai, biết rằng nhiều kháng sinh
chỉ cho tác dụng khi thấm qua lớp vỏ của tế bào vi khuẩn, vi khuẩn đề kháng lại bằng cách tự tổng
hợp lớp vỏ của tế bào khác đi để kháng sinh không thấm qua được. Thứ ba, một số vi khuẩn đề kháng
lại kháng sinh nhóm tetracyclin bằng cách tự chế tạo một loại “bơm” đặc biệt để tống thuốc kháng
sinh ra khỏi cơ thể của chúng để không làm hại được chúng. Và cuối cùng, thường kháng sinh chỉ tấn
công vào một nơi nhất định trên cơ thể của vi khuẩn gọi là đích tác dụng thì vi khuẩn đề kháng lại
bằng cách biến đổi đích tác dụng này, thế là xem như kháng sinh bị vô hiệu hóa bởi vì không còn có
đích tác dụng gắn vào để phát huy tác dụng nữa.
Người ta ghi nhận chính việc sử dụng kháng sinh bừa bãi, không đúng cách, không đủ liều sẽ làm
cho vi khuẩn không bị tiêu diệt hết, một số có khả năng thích ứng, đặc biệt có sự đột biến gen trên
nhiễm sắc thể kiểm soát sự nhạy cảm đối với kháng sinh, số này tồn tại, phát triển thành “chủng” vi
khuẩn mới mà kháng sinh đã sử dụng sẽ không còn tác dụng đối với chủng này nữa. Có khoảng 10%
trường hợp vi khuẩn thoát khỏi sự tấn công của kháng sinh theo một trong bốn cơ chế đề kháng đã kể
và bắt nguồn từ đột biến gen nên có tính chất di truyền, tức vi khuẩn bố mẹ truyền tính đề kháng này
lại cho con cháu và cứ thế phát triển mãi. Nhưng nguy hại hơn là 90% trường hợp còn lại là tính đề
kháng được truyền không chỉ từ vi khuẩn bố mẹ sang vi khuẩn con cái mà còn từ vi khuẩn loại này
sang qua vi khuẩn loại khác thông qua một số cấu trúc di truyền có tên là PLASMID. Thí dụ như vi
Hiểu & dùng thuốc đúng – Tác giả: PGS.TS Nguyễn Hữu Đức
NXB Trẻ
7
khuẩn bệnh thương hàn khi nhiễm vào cơ thể ta mà lại tiếp xúc được với một loại vi khuẩn sống bình
thường ở ruột mang tính đề kháng. Vi khuẩn bệnh thương hàn sẽ thu nạp plasmid có tính đề kháng của
vi khuẩn kia, nó sẽ có luôn tính đề kháng và tai hại là nó lại truyền tính đề kháng đó cho con cháu của
nó. Vì thế đừng lấy làm lạ, hiện nay vi khuẩn bệnh thương hàn đã đề kháng với nhiều loại kháng sinh
mà trước đây tỏ ra rất công hiệu.
Vấn đề đề kháng kháng sinh không phải mới được đặt ra trong thời gian gần đây mà có thể nói khi
kháng sinh đầu tiên được sử dụng thì cũng là lúc người ta phải đối đầu với hiện tượng đề kháng. Vào
năm 1941, kháng sinh đầu tiên là penicillin được dùng trong điều trị thì chỉ 3 năm sau, người ta phát
hiện loại vi khuẩn có tên là Staphylococcus aureus kháng lại penicillin khi ấy được xem là thuốc thần
diệu. Từ đó đến nay, các nhà khoa học không ngừng nghiên cứu tìm ra các kháng sinh mới để chống
lại các vi khuẩn đề kháng. Vào đầu những năm 1980, các bác sĩ điều trị có trong tay rất nhiều kháng
sinh mới. Nhưng từ 20 năm nay thì lại không phát hiện thêm kháng sinh mới nào cả. Và đã bắt đầu
thời điểm mà các kháng sinh có mặt không đủ để điều trị các bệnh nhiễm khuẩn. Vào tháng 5 năm
1996 một đứa trẻ 4 tháng tuổi người Nhật đã bị viêm nhiễm Staphylococcus aureus mà không một
kháng sinh nào có thể trị được. Chủng vi khuẩn này được cô lập và cho thấy nó đề kháng cả
vancomycine là kháng sinh được xem là loại dự trữ sau cùng có hiệu quả đối với tất cả các vi khuẩn
đề kháng mạnh nhất vào thời điểm này. Sự kiện này làm các nhà chuyên môn y dược trên thế giới rất
lo âu. Rõ ràng là hiện tượng vi khuẩn đề kháng sẽ tiếp tục là nỗi ám ảnh cho con người khi bước vào
thế kỷ 21.
Trên đây là phác họa không mấy sáng sủa về hiện tượng vi khuẩn đề kháng. Tuy nhiên, chính
chúng ta, những người sử dụng thuốc, có thể góp phần cải thiện tình trạng “lờn thuốc kháng sinh”
bằng cách lưu ý mấy điều sau đây:
1. Nên dành quyền chỉ định kháng sinh cho thầy thuốc. Không nên tự ý sử dụng kháng sinh một cách
bừa bãi, không đúng lúc, không đủ liều.
2. Khi được bác sĩ ghi đơn chỉ định dùng kháng sinh, nên dùng thuốc đúng liều lượng, đủ thời gian
như đã chỉ định, không nên ngưng, bỏ thuốc nửa chừng.
3. Lưu ý, có một số kháng sinh chống chỉ định, tức là không được dùng ở: phụ nữ có thai, phụ nữ cho
con bú, trẻ con. Đây là các đối tượng phải để bác sĩ khám bệnh và chỉ định kháng sinh khi cần
thiết. Sử dụng kháng sinh bừa bãi ở các đối tượng này có khi là nguy hiểm.
4. Một số bệnh nhiễm khuẩn thường có triệu chứng sốt nhưng không phải tất cả các trường hợp bị
nóng sốt đều là do nhiễm khuẩn. Hơn nữa, nếu thực sự bị nhiễm khuẩn, việc dùng kháng sinh đủ
liều thường kéo dài trong nhiều ngày (thông thường là từ 5 đến 7 ngày). Vì vậy, hoàn toàn không
nên chỉ mới thấy cảm sốt sơ sơ là vội uống vài viên thuốc kháng sinh rồi thôi (!).
Hiểu & dùng thuốc đúng – Tác giả: PGS.TS Nguyễn Hữu Đức
NXB Trẻ
8
5. Trên nguyên tắc, nếu vi khuẩn còn nhạy cảm với kháng sinh cổ điển, thông dụng thì sử dụng kháng
sinh loại này và tránh dùng kháng sinh loại mới. Hiện nay có tình trạng rất đáng lo là có một số
người bị bệnh nhưng không chịu đến bác sĩ để được khám và hướng dẫn điều trị mà lại nghe lời
mách bảo tìm mua các kháng sinh loại mới nhất (các fluoroquinolon, các
cephalosporin thế hệ thứ ba, thứ tư) để tự chữa bệnh mà lại dùng sai. Làm như thế không chỉ hại
cho bản thân bởi vì dùng thuốc không đúng bệnh sẽ nặng thêm mà vô tình có thể có hại cho cộng
đồng. Những kháng sinh mới thường được khuyến cáo chỉ dùng trong bệnh viện hoặc khi có sự chỉ
định cân nhắc của bác sĩ điều trị. Đó là thuốc quý có tính dự trữ, nếu sử dụng bừa bãi chắc chắn
trong thời gian ngắn sẽ bị lờn, bị đề kháng. Thử tưởng tượng đến lúc nào đó tất cả các kháng sinh
đều bị đề kháng và không tìm được thuốc mới để thay thế. Đó sẽ là thảm cảnh của nhân loại.
Hiểu & dùng thuốc đúng – Tác giả: PGS.TS Nguyễn Hữu Đức
NXB Trẻ
9

NHỮNG ĐIỀU NÊN VÀ KHÔNG NÊN KHI
SỬ DỤNG THUỐC KHÁNG SINH
Cũng giống như một đất nước luôn có lực lượng quân đội làm nhiệm vụ phòng thủ bảo vệ, cơ thể
ta có lực lượng gọi là hệ thống miễn dịch (gồm các tế bào bạch cầu, kháng thể ) luôn sẵn sàng chống
trả, tiêu diệt các vi sinh vật gây bệnh xâm nhập. Khi các vi sinh vật gây bệnh xâm nhập phát triển
nhanh và nhiều quá, vượt khỏi sự kiểm soát của hệ thống miễn dịch, sẽ làm cho ta mắc bệnh nhiễm
trùng. Có 2 loại vi sinh vật gây bệnh phổ biến là siêu vi (còn gọi là virus) và vi khuẩn. Khi mắc bệnh
nhiễm trùng, ta phải dùng thuốc gọi là kháng sinh nhưng kháng sinh chỉ có tác dụng trị bệnh nhiễm do
vi khuẩn chứ đa phần không trị được bệnh nhiễm do virus. Khởi đầu câu chuyện như vậy để cho thấy
rằng có những điều NÊN và KHÔNG NÊN trong sử dụng kháng sinh mà người sử dụng thuốc cần
biết để việc sử dụng thuốc được phát huy cao nhất lợi ích của nó.
Những điều NÊN tuân thủ khi sử dụng kháng sinh
Trước hết là những điều NÊN mà người sử dụng thuốc cần tuân thủ.
Nên biết kháng sinh là loại thuốc gì
Kháng sinh là những hợp chất trước đây có nguồn gốc thiên nhiên (tức được ly trích từ các vi sinh
vật như vi nấm) và nay được tổng hợp nhân tạo, có tác dụng ức chế sự phát triển hoặc tiêu diệt các vi
khuẩn gây bệnh. Kháng sinh là thuốc rất tốt, cho tác dụng lắm lúc được gọi là thần kỳ khi được sử
dụng đúng với sự chỉ định, hướng dẫn của bác sĩ điều trị. Còn nếu sử dụng không đúng, kháng sinh sẽ
gây nhiều tác hại khôn lường.
Nên biết kháng sinh có tác dụng như thế nào
Kháng sinh gây tổn hại vi khuẩn bằng cách làm hư hại thành phần cấu tạo của chúng như lớp vỏ
bảo vệ, màng trao đổi chất v.v Tuy nhiên, về phương diện điều trị, người ta quan tâm hai loại tác
dụng: tác dụng diệt khuẩn và tác dụng kìm khuẩn (kìm khuẩn có khi còn được gọi hãm khuẩn, trụ
khuẩn, tỉnh khuẩn). Kháng sinh diệt khuẩn là kháng sinh có tác dụng giết chết vi khuẩn, còn kháng
sinh kìm khuẩn chỉ làm cho con vi khuẩn ngưng phát triển, không sinh sản chứ không bị tiêu diệt.
Kháng sinh kìm khuẩn được dùng khi cơ thể người bệnh còn sức, hệ thống miễn dịch còn đủ mạnh để
tiêu diệt vi khuẩn bị thuốc làm cho yếu. Nếu cơ thể người bệnh quá yếu bắt buộc phải dùng loại kháng
sinh diệt khuẩn. Chỉ có thầy thuốc mới biết kháng sinh nào là diệt khuẩn, là kìm khuẩn và dùng trong
trường hợp nào.
Hiểu & dùng thuốc đúng – Tác giả: PGS.TS Nguyễn Hữu Đức
NXB Trẻ
10
Nên biết loại nhiễm trùng nào mới dùng kháng sinh
Như trên trình bày, kháng sinh chỉ được dùng trị bệnh nhiễm khuẩn chứ không dùng trị bệnh
nhiễm virus (như cảm cúm). Các bệnh nhiễm khuẩn thường gặp là viêm nhiễm tai mũi họng (như
viêm xoang, viêm tai giữa), viêm nhiễm đường hô hấp (viêm phế quản, viêm phổi), viêm đường tiết
niệu, nhiễm trùng da v.v
Nên biết kháng sinh có thể gây ra các tác dụng phụ
Tác dụng phụ do kháng sinh gây ra có thể chia làm 3 loại:
+ Dị ứng: nhẹ là nổi mề đay, ban đỏ, ngứa, nặng có thể đưa đến sốc phản vệ gây chết người.
+ Nhiễm độc các cơ quan: như độc đối với gan, thận (tetracyclin, sulfamid), độc với các tế bào
máu (cloraniphenicol), thần kinh thính giác (streptomycin, gentamycin gây điếc), xương răng
(tetracyclin làm hại răng trẻ con)
+ Loạn khuẩn đường ruột đưa đến tiêu chảy: đây là tác dụng phụ thường hay gặp, đối với trẻ có
thể gây mất nước nghiêm trọng và bệnh thiếu vitamin do tiêu chảy bởi kháng sinh.
Nên biết về hiện tượng gọi là đề kháng kháng sinh
Đề kháng kháng sinh là tình trạng do sử dụng kháng sinh không đúng (do dùng không đủ liều,
không đủ thời gian) làm cho vi khuẩn không bị tiêu diệt hoàn toàn, một số còn sống sót sẽ có khả năng
đề kháng lại kháng sinh đã sử dụng, kháng sinh đã sử dụng không còn tác dụng ở những lần điều trị
sau nữa.
Nên sử dụng kháng sinh theo sự chỉ định của bác sĩ
điều trị
Nên sử dụng kháng sinh theo sự chỉ định của bác sĩ điều trị, đặc biệt đối với trẻ con, khi nghi ngờ
trẻ bị bệnh nhiễm khuẩn, ta nên đưa trẻ đến bác sĩ khám và chỉ định thuốc. Rõ ràng là chỉ có bác sĩ
mới biết rõ khi nào sử dụng kháng sinh, cần chọn lựa loại gì để cho dùng đúng thuốc, đúng cách, đủ
liều, đủ thời gian. Nên lưu ý, để tránh hiện tượng đề kháng kháng sinh nêu ở trên, cần phải dùng thuốc
đúng liều lượng, đủ thời gian mà thầy thuốc đã chỉ định.
Những điều KHÔNG NÊN khi sử dụng kháng sinh
Sau đây là những điều KHÔNG NÊN, cần phải tuân thủ.
Không nên tự ý sử dụng kháng sinh
Ở nhiều nước trên thế giới, chỉ có thể mua kháng sinh ở nhà thuốc khi có đơn thuốc được ghi bởi
bác sĩ. Ở nước ta trước đây, Bộ Y tế có quy định một số rất ít kháng sinh được mua không cần đơn,
nhưng nói chung, tình trạng tự ý sử dụng kháng sinh bất cứ loại nào vẫn còn phổ biến. Nhiều kháng
Hiểu & dùng thuốc đúng – Tác giả: PGS.TS Nguyễn Hữu Đức
NXB Trẻ
11
sinh thuộc loại rất mới, thuộc loại chỉ dùng hạn chế trong bệnh viện, lại bị lạm dụng dùng bừa bãi. Xin
được nhắc lại, chỉ có bác sĩ điều trị mới có đủ thẩm quyền xác định loại bệnh nhiễm và loại kháng sinh
dùng thích hợp.
Không nên ngưng sử dụng kháng sinh nửa chừng hoặc kéo dài sử dụng
Thông thường, một số kháng sinh dùng đủ liều cho cả đợt phải từ 7 đến 10 ngày, thậm chí có thể
kéo dài hơn tùy theo loại bệnh và sự tiến triển của bệnh. Ta phải theo đúng chỉ định dùng thuốc, tức là
dùng đúng liều, đủ thời gian theo đơn thuốc của bác sĩ. Đừng vì thấy bệnh có thể đỡ mà ngưng việc
dùng thuốc, vi khuẩn không bị tiêu diệt hết trỗi dậy, vừa hại cá nhân người bệnh do làm bệnh tái phát,
vừa hại cộng đồng vì làm gia tăng sự đề kháng thuốc kháng sinh. Còn sử dụng kéo dài coi chừng bị tai
biến.
Không nên dùng lại kháng sinh trước đây đã dùng còn thừa để lại trong tủ thuốc
Bởi vì thuốc có thể quá hạn gây hại. Rất nhiều kháng sinh quá hạn dùng có độc tính rất cao (như
tetracyclin quá hạn gây độc cho thận).
Không nên chỉ người khác sử dụng kháng sinh khi thấy bệnh người đó na ná giống mình
Bởi vì triệu chứng bệnh có vẻ giống nhưng nguyên nhân bệnh có thể khác. Như sốt không phải là
triệu chứng của mọi bệnh nhiễm khuẩn. Hơn nữa, một kháng sinh thích hợp cho người này nhưng
không thích hợp, thậm chí gây tai biến nặng nề cho người khác.
Hiểu & dùng thuốc đúng – Tác giả: PGS.TS Nguyễn Hữu Đức
NXB Trẻ
12

MỘT SỐ THẮC MẮC TRONG SỬ DỤNG
KHÁNG SINH
Sử dụng kháng sinh nhất thiết phải đạt hiệu quả, an toàn và hợp lý. Người không có những hiểu
biết cơ bản về kháng sinh không thể nào sử dụng đạt các mục tiêu vừa kể. Có lời khuyên phải dùng
kháng sinh theo chỉ định của bác sĩ là vì bác sĩ là người biết rõ việc sử dụng kháng sinh, biết khi nào
sử dụng, cần lựa chọn loại gì để cho dùng đúng thuốc, đúng cách, đủ liều, đủ thời gian. Chính người
trực tiếp sử dụng thuốc cũng cần có những hiểu biết cơ bản về kháng sinh, phải biết thắc mắc để tìm
hiểu những điều còn nghi ngờ với những nhà chuyên môn là bác sĩ, dược sĩ về sử dụng kháng sinh để
sử dụng kháng sinh sao cho đúng. Một số thắc mắc về sử dụng kháng sinh đặc biệt ở trẻ con thường
được nêu ra, nên xin trình bày ở đây cùng với lời giải đáp.
Nghe nói trẻ bị sốt, cảm cúm là bị nhiễm trùng, tại sao không được dùng ngay kháng sinh?
- Một số bệnh nhiễm khuẩn thường có triệu chứng sốt nhưng không phải tất cả các trường hợp sốt
đều do nhiễm khuẩn. Thí dụ, trẻ có thể bị sốt do mọc răng hay cảm nắng. Do vậy, khi trẻ bị sốt thì
đừng vội cho uống ngay kháng sinh mà hãy tìm cách hạ nhiệt cho trẻ bằng cách cho dùng thuốc hạ
nhiệt Paracetamol hay đắp trán, lau mình bằng khăn nhúng nước mát. Còn đối với cảm cúm là do siêu
vi (còn gọi là virus, vi rút) gây ra thì kháng sinh không có tác dụng chữa trị. Có thể trẻ bị viêm mũi,
viêm hầu họng, nhưng chỉ bị nhiễm siêu vi và chưa có biến chứng thì dùng kháng sinh không những
không có tác dụng mà còn có thể gây tình trạng đề kháng kháng sinh (kháng thuốc) về sau. Trong
trường hợp này, nếu trẻ bị sốt chỉ nên cho dùng thuốc hạ nhiệt, kèm theo hút sạch mũi, nhỏ mũi nước
muối sinh lý 0,9% (pha 9 gram muối NaCl trong 1 lít nước sạch, hoặc hỏi mua ở nhà thuốc). Nếu nghi
ngờ trẻ bị nhiễm khuẩn, nên cho trẻ đến khám ở bác sĩ để định bệnh chính xác và chỉ định dùng kháng
sinh khi cần thiết. Xin được nhắc lại, cho trẻ dùng kháng sinh theo sự chỉ định của bác sĩ là an toàn
nhất. Chỉ có bác sĩ mới xác định được trường hợp nhiễm siêu vi kèm theo loại nhiễm vi khuẩn (triệu
chứng viêm nhiễm kéo dài không bớt có xu hướng nặng thêm). Lúc này rõ ràng dùng kháng sinh là
cần thiết, bác sĩ sẽ cho dùng kháng sinh.
Biết rằng dùng kháng sinh bắt buộc phải đủ liều, tại sao ở những lần khám bệnh khác nhau,
bác sĩ chỉ định cho dùng thuốc khác nhau, như có lần bác sĩ cho dùng 3 lần (còn gọi là 3 cữ)
trong ngày, lần khác lại là 2 lần/ngày, nhưng đặc biệt có khi chỉ dùng 1 liều duy nhất trong
ngày?
Hiểu & dùng thuốc đúng – Tác giả: PGS.TS Nguyễn Hữu Đức
NXB Trẻ
13
Tuy bác sĩ chỉ định cho dùng thuốc số lần khác nhau như thế nhưng đều là đúng liều. Bởi vì tùy
theo loại kháng sinh, có kháng sinh bị đào thải ra khỏi cơ thể nhanh quá, phải dùng nhiều lần thuốc
trong ngày, nhưng có kháng sinh được giữ lại trong cơ thể ta lâu hơn và duy trì tác dụng, ta chỉ cần
dùng một lần duy nhất trong ngày. Như erythromycin là kháng sinh thông thường phải uống 3-4
lần/ngày, trong khi đó azithromycin là kháng sinh mới cùng nhóm macrolid với erythromycin chỉ cần
uống 1 lần trong ngày.
Biết rằng dùng kháng sinh phải đủ thời gian, tức trẻ con bị bệnh bác sĩ chỉ định dùng thuốc
10 ngày nhưng đến ngày thứ 5 cháu có vẻ hoàn toàn khỏi, ngưng dùng thuốc ở đây có được
không? Hoặc biết rằng đợt điều trị thông thường đối với nhiều kháng sinh phải từ 5 ngày trở
lên, thế tại sao gần đây trẻ em bị viêm tai giữa được khám, bác sĩ cho uống kháng sinh chỉ trong
3 ngày?
Nên lưu ý, phải dùng kháng sinh theo đúng chỉ định của bác sĩ. Triệu chứng bệnh như sốt, đau
(như đau họng trong viêm họng) có vẻ hết nhưng nhiễm khuẩn vẫn còn, ta cần dùng kháng sinh đủ
thời gian theo đơn thuốc của bác sĩ để tiêu diệt hết vi khuẩn. Thông thường, dùng kháng sinh đủ thời
gian phải từ 5 ngày trở lên. Tuy nhiên, một số kháng sinh mới được dùng gần đây có thể rút ngắn thời
gian điều trị. Như azithromycin có thể dùng trong 3 ngày, cho hiệu quả điều trị một số bệnh nhiễm
khuẩn tương đương với một số kháng sinh khác phải uống trong 10 ngày.
Trẻ con được bố mẹ cho dùng kháng sinh nhầm với liều dành cho người lớn bị ngứa, nổi mẫn
ngoài da, phải chăng dùng quá liều kháng sinh thì bị dị ứng?
- Trường hợp dùng quá liều thuốc bị tai biến được gọi là ngộ độc thuốc. Đối với dị ứng thuốc,
trong đó có dị ứng kháng sinh, chỉ cần tiếp xúc với liều thật nhỏ vẫn có thể bị rối loạn này. Có rất
nhiều tác nhân trong môi trường, thức ăn, thức uống, gây ra dị ứng, vì vậy, trong trường hợp vừa nêu
không thể khẳng định dị ứng là do dùng kháng sinh. Điều hết sức lưu ý là đối với trẻ, phải dùng thuốc
đúng liều. Kháng sinh ít gây tai biến do dùng quá liều so với nhiều thuốc khác.
Hiểu & dùng thuốc đúng – Tác giả: PGS.TS Nguyễn Hữu Đức
NXB Trẻ
14

KHÔNG ĐỰƠC DÙNG THUỐC QUÁ LIỀU
Trong sử dụng thuốc, luôn luôn có lời khuyên “phải dùng thuốc đúng liều, đủ thời gian”. Đúng
liều ở đây có nghĩa là phải dùng thuốc theo đúng số lượng thuốc đã được chỉ định (tức là đã được bác
sĩ ghi trong toa hoặc theo hướng dẫn sử dụng thuốc) cho một lần dùng thuốc hoặc cho cả ngày (tức 24
giờ). Còn đủ thời gian là phải dùng cho đủ số ngày đã được ấn định (như theo một phác đồ điều trị
bệnh lao, phải dùng thuốc trong 9 tháng chẳng hạn). Có khá nhiều người quan tâm đến lời khuyên
phải dùng thuốc đúng liều nhưng đặt trường hợp “vì vô tình lỡ uống thuốc quá liều” thì sẽ dẫn đến
việc gì và phải làm gì để xử trí?
Trước hết, ta nên biết việc dùng thuốc không đúng liều gồm 2 trường hợp: dùng không đủ liều và
dùng quá lâu. Cả 2 trường hợp đều dẫn đến hậu quả không tốt. Dùng thuốc không đủ liều không chỉ
không trị dứt được bệnh của cá nhân người bệnh mà có khi gây hại cho cộng đồng. Như sử dụng
kháng sinh không đủ liều có thể dẫn đến hiện tượng vi khuẩn đề kháng thuốc, vi khuẩn đề kháng này
không bị tiêu diệt sau đó sẽ gây hại cho bất cứ ai bị nó xâm nhiễm. Còn dùng thuốc quá liều sẽ gây tác
hại cho chính sức khỏe của người dùng thuốc, thậm chí có thể gây tử vong. Bởi vì, với hầu hết các
thuốc, nếu dùng đúng liều thì đó là thuốc chữa bệnh, còn nếu dùng quá liều đó là chất độc không hơn
không kém.
Liều dùng của thuốc hay còn gọi liều điều trị không phải được ấn định một cách tùy tiện mà phải
trải qua quá trình nghiên cứu được gọi là thử tác dụng dược lý để tìm ra. Trước hết, thuốc phải thử độc
tính, xác định “tứ liều 50” (lethal dose 50, viết tắt LD50) tức thử trên một số đối tượng súc vật
(thường là chuột nhắt trắng), để xác định liều gây chết 50% súc vật đó. Để từ đó xác định “liều tối
đa”, tức là liều không thể vượt, nếu vượt qua liều tối đa sẽ gây độc hoặc gây chết Cũng thử trên súc
vật, các nhà dược học xác định “liều tối thiểu”, tức là liều mà nếu dùng thấp hơn sẽ không có được
tác dụng của thuốc (như hạ huyết áp hay an thần chẳng hạn). Liều điều trị sẽ được xác định và sẽ nằm
giữa liều tối thiểu và liều tối đa. Thuốc càng an toàn, tức ít độc, khi khoảng cách giữa liều điều trị và
liều tối đa càng lớn, còn thuốc dễ gây độc tính khi khoảng cách đó hẹp, tức liều điều trị quá gần liều
tối đa hay liều độc. Như vậy ta thấy phải trải qua quá trình nghiên cứu thực hiện mới xác định được
liều điều trị và liều này sẽ tùy theo cơ thể người bệnh, tình trạng bệnh mà được ấn định để phát huy
cao nhất tác dụng điều trị và hạn chế thấp nhất các tác dụng phụ hay tai biến.
Tùy theo thời gian thuốc cho tác dụng mà ta có liều dùng cho 1 lần, liều dùng cho 24 giờ (tức cả
ngày), liều dùng cho 1 đợt điều trị. Thí dụ, đối với một số nhiễm khuẩn thông thường, liều dùng 1 lần
cho người lớn là 1 viên Amoxicillin 500mg, liều cho cả ngày là uống 3 hoặc 4 lần, và liều cho một đợt
điều trị là uống 10 ngày. Đối với trẻ con, liều thường tính trên cân nặng, thí dụ liều

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét