Thứ Bảy, 8 tháng 3, 2014
Tài liệu Luận văn Những đặc điểm và xu thế của thời đại ngày nay và tác động của nó đến Việt Nam trong công cuộc đổi mới ở nước ta pptx
5
xã hội, chống áp bức, bất công, đấu tranh ngăn chặn, khắc phục những tư tưởng và
hành động tiêu cực, sai trái, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động
chống phá của các thế lực thù địch; bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng nước ta thành
một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh, nhân dân hạnh phúc. Đồng thời Đảng ta
cũng khẳng định: Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân
trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức da Đảng lãnh đạo, kết
hợp hài hòa các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiền năng và nguồn
lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội.Liên kết dân tộc ta với các dân tộc
trên thế giới, các giai cấp có sự lien hệ với nhau với các giai cấp trên thế giới để
vừa học hỏi vừa trao đổi kinh nghiệm với nhau.
2. Tiêu cực: Hiện nay một số kẻ phản động trong nước cũng như nước ngoài
đang âm mưu phá hoại chế độ chủ nghĩa xã hội, chúng lợi dụng trình độ hiểu biết,
nhận thức thấp kém của đồng bào thiểu số đã rêu rao, truyền bá những tư tưởng sai
lệch về chủ nghĩa xã hội như vụ bạo động Tây Nguyên, vì vậy chúng ta không xem
nhẹ đấu tranh giai cấp, phải cảnh giác đối phó với âm mưu của kẻ địch. Việt Nam
có 54 dân tộc với nhiều ngôn ngữ, nhiều nền văn hóa, giai cấp khác nhau vì vậy
những mâu thuẫn giai cấp vẫn tồn tại và cần được khắc phục: Cùng tồn tại nhiều
giai cấp nhưng không phải giai cấp nào cũng thống nhất với nhau. Giả sử như mâu
thuẫn giữa giai cấp công nhân với các nhà tư bản trong nước cũng như nước ngoài
về tiền lương, số giờ làm.
Trong thời đại ngày này cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc bị áp bức, bảo vệ
nền độc lập dân tộc không tách rời cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp công nhân và
nhân dân lao động thoát khỏi áp bức bóc lột. Việt Nam đã giải quyết các mâu thuẫn
trên bằng con đường hợp tác, đối thoại.
2. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đang gây ra những thay đổi to
lớn trên thế giới
2.1. Cơ sở lý luận:
Thời đại ngày nay được mở đầu bằng cuộc cách mạng tháng 10 Nga vĩ đại là
thời đại đấu tranh cho hoà bình độc lập - dân tộc - dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Là
thời đại đang diễn ra cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật nhằm chuẩn bị những tiền
đề vật chất chín mười cho sự xã hội của CNXH. Cuộc CMKHKT bắt đầu từ những
năm 50 của thế kỷ XX.
- Cuộc CMKH Công nghệ tạo ra điều kiện nhanh chóng phát triển lực lượng
sản xuất trên thế giới. Trung bình 10 - 15 năm của cải nhân loại tăng gấp đội, do
vậy nhìn chung mức sống của con người không ngừng được nâng cao.
6
Cuộc CMKH - Công nghệ đang tạo ra những phát triển trong nhiều quan
niệm của đời sống xã hội từ kinh tế chính trị, văn hoá, đòi hỏi chúng ta phải
nghiên cứu, nắm vững và thích ứng.
Cuộc CMKH - Công nghệ đang tạo ra xu hướng toàn cầu hoá trong nhiều
lĩnh vực của đời sống xã họi từ kinh tế tới chính trị, văn hoá, Sự phụ thuộc lẫn
nhau giữa các quốc gia ngày càng gia tăng, khoảng cách sự phân hoá giầu nghèo
giữa các nước ngày càng lớn.
2.2. Tác động tới công cuộc đổi mới ở Việt Nam
1. Tích cực:
Chúng ta kế thừa nhiều thành tựu quan trọng về khoa học kỹ thuật trong quá
trình xây dựng và đổi mới đất nước.
Công nghiệp: khoa học kỹ thuật phát triển máy móc ngày càng hiện đại làm
cho năng suất lao động tăng nhanh. Sản phẩm làm ra nhiều phẩm chất tốt nên sản
xuất được chuyên môn hoá cao.
Nông nghiệp: Sức lao động của con người được thay thế bằng máy móc làm
tăng năng suất giải phóng được sức lao động của con người hạ thấp tỷ lệ người lao
động trong nông nghiệp góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế KH - CN không chỉ làm
tăng năng suất mà còn góp phần làm tăng chất lượng của sản phẩm nông nghiệp
nâng cao thu nhập cho người nông dân, cải thiện đời sống cho họ.
Dịch vụ: các loại hình dịch vụ đa dạng do nhu cầu của người dân ngày một
tăng cao. Các hệ thống bán hàng sử dụng các thiết bị hiện đại đáp ứng tốt hơn nhu
cầu của khách hàng. Các loại hình bán hàng qua mạng Internet ngày càng phát
triển.
Công nghệ thông tin: đạt nhiều thành tựu to lớn thúc đẩy sự phát triển của
toàn xã hội.
Bưu chính viễn thông: phát triển mạng lưới viễn thông trên toàn quốc với sự
ra đời của nhiều nhà cung cấp dịch vụ điện thoại di động đã nâng cao đời sống xã
hội trên nhiều phương tiện.
Y tế: được trang bị máy móc thiết bị hiện đại cùng những thành tựu y học
thế giới tạo điều kiện chữa trị chăm sóc người bệnh được tốt hơn, đã có nhiều
nghiên cứu giúp ích cho sự phát triển của y học.
Giáo dục: đưa các thành tựu thiết bị kĩ thuật vào giảng dạy nâng cao chất
lượng đào tạo.
An ninh: quốc phòng được giữ vững.
Vì vậy, người dân được tiếp cận với nền văn minh công nghệ của nhân loại.
KH - Công nghệ giúp con người làm việc có hiệu quả nâng cao năng suất hỗ trợ
con người tri thức được mở mang giới trẻ được mở rộng tầm nhìn có nhiều sáng tạo
7
đột phá mới trong công cuộc cải thiện bản thân góp phần xây dựng đất nước.
KHCN được xây dựng là dộng lực của CNH, HĐH. KHCN có vai trò quyết định
lợi thế cạnh tranh và tốc độ phát triển kinh tế nói chung CNH - HĐH nói riêng đối
với mọi đất nước trong đó có nước ta.
2. Tiêu cực
Sự phát triển của KH - CN làm cho nền kinh tế phát triển tăng nhanh với
nhịp độ cao dẫn tới sự cạnh tranh gay gắt làm cho nhiều doanh nghiệp vì chạy theo
lợi nhuận mà không quan tâm bảo vệ lợi ích cho khách hàng của người tiêu dùng
sản xuất hàng giả hàng nhái hàng kém chất lượng. Một số kẻ lợi dụng thành tựu
KH - KT để lừa đảo làm ăn phi pháp. Đặc biệt là sử dụng thành tựu CN - TT để ăn
cắp thông tin lừa đảo khiến cho an nhin mạng luôn bị đe doạ.
Internet phát triển phục vụ có hiệu quả cho cuộc sống con người và cho hoạt
động sản xuất kinh doanh buôn bán, nhưng một số người lợi dụng nó vào mục đích
không lành mạnh tuyên truyền thông tin xấu gây hiệu quả nặng nề cho nhà nước và
cho xã hội.
Trong sản xuất việc áp dụng máy móc quá nhiều làm giảm sức người dẫn
đến tình trạng thất nghiệp tạo gánh nặng cho xã hội.
KH - CN phát triển sản xuất được đẩy mạnh làm cho ô nhiễm môi trường
ngày càng trầm trọng, nhiều dịch bệnh mới xuất hiện rất nguy hiểm.
3. Thời cơ thách thức
3.1. Thời cơ
Là cơ hội cho nước ta hội nhấp quốc tế giao lưu trao đổi kĩ thuật máy móc
kinh nghiệm với các nước trên thế giới.
Thúc đẩy kinh tế đối ngoại phát triển.
Áp dụng thành tựu KH - Công nghệ vào công cuộc XDCNXH.
3.2. Thách thức
- Không có lộ trình chính sách phù hợp -> chúng ta phải đối mặt với nguy cơ
tụt hậu xa hơn về kinh tế, vấp phải những âm mưu diễn biến hoà bình.
- Những tư tưởng lối sống cực đoan, đồi truỵ thâm nhập vào người dân.
4. Nhiệm vụ
- Là một nước quá độ lên CNXH từ một nền kinh tế thấp, tiềm lực KH - CN
còn yếu , muốn tiến hành CNH - HĐH đất nước thì cần phải xây dựng phát triển
khoa học, công nghệ theo hướng sau:
+ Phát triển khoa học - công nghệ phù hợp với xu thế phát triển nhảy vọt của
cách mạng xã hội chủ nghĩa và kinh tế tri thức trên thế giới. Chú trọng đúng mức
phát triển công nghệ cao để tạo đột phá và công nghệ sử dụng nhiều lao động để
giải quyết việc làm.
8
+ Phát triển khoa học tự nhiên theo hướng nào tập trung nghiên cứu cơ bản
đúng hướng ứng dụng, đặc biệt vào ngành chúng ta có thế mạnh.
+ Phát triển công nghệ kết hợp đẩy mạnh có chọn lọc về ciệc nhập khẩu
công nghệ.
+ Đẩy mạnh công tác nghiên cứu để đánh giá đúng, chính xác tài nguyên
quốc gia, nắm bắt công nghệ cao cùng những thành tựu mới.
+ Mở rộng hợp tác KH - CN với các tổ chức quốc tế nhưng vẫn giữ gìn văn
hoá - bản sắc dân tộc.
+ Xây dựng tiềm lực nhằm phát triển một nền khoa học tiên tiến bao gồm
đẩy mạnh các hình thức đào tạo và sử dụng cán bộ khoa học, chú trọng đào tạo lớp
chuyên gia đầu đàn đồng thời nâng cao trình độ cho ngưòi lao động.
+ Phát triển KH - CN đi đôi với bảo vệ môi trường.
3. Những vấn đề toàn cầu đòi hỏi phải có sự hợp tác giải quyết của các
quốc gia:
3.1. Cơ sở lý luận
Vấn đề toàn cầu là vấn đề tác động đến nhiều nước mà không một nước nào
riêng lẻ có thể tự giải quyết nổi mà phải có sự phối hợp, hợp tác của nhiều nước,
của toàn thể nhân loại.
+ Hiện nay trên thế giới có 4 XĐ toàn cầu:
- Bảo vệ hòa bình thế giới
- Nạn ô nhiễm môi trường và cạn kiệt tài nguyên
- Nạn bùng nổ dân số và bệnh tật hiểm nghèo
- Nạn phân biệt chủng tộc, buôn bán ma túy, nạn tham nhũng, nạn
khủng bố
3.2. Tác động của nó tới công cuộc đổi mới ở Việt Nam.
- Việt Nam - một đất nước đi theo con đường XHCN. Vì vậy, luôn tôn trọng
vấn đề hòa bình, an ninh quốc gia. Cụ thể Việt Nam đã kí hiệp ước về hòa bình với
Liên Hợp Quốc, luôn có những chính sách phù hợp đối với vấn đề hòa bình của các
quốc gia.
Tuy nhiên cần phải tăng cường an ninh quốc phòng đrr bảo vệ nền hòa bình
dân tộc.
- Cùng với vấn đề bảo vệ hòa bình, nạn ô nhiễm môi trường của nước ta cũng
đang là vấn đề cấp bách cần được giải quyết ngay. Từ khi chúng ta bước vào thời
kỳ đổi mới Nhà nước đã có nhiều chính sách đề ra để bảo vệ môi truờng dinh thái.
Thông qua luật bảo vệ môi trường sinh thái hay đưa ra các biện pháp:
+ Xử lý chất thải trước khi đưa ra môi trường
+ Đề ra những biện pháp bảo vệ tài nguyên, khai thác hợp lý.
9
+ Khai thác tài nguyên phải đi đôi với tái tạo
+ Nâng cao trình độ dân trí cho người dân để họ hiểu sự cần thiết của
môi trường sinh thái.
Tuy nhiên Việt Nam đang đối mặt với nhiều vấn đề nghiêm trọng do sự sa
sút của chất lượng môi trường. Quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa
sang nền kinh tế thị trường đã đẩy nhanh sự phát triển kinh tế ở nước ta, tạo ra
những thành tựu to lớn về kinh tế - xã hội, cải htiện rõ rệt đời sống vật chất và tinh
thần của nhân dân lao động. Nhưng đồng thời Việt Nam đang phải đối mặt với
nhiều vấn đề môi trường nghiêm trọng: nạn phá rừng bừa bãi, sự suy giảm quá mức
tài nguyên sinh học, sự xuống cấp đáng lo ngại của tài nguyên đất, việc bảo vệ
nguồn nước ngọt kém hiệu quả, tình trạng thiếu nước ngọt và ô nhiễm đang gia
tăng
* Tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng thể hiện trên cả 3 phương
diện: Ô nhiễm môi trường không khí, đất và nước.
Nguyên nhân chủ yếu là do nguồn chất thải sinh hoạt, chất thải do sản xuất
công nghiệp, đặc biệt là ở các thành phố lớn. Ví dụ ở Hà Nội ô nhiễm do bụi gấp 4
- 12 lần, khí CO
2
, NO
2
vượt từ 2 - 4 lần, SO
2
vượt từ 3 - 15 lần so với tiêu chuẩn
cho phép.
* Sự suy giảm, cạn kiệt tài nguyên đó là sự giảm dần diện tích rừng, suy
thoái đất đai, cạn dần tài nguyên khoáng sản và suy giảm đa dạng sinh học.
Nguyên nhân chủ yếu là do tác động tiêu cực của kinh tế thị trường . Hậu
quả của tình trạng giảm diện tích rừng che phủ là diện tích đất hoang hóa bạc màu
tăng lên, lũ lụt, lở đất liên tiếp xảy ra và ngày càng trầm trọng, sự cạn kiệt khoáng
sản cũng đang là vấn đề nghiêm trọng. Đó là khai thác khoáng sản bừa bãi, ồ ạt, trái
phép không những tài nguyên khoáng sản bị cạn kiệt mà còn làm cho môi trường bị
ô nhiễm nghiêm trọng.
Vì vậy Đảng và Nhà nước ta phải có những biện pháp tích cực trong việc
bảo vệ môi trường cho ngừoi dân.
- Cùng với vấn đề ô nhiễm môi trường, nạn bùng nổ dân số ở nước ta cũng
tăng cao. Tốc độ gia tăng dân số của nước ta giảm chỉ còn 1,7% nhưng dân số của
nước ta vẫn tăng cao đứng thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á và 140 trên thế giới
với khoảng trên 84 triệu người (năm 2007). Dân số tăng nhanh có những tích cực
đó là cung cấp một đội ngũ lao động trẻ cho các ngành, kích thích sản xuất phát
triển Tuy nhiên cũng có những hạn chế : nhiều tệ nạn xã hội nảy sinh, lao động
Việt Nam nhiều nhưng trình độ không cao vì vậy tỷ lệ thất nghiệp ngày càng tăng.
Đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn.
10
- Vấn đề xung đột sắc tộc và phân biệt chủng tộc ở nước ta không diễn ra sâu
sắc như trên thế giới. Nước ta có những chính sách đoàn kết dân tộc, sắc tộc để bảo
vệ hòa bình cho đất nước. Nhưng nạn tham nhũng và buôn bán ma túy lại đnag là
vấn đề nổi cộm trong xã hội hiện nay. Nước ta có đường biên giới giáp với nhiều
nước nên ma túy có thể mang từ các nước láng giềng sang. Vì vậy, tệ nạn nghiện
ngập của nước ta gia tăng, chủ yếu là thanh niên, học sinh
Không những vấn đề ma túy mà vấn đề tham nhũng cũng được Đảng và Nhà
nước ta quan tâm. Chủ yếu tham nhũng diễn ra ở những người có chức có quyền
làm cho bộ máy quan liêu Nhà nước gia tăng làm mất đi niềm tin của người dân
vào bộ máy lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Vì vậy Nhà nước cần phải có những
chính sách phù hợp ngăn chặn nạn tham nhũng và tệ nạn ma túy để đưa đất nước
ngày càng phát triển, sánh kịp với các nước khác trong khu vực và trên thế giới.
4. Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương
4.1. Cơ sở lý luận:
- Tích cực: Trong hai, ba chục năm trở lại đây khu vực Châu Á – Thái Bình
Dương phát triển năng động trên thế giới. Thế giới gọi đây là trung tâm kinh tế phát
triển đang dần chuyển về đây. Những năm gần đây trình độ phát triển kinh tế cao
nhất thế giới đều nằm trong khu vực này.
VD: Trung quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore…
- Tiêu cực: Đây là khu vực đa tôn giáo, đa sắc tộc nên dễ xảy ra các xung đột
tôn giáo, phân biệt chủng tộc, tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định.
- Mặc dù đây là khu vực có trình độ phát triển cao, những hiện nay lương vốn
để phục vụ cho phát triển kinh tế vẫn đang thiếu nhưng vấn đề huy động vốn và sử
dụng vốn lại chưa có hiệu quả.
4.2. Tác động của nó tới công cuộc đổi mới ở Việt Nam
1.Tích cực:
- Việt Nam nằm trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương nên cũng chịu tác
động của sự phát triển của khu vực. Việt nam đang là một nước đang thu hút tất cả
các nước trên thế giới vào đây.
- Việt Nam tạo ra những thời cơ hội nhập, gắn kết với những nước khu vực để
phát triển kinh tế. Việt nam phải hòa mình vào quá trình hội nhập của khu vực.
VD: Thúc đẩy quan hệ hợp tác tòan diện và có hiệu quả với các nước
ASEAN, APEC các nước Châu Á – Thái Bình Dương, củng cố và phát triển quan
hệ hợp tác song phương tin cậy với các đối tác chiến lược.
11
2.Tiêu cực:
Bên cạnh những cơ hội đó thì Việt Nam cũng phải chủ động để đối phó với
các nguy cơ mất ổn định. Việt Nam có 54 dân tộc và nhiều tôn giáo, dân tộc khác
nhau nên vấn đề xung đột tôn giáo sắc tộc là không thể tránh khỏi.
III. XU THẾ CỦA THỜI ĐẠI NGÀY NAY VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ
TỚI CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ỏ VIỆT NAM.
1. Toàn cầu hóa
1.1. Cơ sở lý luận
Cách mạng khoa học và công nghệ là một động lực xuyên quốc gia, nó đang
tạo cơ sở vật chất cho quá trình toàn cầu hóa, thúc đẩy sự chuyển dịch kinh tế, cơ
cấu kinh tế, làm thay đổi nhiều quan niệm cũ về nhiều lĩnh vực trân phạm vi quốc
gia và quốc tế. Toàn cầu hóa là một xu thế khách quan, vừa có mặt tích cực vừa có
mặt tiêu cực đang bị các quốc gia phát triển và các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia
chi phối.
2.2.Tác động của nó tới công cuộc đổi mới ở Việt Nam
1. Tích cực:
Hiện nay Việt Nam đang chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông
thôn theo hướng tạo ra giá trị gia tăng ngày càng cao, gắn với công nghiệp chế biến
và trị trường, thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, đưa nhanh tiến bộ
khoa học – kỹ thuật và công nghệ sinh học vào sản xuất, nâng cao năng suất, chất
lượng và sức cạnh tranh , phù hợp với đặc điểm từng vùng, từng địa phương.
Chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông thông – theo hướng giảm nhanh tỉ trọng lao
động làm nông nghiệp, tăng tỉ trọng lao động làm công nghiệp và dịch vụ. Trong
việc phát triển công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, chúng ta khuyến khích phát triển
các ngành công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế tác, công nghệ phần mềm
và công nghệ bổ trợ có lợi thế cạnh tranh, tạo nhiều sản phẩm xuất khẩu và thu hút
nhiều lao động, phát triển một số khu vực kinh tế mở và đặc khu kinh tế, nâng cao
hiệu quả các khu công nghiệp, khu chế xuất, khẩn trương thu hút vốn trong và
ngoài nước đầu tư thực hiện một số dự án quan trọng và khai thác dầu khí, hóa chất
cơ bản, lọc dầu và hóa dầu, luyện kim,… ưu tiên thu hút đầu tư của các tập đoàn
kinh tế và các công ty xuyên quôc gia.
2. Tiêu cực:
Trong thời kỳ đổi mới toàn cầu hóa tạo thêm thuận lợi cho sự phát triển của
kinh tế, chính trị xã hội, văn hóa, giáodục… với nhịp độ nhanh, chất lượng cao.
Tuy nhiên nước ta đang đứng trước nhiều thách thức lớn, đan xen nhau, tác động
tổng hợp và diễn biến phức tạp, không thể coi thường bất cứ thách thức nào. Trong
12
quá trình toàn cầu hóa, nếu không có lộ trình hòa nhập thì nguy cơ bị tụt hậu và mặt
kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Những năm gần đây, đất nước ta có cơ hội lớn để tiến lên, tuy khó khăn còn
nhiều. Đòi hỏi bức bách của toàn dân tộc lúc này là phải tranh thủ cơ hội, vượt qua
thách thức, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ, phát triển nhanh và
bền vững nền kinh tế.
2. Hòa bình, ổn định để cùng phát triển.
2.1.Cơ sở lý luận
Trong thực tế không một nước nào có thể phát triển được trong hòan cảnh có
chiến tranh, do vậy, hòa bình đã trở thành nhu cầu bức xúc của các dân tộc trên thế
giới. Có hòa bình mới có điều kiện thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài, mới huy
động được sức người, sức của trong nhân dân để phát triển đất nước. Một khi kinh
tế phát triển mới có điều kiện nâng cao mức sống nhân dân, mới có điều kiện chăm
lo tới y tế, giáo dục từ đó mới có sự ổn định và phát triển đất nước.
2.2.Tác động tới công cuộc đổi mới ở Việt Nam.
Việt Nam xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững mạnh
toàn diện; bảo vệ vững chắc Tổ Quốc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh
thổ, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ chủ nghĩa xã hội, bảo vệ an ninh
chính trị, an ninh kinh tế, an ninh tư tưởng văn hóa và an ninh xã hội, giữa vững ổn
định chính trị của đất nước ngăn ngừa, đẩy lùi và làm thất bại mọi âm mưu, hoạt
động chống phá, thù địch, không để bị động bất ngờ.
Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến
thức quốc phòng, an ninh cho toàn dân
Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường sức mạnh quốc phong và an
ninh trên cơ sở phát huy mọi tiền năng của đất nước.
Xây dựng Quân đội nhân dân và công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh
nhuệ, từng bước hiện đại. Nâng cao sức chiến đấu để lực lượng vũ trang thật sự là
lực lượng chính trị trong sạch, vững mạnh, tuyệt đối trung thành với Tổ Quốc, với
Đảng, Nhà nước và nhân dân, được nhân dân tin cậy. Xây dựng bổ sung có chế
lãnh đạo của Đảng và quản lý của nhà nước đối với hoạt động quốc phòng an ninh,
bổ sung quy chế phối hợp hoạt động giữa quốc phòng, an ninh đối ngoại và các bộ
ngành có liên quan trong phân tích, dự báo tình hình và làm tham mưu đề xuất các
giải pháp thực hiện.
Việt Nam là lực lượng tích cực đóng góp vào phong trào hòa bình thế giới.
Việt Nam lấy mục tiêu cuối cùng của chúng ta là luôn lấy hòa bình để giải quyết tất
cả mọi vấn đề vì vậy đối với vấn đề hòa bình của thế giới. Việt Nam là nước luôn
13
ủng hộ cho hòa bình, phản đối chiến tranh, khủng bổ; Việt Nam ký các hiệp ước
hòa bình.
Bản thân nước ta, vấn đề hòa bình là một trong hai ngọn cờ, chúng ta nêu lên
cương lĩnh đầu tiên: “Độc lập, hòa bình và xây dựng chủ nghĩa xã hội".
3. Gia tăng xu hướng liên kết, hợp tác giữa các quốc gia.
3.1. Cơ sở lý luận
Ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công
nghệ, tạo ra xu hướng toàn cầu hóa trong các lĩnh vực. Không một quốc gia nào có
thể phát triển được nếu không có sự hợp tác khu vực, hợp tác quốc tế. Do vậy, hợp
tác là xu hướng tất yếu trên thế giới hiện nay.
Hình thức hợp tác quốc tế hiện nay đa dạng: hợp tác song phương, hợp tác khu
vực, hợp tác quốc tế. Các tổ chức quốc tế như: Liên hợp quốc, quỹ tiền tệ quốc tế,
Tổ chức thương mại thế giới, v.v ngày càng tham gia nhiều vào đời sống kinh tế,
đời sống chính trị của các nước.
Lĩnh vực hợp tác giữa các nước ngày cành đa dạng: Hợp tác kinh tế, khoa học
kỹ thuật, hợp tác thương mại, hợp tác nghiên cứu chinh phục vũ trụ và cả hợp tác
chính trị.
3.2.Tác động tới công cuộc đổi mới ở Việt Nam:
1. Tích cực:
Việt Nam đã mở rộng được các quan hệ hợp tác quốc tế, đến nay, nước ta đã
có quan hệ ngoại giao với 167 nước trên thế giới, có quan hệ bình thường với tất cả
các nước lớn và trung tâm kinh tế - chính trị lớn trên thế giới, đưa các quan hệ trên
vào xu thế ổn định lâu dài, dựa trên các thỏa thuận đã đưựoc ký kết.
Việt Nam đã là thành viên và tích cực đóng góp vào hoạt động của các tổ chức
quốc tế, khu vực, như liên hợp quốc ASEAN, APEC, ASEM, Tổ chức thương mại
WTO…
Tại Đại hội IX đã khẳng định hình thức hợp tác quốc tế hiện nay của Việt
Nam rất đa dạng; hợp tác song phương với nhiều nước trong khu vực trên thế giới;
hợp tác khu vực châu Á – Thái Bình Dương… Hợp tác quốc tế với các nước Mỹ,
Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc
Việt Nam tích cực hợp tác với tất cả các nước trên thế giới với lĩnh vực hợp
tác ngày càng đa dạng, trên nhiều lĩnh vực.
Hợp tác kinh tế; Việt Nam thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài để phát triển kinh
tế; tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài, các
doanh nghiệp có vốn đầu tư từ nước ngoài hoạt động. Hợp tác khoa học công nghệ
như chuyển giao khoa học công nghệ, các nước phát triển đưa các nhà khoa học,
14
các lỹ sư giỏi sang Việt Nam để điều hành những công trình lớn, phức tạp. Còn
Việt Nam thì cử cán bộ, kỹ sử sang các nước phát triển học hỏi kinh nghiệm.
2. Tiêu cực:
Các nước TBCN lợi dụng hợp tác với các nước nhỏ để bành trướng thế lực và
dựa vào hợp tác về kinh tế, khoa học công nghệ để dẫn nắm lấy quyền lực chính trị.
Muốn hợp tác thành công thì chúng ta phải mở cửa hội nhập. khi mở cửa thì ngoài
vấn đề tích cực thì còn kèm thao các vấn đề khác như tệ nạn xã hội, văn hóa ngày
càng đồi trụy, xa với nền văn hóa truyền thống…
4. Các dân tộc ngày càng nâng cao ý thức độc lập, tự chủ, tự vững.
4.1. Cơ sở lý luận
Thời đại ngày nay là thời đại các dân tộc bị áp bức đã vùng dậy, xóa bỏ ách đô
hộ của chủ nghĩa đế quốc và giành lấy sự tự quyết định vận mệnh của dân tộc mình
bao gồm quyền tự lựa chọn chế độ chính trị các con đường phát triển của dân tộc,
quyền bình đẳng và các dân tộc khác. Mặt khác, các nước lớn, các nước giàu
thường ỷ lại vào những thế mạnh về kinh tế, quân sự để chi phối các nước nhỏ, các
nước nghèo bằng cách áp đặt quan điểm chính trịm dùng thủ đoạn boc lột về kinh
tế thông qua quan hệ trao đổi mua bán không bình đẳng, thậm chí tiến hành cả
những cuộc chiến tranh xâm lược, lật đổ. Điều đó đã dẫn tới những cuộc chiến
tranh của các nước dân tộc chủ nghĩa đòi quyền bình đẳng, đòi tôn trọng lợi ích
quốc gia dân tộc của họ.
Như vậy độc lập tự chủ của mỗi dân tộc là xu hướng khách quan, là chân lý
thời đại, là sức mạnh hiện thức tạo nên quá trình phát triển của mỗi dân tộc, sẽ làm
tiêu tan tất cả cản trở nó. Mỗi dân tộc, quốc gia phải biết thực hiện cuộc sống độc
lạp tự chủ để mở cửa hội nhập vào dòng vận động chung của nhân loại, đồng thời
phải tìm được giải pháp hữu hiệu để giữ gìn phát huy.
4.2. Tác động tới công cuộc đổi mới ở Việt Nam.
Sự thức tỉnh, sự trưởng thành của ý thức dân tộc Đảng và Nhà nước ta nhận
thức được rằng, chỉ trong cộng động dân tộc Việt Nam mới có quyền quyết định
vận mệnh của mình mà quyền cao nhất là quyền tự do lựa chọn, chế độ chính trị và
con đường phát triển. Vì vậy Đảng đã lãnh đạo nhân dân trong nước đâu tranh
chống áp bức dân tộc, thành lập nhà nước độc lập, tự chủ, tự cường.
Quyền dân tộc tự quyết là quyền làm chủ của mỗi dân tộc đối với vận mệnh
dân tộc mình, quyền tự quyết định chế độ chính trị - xã hôi và con đường phát triển
của dân tộc mình. Quyền tự quyết bao gồm quyền tự do độc lập về chính trị tách ra
thành lập một quốc gia dân tộc độc lập và lợi ích của các dân tộc khác trên cơ sở
bình đẳng cùng có lợi đẻ có đủ sức mạnh chớp nguy cơ xâm lược từ bên ngoài, giữ
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét