máu chảy, sẽ bộc lộ một tiềm năng ý nghĩa lớn hơn nhiều so với ý
nghĩa dễ nhận thấy gắn liền với việc diễn tả âm thanh tuôn trào, sôi
động của tiếng đàn. Tiếng đàn giống như tiếng kêu cứu của con người,
của cái đẹp trong thời khắc bị đẩy tới chỗ tuyệt diệt. Không có gì khó
hiểu khi dưới ngòi bút Thanh Thảo, tiếng đàn cũng có màu (nâu,
xanh), có hình thù (tròn), có sinh mệnh (ròng ròng máu chảy), bởi
tiếng đàn ở đây chính là sự cảm nhận của nhà thơ nay về tiếng đàn
xưa. Theo đó, tiếng đàn không còn là tiếng đàn cụ thể nữa, nó là sự
sống muôn màu hiện hình trong thơ Lor-ca và là sinh quyển văn hoá,
sinh quyển chính trị - xã hội bao quanh cuộc đời, sự nghiệp Lor-ca.
Rồi màu đỏ gắt của tấm áo choàng, không nghi ngờ gì, là sáng tạo của
Thanh Thảo. Nó không đơn thuần là màu của một trang phục. Nó có
khả năng ám gợi một điều kinh rợn sẽ được nói rõ ra trong khổ thơ sau
: áo choàng bê bết đỏ - tức là tấm áo choàng đẫm máu của Lor-ca, của
bao con người vốn chỉ biết hát nghêu ngao niềm yêu cuộc đời với trái
tim hồn nhiên, ngây thơ, trong trắng, khi bị điệu về bãi bắn một cách
tàn nhẫn, phũ phàng, phi lí (câu thơ chàng đi như người mộng du có
phần thể hiện sự phi lí không thể nào nhận thức nổi này). Cùng một
cách nhìn như thế, độc giả sẽ thấy những thi liệu của thơ Lor-ca (mà
truy nguyên, một phần không nhỏ vốn là thi liệu của những bài dân ca
An-đa-lu-xi-a) như hình ảnh người kị sĩ đi lang thang, yên ngựa, vầng
trăng đã thực sự được tái sinh lần nữa trong một hình hài mới và gây
được những ấn tượng mới. Các từ miền đơn độc, chếnh choáng, mỏi
5
5
mòn gắn với chúng đã tạo ra một trường nghĩa chỉ sự mệt mỏi, bất lực,
bồn chồn, thắc thỏm không yên của con người khi đối diện thực sự với
cái bản chất phong phú vô tận của cuộc sống. Với kiểu tạo điểm nhấn
ngôn từ của Thanh Thảo, ta hiểu rằng cảm giác đó không chỉ có ở Lor-
ca. Nó là một hiện tượng có tính phổ quát, không của riêng ai, không
của riêng thời nào, tất nhiên, chỉ được biểu hiện đậm nét và thực sự trở
thành "vấn đề" trong thơ của những nhà thơ luôn thắc mắc về ý nghĩa
của tồn tại. Gồm một chuỗi âm thanh mơ hồ khó giải thích, dòng thơ
li-la li-la li-la xuất hiện hai lần trong thi phẩm một mặt có tác dụng
làm nhoè đường viền ý nghĩa của từng hình ảnh, biểu tượng đã được
ném ra chừng như lộn xộn, mặt khác, đảm nhiệm một phần chức năng
liên kết chúng lại thành một chỉnh thể, nhằm biểu hiện tốt nhất cái
nhìn nghệ thuật của tác giả và giải phóng bài thơ khỏi sự trói buộc của
việc thuật, kể những chuyện đã xảy ra trong thực tế. Quả vậy, dù
không có sự kiện nào của cuộc đời Lor-ca được kể lại một cách rành
mạch, chi tiết, nhưng độc giả hiểu thơ không vì thế mà cho rằng thiếu.
Cái người ta thấy đáng quan tâm lúc này nằm ở chỗ khác. Đó là sự tự
bộc lộ của chủ thể sáng tạo khi ráo riết suy nghĩ về số phận đầy bất
trắc của nghệ thuật và khả năng làm tan hoà những suy nghĩ ấy trong
một thứ nhạc thơ tác động vào người tiếp nhận bằng hình thức ám gợi
tượng trưng hơn là hình thức giãi bày, kể lể kiểu lãng mạn. Tất nhiên,
chúng ta có quyền cắt nghĩa tại sao lại li-la chứ không phải là cái gì
khác. Hoa li-la (tử đinh hương) với màu tím mê hoặc, nao lòng, từng
6
6
là đối tượng thể hiện quen thuộc của nhiều thi phẩm và hoạ phẩm kiệt
xuất trong văn học, nghệ thuật phương Tây chăng ? Hay đó là âm
thanh lời đệm (phần nhiều mang tính sáng tạo đột xuất) của phần diễn
tấu một ca khúc, hoặc nữa là âm thanh mô phỏng tiếng ngân mê đắm
của các nốt đàn ghi ta dưới tay người nghệ sĩ ? Tất cả những liên hệ
ấy đều có cái lí của chúng !
ở nửa sau của bài thơ, tác giả suy tưởng về sức sống kì diệu của
thơ Lor-ca nói riêng và về sự trường tồn của nghệ thuật chân chính nói
chung, vốn được sáng tạo bằng chính trái tim nặng trĩu tình yêu cuộc
sống của các nghệ sĩ :
không ai chôn cất tiếng đàn
tiếng đàn như cỏ mọc hoang
giọt nước mắt vầng trăng
long lanh đáy giếng
đường chỉ tay đã đứt
dòng sông rộng vô cùng
Lor-ca bơi sang ngang
trên chiếc ghi ta màu bạc
chàng ném lá bùa cô gái Di-gan
7
7
vào xoáy nước
chàng ném trái tim mình
vào lặng yên bất chợt
li-la li-la li-la
Câu thơ không ai chôn cất tiếng đàn có lẽ đã được bật ra
trong tâm thức sáng tạo của Thanh Thảo khi ông nghĩ tới lời thỉnh cầu
của Lor-ca trong bài Ghi nhớ - lời thỉnh cầu đã được dùng làm đề từ
cho bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca. Không, ở đây không có thao tác
đối lập sắc lẻm của lí trí mà nhiều thi sĩ ưa dùng trong các bài thơ
"chân dung" hay "ai điệu", nhằm làm nổi bật những tứ thơ "mới"
mang tính chất "ăn theo". Chỉ có sự đau đớn trước cái chết thảm khốc
của một thi tài mãnh liệt, mà xác bị quăng xuống một giếng sâu (hay
vực ?) gần Gra-na-đa. Dĩ nhiên, ý nguyện của Lor-ca - một ý nguyện
thể hiện chất nghệ sĩ bẩm sinh hoàn hảo của nhà thơ, nói lên sự gắn bó
vô cùng sâu nặng của ông đối với nguồn mạch dân ca xứ sở - đã
không được thực hiện. Nhưng nghĩ về điều đó, những liên tưởng dồn
tới và ta bỗng vỡ ra một chân lí : không ai chôn cất tiếng đàn và dù
muốn chôn cũng không được ! Đây là tiếng đàn, một giá trị tinh thần,
chứ không phải là một cây đàn vật thể. Tiếng đàn ấy trường cửu cùng
tự nhiên và hơn thế, bản thân nó chính là tự nhiên. Nó vẫn không
ngừng vươn lên, lan toả, ngay khi người nghệ sĩ sáng tạo ra nó đã
8
8
chết. Dù thật sự thấm thía chân lí nói trên, tác giả vẫn không ngăn nổi
lòng mình khi viết ra những câu thơ đau xót hết mực, thấm đượm một
cảm giác xa vắng, bơ vơ, côi cút, như cảm giác của ta khi thấy cỏ mọc
hoang đang ngao hát bài ca vắng người giữa mang mang thiên địa.
Không phải ngẫu nhiên mà trong ít nhất hai phương án ngôn từ có thể
dùng, Thanh Thảo đã lựa chọn cách diễn đạt không ai chôn cất chứ
không phải là không ai chôn được ! Đến lượt độc giả, giọt nước mắt
vầng trăng cứ mãi làm ta thao thức, dù nó long lanh trong im lặng, và
hình như càng im lặng trong thăm thẳm đáy giếng, nó lại càng long
lanh hơn bao giờ hết.
Từ câu đường chỉ tay đã đứt đến cuối bài, nhịp điệu, tiết tấu của
thi phẩm không còn gấp gáp và dồn bức nữa. Nó chậm rãi và lắng sâu.
Điều này tuân theo đúng lô gích tái hiện và suy ngẫm (tạm quy về
phạm trù "nội dung") mà tác giả chọn lựa. Nhưng quan trọng hơn, nó
tuân theo lô gích tồn tại của chính cuộc đời : tiếp liền cái chết là sự
sinh thành, sau bộc phát, sôi trào là tĩnh lặng, trầm tư, nối theo sự mù
loà, khủng hoảng (của xã hội loài người) là sự khôn ngoan, chín
chắn, Trong muôn nghìn điều mà con người phải nghĩ lại khi đã
"khôn dần lên", sự hiện diện của nghệ thuật trong đời sống là một
trong những điều khiến ta trăn trở nhiều nhất. Việc quy tội, kết tội cho
một đối tượng cụ thể nào đó đã đối xử thô bạo với nghệ thuật không
còn là chuyện thiết yếu nữa. Hãy lắng lòng để chiêm ngưỡng một sự
siêu thoát, một sự hoá thân. Trên dòng sông của cuộc đời, của thời
9
9
gian vĩnh cửu mà trong khoảnh khắc bừng tỉnh thoát khỏi mê lầm, ta
tưởng thấy nó hiện hình cụ thể và dăng chiếu ngang trời, có bóng
chàng nghệ sĩ Lor-ca đang bơi sang ngang trên chiếc ghi ta màu bạc.
Chàng đang vẫy chào nhân loại để đi vào cõi bất tử. Chiếc ghi ta, cũng
là con thuyền thơ chở chàng, có ánh bạc biêng biếc, hư ảo một màu
huyền thoại
Trên thực tế, cái chết của Lor-ca là cái chết tức tưởi do bọn phát
xít Frăng-cô gây nên. Nhưng nhìn suốt chiều dài lịch sử, ta thấy Lor-
ca không phải là trường hợp nghệ sĩ đầu tiên hay cuối cùng chịu kết
cục bi thương bởi các thế lực thù địch với cái đẹp. Vậy phải chăng có
thể xem những khổ nạn liên tục là một phần tất yếu trong định mệnh
của họ ? Hẳn Thanh Thảo đã nghĩ vậy khi viết tiếp những câu thơ thật
gọn nghẽ, "nhẹ nhõm" và "mênh mang" (ta hãy chú ý tới điểm rơi cuối
dòng thơ của các từ, cụm từ như đã đứt, vô cùng, sang ngang). Dù ai
tiếc thương mặc lòng, đối với người nghệ sĩ như Lor-ca, khi đường
chỉ tay đã đứt (đường chỉ tay như dấu ấn của số mệnh đóng lên cơ thể
con người), chàng đã dứt khoát được giải thoát. Còn nuối làm chi lá
bùa hộ mệnh được xem là vật tàng trữ những sức mạnh thần diệu mà
cô gái Di-gan trao cho. Chàng, dứt khoát và mạnh mẽ, ném nó "chìm
lỉm" (chữ của Hàn Mặc Tử) vào xoáy nước hư vô, như ném trái tim
mình vào lặng yên bất chợt - cái lặng yên của sự "đốn ngộ", cái lặng
yên sâu thẳm, anh minh, mà ở đó, lời nói đã tan đi trong chính nó.
Chàng đã đoạt lấy thế chủ động trước cái chết của mình. Chàng đã
10
10
thắng không chỉ lũ ác nhân mà còn thắng cả chính định mệnh và hư vô
nữa. Từ điểm này nhìn lại, ta bỗng thấy câu thơ chàng đi như người
mộng du ở phần trên có thêm tầng nghĩa mới. Bị lôi đến chỗ hành
hình, Lor-ca vẫn sống như người trong cõi khác. Chàng đang bận tâm
đuổi theo những ý nghĩ xa vời. Chàng đâu thèm chú ý tới máu lửa
quanh mình lúc đó. Chàng đã không chấp nhận sự tồn tại của bạo lực.
Chàng chết, nhưng kẻ bất lực lại chính là lũ giết người ! ở đây, có một
cái gì gợi ta nhớ tới sự tuẫn nạn của Chúa Giê-su trên núi Sọ. Lại thêm
một "văn bản" nữa ẩn hiện tỏ mờ dưới văn bản thơ của Thanh Thảo[1]
!
Trong đoạn thơ cuối bài vừa phân tích, người đọc càng nhìn thấy
rõ hơn sự vững vàng của tác giả trong việc phối trí các hình ảnh, biểu
tượng lấy từ nhiều "văn bản" khác nhau vào một tổng thể hài hoà.
Tưởng không có gì chung giữa đường chỉ tay, lá bùa, xoáy nước và cả
lặng yên nữa. Vậy mà, nhờ được "tắm" trong một "dung môi" cảm xúc
có cường độ mạnh cùng sự suy tư có chiều sâu triết học, tất cả chúng
trở nên ăn ý với nhau lạ lùng để cùng cất tiếng khẳng định ý nghĩa của
những cuộc đời dâng hiến hoàn toàn cho nghệ thuật, cũng là cho một
nhu cầu tinh thần vĩnh cửu của loài người. Là sản phẩm tinh tuý của
những cuộc đời như thế, thơ ca làm sao có thể chết ? Nó tồn tại như là
hơi thở xao xuyến của đất trời. Nó gieo niềm tin và hi vọng. Nó khơi
dậy khát khao hướng về cái đẹp. Nó thanh lọc tâm hồn để ta có được
tâm thế sống an nhiên giữa cuộc đời không thôi xáo động, vĩnh viễn
11
11
xáo động. Muốn mô tả nó ư ? Chỉ có thể, như Thanh Thảo, sau một
thoáng mặc tưởng, bật thốt lên : li-la li-la li-la
Để lòng mình ngân theo chuỗi âm thanh ấy, ta hiểu rằng trong
cuộc tương tranh không ngừng và hết sức thú vị giữa những cách diễn
tả đặc hữu của văn học và cách diễn tả mang tính chất ám gợi huyền
hồ của âm nhạc, cuối cùng, ở bài thơ của Thanh Thảo, cách diễn tả
của âm nhạc đã chiếm ưu thế. Điều này hiển nhiên là một sự lựa chọn
có ý thức. Để nói về nỗi cô đơn, cái chết, sự lặng yên, "lời" vẫn
thường gây vướng víu, gây nhiễu. Chỉ có nhạc với khả năng thoát khỏi
dấu ấn vật chất của sự vật khi phản ánh nó, trong trường hợp này, là
phương tiện thích hợp. Tất nhiên, Thanh Thảo không phải đang làm
nhạc mà là làm thơ. Nói nhạc ở đây không có gì khác là nói tới cách
thơ vận dụng phương thức của nhạc - cái phương thức ám thị, khước
từ mô tả trực quan - để thấu nhập bề sâu, "bề xa" của sự vật. Từ lâu,
các nhà thơ tượng trưng chủ nghĩa đã hướng tới điều này. Dù không
nhất thiết phải quy Đàn ghi ta của Lor-ca vào loại hình thơ nào, ta vẫn
thấy nó đậm nét tượng trưng. Chẳng có gì lạ khi với bài thơ này,
Thanh Thảo muốn thể hiện mối đồng cảm sâu sắc đối với Lor-ca
cây đàn thơ lạ lùng trong nền thi ca nhân loại ở nửa đầu của thế kỉ XX
đầy bi kịch
Ai đã đặt tên cho dòng sông
12
12
Ai đã đặt tên cho dòng sông?
Hoàng Phủ Ngọc Tường
I. Về thể loại - loại hình
Ai đã đặt tên cho dòng sông ? là tác phẩm nằm trong loại hình kí và thuộc thể
loại bút kí văn học. Bút kí văn học có dung lượng gần như truyện ngắn, ghi chép
về những sự kiện, con người có thực, đồng thời trình bày trực tiếp cảm nhận, suy
nghĩ của tác giả về những sự kiện, con người ấy. Đọc một bút kí, cái mà người
ta chờ đợi trước hết là tính có vấn đề của nó, gắn liền với việc tác giả thể hiện
được những khám phá sâu sắc về đối tượng, đề xuất được những tư tưởng, quan
niệm có ý nghĩa đối với đời sống hiện tại.
Ranh giới giữa bút kí văn học và tuỳ bút văn học nhiều khi khá nhập nhằng, đặc
biệt trong trường hợp tác giả quan tâm nhiều tới việc biểu lộ cái tôi nghệ sĩ
phóng khoáng, tự do, giàu tiềm lực văn hoá của mình và chọn một hình thức
diễn tả có duyên, đầy màu sắc biểu cảm, chứa đựng nhiều liên tưởng, tưởng
tượng độc đáo Do có những đặc điểm vừa nói, Ai đã đặt tên cho dòng sông ?
cũng có thể được xem là một thiên tuỳ bút đặc sắc (xem thêm phần nói về thể
tuỳ bút ở bài Người lái đò Sông Đà).
II. tiếp cận văn bản
Viết về bất cứ dòng sông nào trên trái đất, người ta cũng cần có, cần thể hiện
được một tình yêu tha thiết, lắng sâu và một sự am tường không hề sách vở về
những vấn đề địa lí, lịch sử và văn hoá gắn liền với chúng. Bởi các dòng sông
luôn là cái nôi của những vùng, những nền văn hoá đa dạng, lắm sắc màu và là
đối tượng mà các cư dân sống trong vòng tay của chúng phải vô hạn biết ơn.
Viết về con sông Hương cũng cần và lại càng cần như vậy. Đây là một thách
thức nhưng là thách thức đã được chuyển hoá thành niềm giục giã đầy tự nhiên,
đầy xao xuyến trong tâm hồn những ai yêu sông Hương, yêu Huế. May thay,
chúng ta đã có được những nhà thơ, nhà văn tài năng vượt qua được các thách
thức nói trên để tặng cho sông Hương những tác phẩm bất hủ[1]. Trong những
nhà thơ, nhà văn đó có Hoàng Phủ Ngọc Tường, người đã viết nên một thiên
tuyệt bút có nhan đề là Ai đã đặt tên cho dòng sông ?
13
13
Vang lên từ nhan đề, trước hết, câu hỏi Ai đã đặt tên cho dòng sông ? có dáng
dấp của một thoáng ngẩn ngơ rất thi sĩ (và theo chính tác giả cho biết thì đó là
câu hỏi của một thi sĩ đích thực). Từ thoáng ngẩn ngơ này, bao nhiêu ấn tượng
về cái đẹp của sông Hương sẽ ùa về trong tâm trí, khơi lên mạch viết dạt dào
cảm xúc về "nhan sắc" thiên phú của dòng nước êm đềm chảy qua Huế cố đô.
Vang lên những lần khác trong tác phẩm[2], câu hỏi biến thành một nỗi suy tư
thâm trầm, đánh động bao vốn liếng văn hoá tích tụ trong người viết và cũng đòi
nó phải được hiện diện trên trang giấy. Vậy đó, ta đang nói đến những mạch
cảm hứng lớn đã dẫn dắt nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đến và đi với sông
Hương, để rồi tiếp nữa, làm một cuộc viễn du vào lòng muôn độc giả, đóng vai
người truyền cảm hứng cho họ bộc lộ tình yêu xứ sở hết sức thiết tha của mình.
Thông thường, người ta hay sử dụng phép nhân hoá khi miêu tả thiên nhiên. Kể
cũng là điều dễ hiểu, bởi trong văn học, các đối tượng không bao giờ xuất hiện
như những "khách thể tự nó" mà như những "vật" thể hiện nỗ lực của con người
nhằm chủ quan hoá toàn bộ thế giới khách quan. Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng
đã nhân hoá sông Hương. Nhưng nhân hoá ở đây không chỉ là nhân hoá trong
từng đoạn miêu tả rời rạc với mục đích làm cho câu văn, hình ảnh trở nên sinh
động. Ông đã thực sự xây dựng sông Hương thành một nhân vật, một con người,
để được chuyện trò, đối thoại cùng nó. Điều này hoàn toàn hợp lẽ, bởi chẳng
phải ta vẫn quen nghĩ rằng các dòng sông vừa là kẻ đồng sáng tạo, vừa là chứng
nhân lịch sử, văn hoá của một vùng đất hay sao ? Dưới ngòi bút tài hoa và cái
nhìn đầy mê đắm, trân trọng của tác giả, sông Hương cũng có một cuộc đời
phong phú trải qua nhiều giai đoạn, khi gian truân, khi êm đềm. Giữa lòng
Trường Sơn, nó chính là "một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại", có "bản
lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng". Còn khi đã ra khỏi rừng, "sông
Hương nhanh chóng mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành người mẹ
phù sa của một vùng văn hoá xứ sở". Sông Hương có "phần tâm hồn sâu thẳm",
có vẻ mặt lúc trầm mặc, lúc vui tươi, có thái độ đầy ân tình với Huế khi dành
cho cố đô "điệu slow tình cảm" vô cùng giàu ý nghĩa Tác giả đã thực sự trở
thành một tri kỉ của sông Hương, hiểu ngọn ngành khí chất của nó, và hơn thế,
còn chu đáo đề xuất với chúng ta một cách nhìn toàn diện về người bạn của
mình : "Nếu chỉ mải mê nhìn ngắm khuôn mặt kinh thành của nó, tôi nghĩ rằng
người ta sẽ không hiểu một cách đầy đủ bản chất của sông Hương ". Ông dõi
theo từng khúc quanh, nét lượn, bước ngoặt rất cụ thể của sông Hương để nói
với độc giả về những "ý tứ" mà sông Hương muốn biểu lộ trước con người và
miền đất Châu Hoá xưa : "Nhưng ngay từ đầu vừa ra khỏi vùng núi, sông Hương
đã chuyển dòng một cách liên tục, vòng giữa khúc quanh đột ngột, uốn mình
theo những đường cong thật mềm, như một cuộc tìm kiếm có ý thức để đi tới
nơi gặp thành phố tương lai của nó. Từ ngã ba Tuần, sông Hương theo hướng
14
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét