Thứ Ba, 4 tháng 3, 2014

Lịch sử Đội TNTP Hồ Chí Minh

1. Lý Tự Trọng tên thật là Lê Văn Trọng.
2. Lý Văn Minh " Đinh Chương Long
3. Lý Thúc Chất " Vương Thúc Thoại
4. Lý Anh Tợ " Hoàng Tự
5. Lý Nam Thanh " Nguyễn Sinh Thản
6. Lý Trí Thông " Ngô Trí Thông
7. Lý Phương Đức " Ngô Hậu Đức
8. Lý Phương Thuận " Nguyễn Thị Tích.
Hai thiếu niên sau cùng (thứ 7 và thứ 8) là nữ.
Từ giữa năm 1925 cho đến giữa năm 1926, tám thiếu niên này được Bác Hồ
tổ chức thành một lớp học riêng vừa để tiếp tục nâng cao trình độ văn hóa vừa học
chính trị theo một chương trình phù hợp.
Ngày 22-7-1926, từ Quảng Châu, Bác đã viết thư gửi ủy ban Trung ương Đội
Thiếu niên Tiền phong Lênin (Liên Xô) nói rõ: "Chúng tôi có tại đây (Quảng Châu,
Trung Quốc) một nhóm thiếu niên Việt Nam. Tuổi các em từ 12 đến 15. Đó là các
thiếu niên cộng sản đầu tiên của nước Việt Nam. Khi chúng tôi nói với các em về
cuộc cách mạng Nga, về Lênin và về các bạn, những người Lêninnít Nga trẻ tuổi thì
các em rất sung sướng và đòi hỏi được đến với các bạn để thăm các bạn, học với
các bạn và cũng như các bạn để trở thành những người Lêninnít trẻ tuổi chân
chính. Chúng tôi đã hứa với các em là sẽ viết thư cho các bạn về vấn đề này. Và
giờ đây tôi đã làm việc ấy. Chúng tôi hy vọng rằng các bạn sẽ không từ chối tiếp
nhận 3 hay 4 bạn nhỏ Việt Nam của các bạn có phải không? " Đề nghị trên của
Bác Hồ đã được Trung ương Đoàn TNCS Lênin và ủy ban Trung ương Đội Thiếu
niên Tiền phong Lênin (Liên Xô) đáp ứng một cách nồng nhiệt. Tuy nhiên, liền sau
đó tình hình chính trị ở Quảng Châu diễn biến phức tạp nên chủ trương gửi các
thiếu niên Việt Nam sang Liên Xô học tập không thực hiện được.
Phái phản động trong Quốc dân đảng do Tưởng Giới Thạch cầm đầu đã thi
hành chính sách đàn áp, khủng bố những người cộng sản Trung Quốc và Việt Nam.
Tám thiếu niên Việt Nam cùng nhiều đồng chí khác dần dần bị bắt. Đảng Cộng sản
Trung Quốc tích cực giúp họ mời luật sư nổi tiếng Tạ Anh Bá bảo vệ cho họ. Nhờ
vậy, sau nhiều tháng thẩm vấn, phái phản động buộc phải thả các đồng chí Việt
Nam bị bắt cùng tất cả các thiếu niên nêu trên. Lúc này, các thiếu niên đều đã trở
thành đoàn viên TNCS. Trước tình hình hết sức khó khăn do phái phản động tăng
cường khủng bố, tám đoàn viên TNCS theo hướng dẫn của các đảng viên đã tùy
hoàn cảnh, điều kiện thực hiện nhiệm vụ cách mạng của mình. Một số về nước hoạt
động như Lý Tự Trọng (1929-1931) và sau này là Lý Phương Thuận. Một số di
chuyển về nông thôn hoặc vào các nhà máy tham gia công tác vận động quần
chúng trên đất nước bạn. Một số tìm đường sang Liên Xô tiếp tục học tập theo chủ
trương của Bác Hồ trước đây.
Khi khởi nghĩa Quảng Châu (còn gọi là Quảng Châu công xã) nổ ra, các đồng
chí Việt Nam và các đoàn viên TNCS thuộc lớp đầu tiên này đã tích cực tham gia
vào các đơn vị tự vệ công nhân của bạn làm nhiệm vụ bảo vệ nhà máy, chống đàn
áp và tuyên truyền, vận động quần chúng phản ánh tình cảm cách mạng gắn bó
giữa nhân dân hai nước Việt - Trung và lý tưởng quốc tế chủ nghĩa trong sáng của
những người cộng sản trẻ tuổi.
Năm 1929, Lý Tự Trọng về nước hoạt động. Anh đã bắn chết tên mật thám
Pháp ngay trên đường phố Sài Gòn để bảo vệ đồng chí mình và trở thành tấm
gương tiêu biểu cho tinh thần bất khuất với lời nói đanh thép trước tòa án đế quốc
Pháp: "Tôi hành động có suy nghĩ, tôi hiểu việc tôi làm. Con đường của thanh niên
chỉ là con đường cách mạng, không có con đường nào khác". Theo dõi hành động
anh hùng của Lý Tự Trọng, ngày 21-2-1931 Bác Hồ đã gửi thư cho Bộ Phương
Đông Quốc tế cộng sản báo tin này và đề nghị Bộ Phương Đông yêu cầu Đảng
Cộng sản Pháp tổ chức các hoạt động, kể cả biểu tình đòi trả tự do cho Lý Tự
Trọng. Song bất chấp mọi sự phản đối của dư luận bọn đế quốc vẫn sát hại anh. Lý
Tự Trọng hi sinh kiên cường giữa tuổi 17 để lại cho chúng ta bản "Tuyên ngôn" bất
diệt về con đường cách mạng của các thế hệ trẻ Việt Nam.
Vào thời gian này, Bác Hồ trở lại Hương Cảng để chủ trì hội nghị hợp nhất
thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Do một sơ suất từ bên ngoài, Bác bị mật thám
Anh bắt giữ. Cùng bị bắt với Bác có Lý Phương Thuận (một trong tám thiếu niên đã
giới thiệu ở trên) đang hoạt động tại đây với tên gọi là Lý Tam (hoặc cô Ba). Lý
Phương Thuận đã giữ vững tinh thần cách mạng, không hề khai báo gì với cảnh sát
Anh. Vụ án Tống Văn Sơ (tên mới của Bác Hồ lúc này) làm chấn động dư luận tại
Hương Cảng và cả ở Anh, Pháp (mật thám Pháp vận động nhà cầm quyền Anh trao
Bác cho chúng). Luật sư nổi tiếng Lôdơbai đã vượt qua nhiều khó khăn cứu thoát
Bác Hồ ra khỏi nhà tù và vợ chồng ông đã hết lòng giúp Bác trở lại Liên Xô.
Đại chiến thế giới lần thứ hai nổ ra. Phát xít Đức tập trung binh lực tấn công
Liên Xô hòng tiêu diệt nước XHCN đầu tiên trên thế giới. Sư đoàn quốc tế chống
phát xít thành lập ở Matxcơva bao gồm những người cộng sản trẻ tuổi ở nhiều nước
đang học tập, công tác tại Liên Xô.
Lý Nam Thanh, Lý Thúc Chất, Lý Anh Tợ cùng các đồng chí Việt Nam khác
tình nguyện tham gia Sư đoàn quốc tế bảo vệ Liên Xô. Đó là ba trong số "tám cháu
hiếm hoi từ bước đầu ấy" do Bác Hồ giáo dục, rèn luyện giờ đây đã trở thành cán
bộ, chiến sĩ chiến đấu ngoan cường vì nghĩa vụ Quốc tế cao cả. Cả ba đồng chí đã
vĩnh viễn nằm lại trên quê hương V.I. Lênin vĩ đại tại trận địa phía Nam Matxcơva.
Nhà nước Liên Xô đã tặng thưởng ba đồng chí huân chương cao quý: Huân
chương Vệ quốc hạng Nhất.
Trang đầu trong cuốn biên niên sử của Đội ta mở ra như thế đó. Từ "Các thiếu
niên cộng sản đầu tiên" Bác Hồ và các đồng chí của Người đã bồi dưỡng, rèn luyện
trở thành "Tám đoàn viên hiếm hoi buổi ban đầu". Đó là những mầm non của cách
mạng, là những tấm gương tiêu biểu cho thế hệ trẻ Việt Nam, mãi mãi là niềm tự
hào của chúng ta. Những thiếu niên cộng sản và đoàn viên thanh niên cộng sản vẻ
vang ấy mãi mãi xứng đáng với lòng tin yêu và sự tôn vinh của các thế hệ thanh
thiếu niên nước ta cũng như cả dân tộc ta.
Tại buổi lễ trọng thể kỷ niệm 35 năm ngày thành lập Đoàn, Bác Hồ dạy: "Là
người theo dõi tổ chức thanh niên từ bước đầu hiếm hoi chỉ có tám cháu, ngày nay
trông thấy có hàng triệu đoàn viên, thanh niên, hàng triệu cháu bé nhi đồng phát
triển mơn mởn như hoa nở mùa xuân. Với một thế hệ thanh niên hăng hái và kiên
cường, chúng ta nhất định thành công trong sự nghiệp bảo vệ miền Bắc, giải phóng
miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Vì vậy, Bác rất tự hào, sung sướng và thấy mình
như trẻ lại, thấy tương lai của Tổ quốc ta vô cùng vững chắc và vẻ vang ".
Ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đảm đương sứ mệnh cao cả
lãnh đạo giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân ta đấu tranh giành giải phóng dân
tộc và giai cấp. Từ đó, phong trào thanh thiếu nhi nước ta ngày càng phát triển
mạnh mẽ. Tổ chức Đội từng bước được hình thành. Hội nghị Ban Chấp hành Trung
ương Đảng lần thứ nhất (khóa I) tháng 10 năm 1930 đã ban hành một văn kiện hết
sức quan trọng về công tác thanh niên trong đó đã đề cập đến việc tập hợp thiếu nhi
vào các tổ chức Thiếu niên cách mạng, Hồng nhi đoàn và giao cho Đoàn phụ
trách.
Sau khi Đảng ta ra đời, từ tháng 6 đến tháng 8 năm 1930, cả nước nổ ra nhiều
cuộc đấu tranh lớn mà tiêu biểu là phong trào Xô viết Nghệ - Tĩnh. Các chi bộ Đảng
ở hai tỉnh này đã tập hợp được 513 đội viên thiếu niên cách mạng. Các đội viên chia
thành từng tổ dưới sự hướng dẫn của các đảng viên và đoàn viên làm nhiệm vụ
giao thông liên lạc, canh gác. Riêng ở Phong Nẫm (huyện Thanh Chương - Nghệ
An) có hơn 20 đội viên thiếu niên cách mạng hoạt động dưới sự hướng dẫn của
đồng chí Lê Cảnh Nhượng, Bí thư chi bộ Đoàn địa phương. Ngoài việc canh gác,
làm giao liên, các đội viên còn tham gia học tập quân sự do các "xích vệ đội" tổ
chức, hướng dẫn và hăng hái thực hiện các công việc như rải truyền đơn, treo cờ
Đảng. ở xã Nam Trung (huyện Nam Đàn) đã ra đời tổ chức thiếu nhi lấy tên là Đội
Đồng Tử quân. Ngày 12-9-1930, các đội viên Đồng Tử quân đã cùng cha anh tham
gia thành lập chính quyền Xô viết ở địa phương. Cũng vào thời gian này tại Thái
Bình, Đội Đồng Tử quân huyện Tiền Hải được thành lập. Các đội viên đã tham gia
tích cực vào hàng ngũ những bà con nông dân đi đấu tranh đòi giảm thuế, chống địa
chủ cướp đất.
Đến thời kỳ 1936-1939, thực hiện chủ trương chuyển hướng hoạt động của
Đảng, Đoàn Thanh niên Dân chủ đã tổ chức nhiều lớp học chữ quốc ngữ cho thiếu
nhi qua đó tập hợp thiếu nhi vào các hình thức tổ chức văn hóa, văn nghệ như các
Đội kịch, Đội ca nhạc, Đội bóng Hai tờ báo công khai của Đoàn ở Hà Nội và Sài
Gòn là "Thế giới" và "Mới" đã có nhiều bài viết về công tác vận động thiếu nhi.
Trước sức mạnh đấu tranh của các tầng lớp nhân dân, theo lệnh chính phủ
Pháp, toàn quyền Đông Dương đã phải ra một nghị định nêu rõ kể từ ngày 1-11-
1936 "Cấm bắt đàn bà, trẻ em làm việc ban đêm". Vào thời gian này ở một số tỉnh
như Hà Đông, Nam Định, Hải Phòng,v.v nhiều tổ chức Hồng nhi đoàn được thành
lập, nhiều đội viên hoạt động rất hăng hái trong các đội kịch, đội múa, hoặc các ban
đồng ca do tổ chức Đoàn Thanh niên Dân chủ hướng dẫn.
Bước sang năm 1941, tình hình thế giới và trong nước diễn biến ngày một
khẩn trương và phức tạp. Phát xít Nhật nhảy vào Đông Dương, nhân dân Đông
Dương chịu cảnh "một cổ hai tròng" dưới ách thống trị tàn bạo của Nhật - Pháp nên
ngày một bần cùng, đói khổ do vậy ngày càng nhanh chóng giác ngộ cách mạng.
Tháng 1 năm 1941, lãnh tụ Nguyễn ái Quốc bí mật về nước ở vùng Pác Pó
(Cao Bằng) để trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Đây là một sự
kiện hết sức quan trọng trong tiến trình phát triển của cách mạng nước ta. Tháng 5
năm 1941, Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương Đảng do lãnh tụ Nguyễn ái Quốc với
tư cách là đại diện của Quốc tế cộng sản triệu tập và chủ trì. Hội nghị chủ trương tổ
chức ra các đoàn thể cứu quốc và thành lập Việt Nam độc lập Đồng minh (gọi tắt là
Việt minh). Hội nhi đồng cứu quốc ra đời ở Nà Mạ (vùng Pác Bó) và được gia nhập
Mặt trận Việt Minh.
Ngày ấy là 15-5-1941, ngày lịch sử vẻ vang của Đội ta. Vào dịp này, Bác Hồ
kính yêu viết bài "Kêu gọi thiếu nhi" thể hiện tình cảm yêu thương và sự chăm sóc
ân cần của Người đối với các cháu. Bài "Trẻ con" mở đầu bằng một đoạn đầy xúc
động:
"Trẻ em như búp trên cành,
Biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan,
Chẳng may vận nước gian nan,
Trẻ em cũng bị bận thân cực lòng"
Bác khẳng định:
"Kẻ lớn cứu quốc đã đành
Trẻ em cũng phải ra giành một vai.
Bao giờ đuổi đuổi Nhật, Tây,
Trẻ em ta sẽ là bầy con cưng"
Và trong bài "Trẻ chăn trâu" Bác đã kêu gọi thiếu nhi:
"Cùng nhau đánh đuổi Nhật, Tây.
Anh em ta mới có ngày vinh hoa.
"Nhi đồng cứu quốc" Hội ta,
ấy là lực lượng, ấy là cứu sinh.
ấy là bộ phận Việt Minh,
Dân mình khắc cứu dân mình mới xong.
Ai nghe mà chẳng động lòng,
Khá thương con trẻ mục đồng Việt Nam".
Những lời thơ thật giản dị nhưng chứa chan tình yêu nước, nghĩa đồng bào đã
được nhanh chóng lan truyền trong thiếu nhi Nà Mạ và cả vùng Hà Quảng. Từ các
em biết chữ đến các em chưa biết chữ được bè bạn trong tổ chức truyền miệng cho
đã thuộc lòng bài thơ "Kêu gọi thiếu nhi" của Bác.
Sau Hội nghị Trung ương lần thứ 8, đội ngũ cán bộ cách mạng do Bác Hồ và
Đảng ta đào tạo, bồi dưỡng trước đó được phân công toả về các địa phương trong
cả nước để cùng các cán bộ, đảng viên vận động phong trào cách mạng với một
quyết tâm rất cao: "Trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải
phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc thì chẳng những toàn thể
quốc gia, dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận giai cấp
đến vạn năm cũng không đòi lại được" (Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 8
tháng 5 - 1941).
Trong số cán bộ nói trên anh Đức Thanh được Bác Hồ giao cho nhiệm vụ tổ
chức Đoàn Thanh niên Cứu quốc Hà Quảng và Hội Nhi đồng Cứu quốc. Anh là
người trực tiếp soạn thảo Điều lệ Đoàn và Hội Nhi đồng trình Bác cho ý kiến sửa
chữa rồi tổ chức in ngay trong hang Cốc Bó, nơi Bác Hồ đặt cơ quan của Đảng và
Tổng bộ Việt Minh. "Máy in" là những phiến đá, một kiểu in theo cách viết chữ
ngược bằng mực lên các phiến đá được mài nhẵn. Giấy in là loại giấy được làm
bằng bột cây dó gọi là giấy dó sản xuất tại địa phương.
Anh Đức Thanh tuyên truyền, giác ngộ được một số thanh niên trong vùng
như các anh Phục Hưng, Phục Quốc, Bát Ngư bồi dưỡng các đồng chí này trở
thành những đoàn viên rồi giao nhiệm vụ cho các anh tìm các thiếu niên dũng cảm,
tin cậy để tổ chức vào Hội Nhi đồng Cứu quốc.
Vào giữa năm 1941, ở Nà Mạ có nhiều người được vào Hội bí mật. Họ kín
đáo kể cho nhau nghe về một "Ông già cách mạng" có tên là Thu Sơn. Đôi khi họ
còn gọi ông với tên gọi rất thân mật như người trong họ tộc là "Ông Ké". Cụ Thu
Sơn hay Ông Ké, Ông già cách mạng, chính là Bác Hồ kính yêu đang có mặt ở vùng
này.
Nhận nhiệm vụ của anh Đức Thanh giao cho, nhiều lần anh Bát Ngư nói chuyện với
Nông Văn Dền, một thiếu niên hoạt bát, chịu khó và dũng cảm rất căm thù tội ác của
giặc Pháp và bọn lính trên đồn. Dền rất căm giận và tỏ ý muốn theo giúp anh Bát
Ngư. Dền đoán là anh Bát Ngư đang làm việc gì đó để đánh Tây, chống bọn thống
lý, phìa tạo. Đôi lần anh Bát Ngư nhờ Dền đưa lá thư cho anh Phục Quốc, anh Phục
Hưng bảo là phải đi ngay mặc dù đêm đã xuống. Dền chẳng ngần ngại gì cả. Anh
Bát Ngư rất ưng ý và quyết tâm đưa Dền đến gặp anh Đức Thanh để nghe anh ấy
nói thêm về những điều mới lạ, về "Ông già cách mạng", về Đoàn thanh niên.
Và rồi, đúng một tháng sau, Dền đã chép lại bản Điều lệ Hội Nhi đồng Cứu
quốc và trao cho bốn bạn thân thiết nhất cùng có nguyện vọng gia nhập Hội. Thế là
tất cả đã sẵn sàng. Hôm nay mỗi người một con dao cài ở thắt lưng, một bó dây,
một mo cơm. Như thường lệ, họ rủ nhau vào rừng đào củ, kiếm củi. Ai mà biết được
họ đi đâu? Anh cán bộ đã gặp Dền, đưa Dền đến trước cái hang dơi bí ẩn, nơi anh
dựng cái lán nhỏ để ăn ở và làm việc cách mạng khi cần, còn hàng ngày anh vẫn ở
với dân, sinh hoạt với dân, cuốc đất với các anh thanh niên. Hang dơi bí ẩn chính là
nơi anh cất giấu tài liệu và chưa một lần nào Dền được vào.
Chiếc lán nhỏ nép mình dưới tán cây rậm rạp đây rồi, nó là cái chòi để giữ ngô
hoặc là nơi dừng chân của người đi săn thú, kiếm củi khó mà nghĩ rằng đây là
"Trụ sở", là "Hội trường" mà anh Đức Thanh cùng các đồng chí của mình đã nhiều
lần cùng nhau khai hội bàn về các công việc của đoàn thể. Còn cái hang dơi bí ẩn
kia, nơi trú ngụ của vô vàn chú dơi lại là cái kho lưu giữ tài liệu, lương thực mà cái
miệng của nó lúc nào cũng được che lấp bởi các bụi cây rậm rạp có lẽ chỉ có anh
Thanh mới đi lại dễ dàng không hề lo ngại rắn rết.
Bây giờ trăng đã lên cao, chung quanh tĩnh mịch lạ thường. Tháng năm rồi mà
đêm vẫn còn sương và se lạnh Dền tiến đến và chuyển cho anh Đức Thanh
phong thư nhỏ dán kín của anh Bát Ngư. Anh Đức Thanh gom một ít củi khô và đốt
lên ngọn lửa, tất cả ngồi quây quanh. Trên chiếc hòm gỗ, anh đặt cuốn Điều lệ Hội
Nhi đồng Cứu quốc và lá cờ đỏ sao vàng.
- Các em đã đọc Điều lệ, còn chỗ nào chưa hiểu?
Các bạn thay nhau hỏi, anh trả lời rành rọt cho từng câu hỏi. Trả lời xong, anh
đặt cuốn Điều lệ lại chỗ cũ và cầm lá cờ mở rộng trước mặt các em nói:
- Đây là lá cờ Tổ quốc. Màu đỏ tượng trưng cho sức mạnh chiến đấu, truyền
thống quật cường của ông cha, ngôi sao vàng là ngôi sao dẫn đường chỉ lối cho
chúng ta đấu tranh đi đến cuộc đời hạnh phúc, ấm no.
Từ nay trở đi chúng ta chiến đấu dưới lá cờ này, không sợ gian khổ, không sợ
hy sinh, mọi người đều gắng sức làm sao cho nước nhà được độc lập, tự do. Dân ta
được ấm no, hạnh phúc
Trước khi các hội viên tự mình đọc lời thề trong lễ kết nạp, anh Đức Thanh đề
nghị mỗi bạn chọn cho mình một tên mới, tên cách mạng nhằm đảm bảo nguyên tắc
bí mật.
Thật là một việc mới lạ, các bạn nhỏ cứ nhìn nhau lúng túng. Anh Đức Thanh
hiểu ý bèn nói ngay:
- Thôi được, anh sẽ giúp các em, chọn cho mỗi người một "bí danh" nhé, bí
danh là tên bí mật đấy, nói thế cho dễ hiểu. Bây giờ anh đề nghị tìm bí danh cho các
bạn gái trước.
- Nhà hai em ở gần suối, thế thì hai em mỗi người lấy một tên suối, một tên
hoa; Xậu là Thanh Thủy. Thanh Thủy là nước suối trong xanh; còn Nì là Thủy Tiên.
Thủy Tiên hiểu là hoa tiên bên suối.
Tất cả đều reo lên:
- Tên cách mạng hay thật!
Anh Đức Thanh cùng cười rất vui, tiếp tục đặt bí danh cho các bạn trai. Hai
bạn ngồi cạnh Dền, anh Thanh đặt cho Thàn bí danh là Cao Sơn và Tinh bí danh là
Thanh Minh.
Đến lượt Nông Văn Dền, anh Đức Thanh suy nghĩ một lúc rồi nói: Dền sẽ lấy
tên nói lên một tinh thần gan dạ, tính cứng rắn của em. Vậy tên em là Kim Đồng.
Kim Đồng có thể hiểu là một chú bé gang thép. Nào các bạn thấy có được không?
Bốn bạn nhỏ, trừ Dền, đều đồng thanh:
- Phải đấy, Dền giỏi lắm, tên đó đúng với Dền.
Anh Đức Thanh khơi cho đống lửa cháy bùng lên, soi tỏ gương mặt trang
nghiêm của mọi người. Anh đứng dậy, hai tay từ từ nâng cao lá cờ Tổ quốc. Lá cờ
đỏ thắm càng thắm đỏ hơn lên trước ánh lửa. Năm bạn nhỏ đứng dậy, từng người,
từng người đọc lời thề.
Đó là năm Hội viên Hội Nhi đồng Cứu quốc đầu tiên (sau này gọi là đội viên)
của Đội ta, năm bông hoa tươi đẹp được Bác Hồ kính yêu và Đảng Cộng sản Việt
Nam trực tiếp chăm lo ân cần, được Đoàn Thanh niên Cứu quốc do các anh Đức
Thanh, Bát Ngư, Phục Quốc dìu dắt hàng ngày.
Chẳng bao lâu sau, cả Nà Mạ, Hà Quảng và cả tỉnh Cao Bằng, số lượng đội
viên lên đến hàng trăm. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 8 và các Nghị quyết
của Ban Thường vụ Trung ương Đảng về những nhiệm vụ trọng yếu trong thời kỳ
cách mạng mới đầy khó khăn, thử thách nhằm tới đích là giành lại chính quyền về
tay nhân dân trong đó có việc xây dựng, phát triển tổ chức Đội được triển khai rộng
khắp như ở huyện Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc ngày nay) vào cuối năm 1941 đã xuất
hiện nhiều cơ sở Hội nhi đồng. Riêng ở Nà Mạ năm đội viên đầu tiên hoạt động rất
tích cực, anh Đức Thanh tổ chức lớp học văn hoá cho các bạn theo lời căn dặn của
Bác Hồ. ít lâu sau hầu hết các đội viên đều biết chữ, đều thuộc lòng bài "Lịch sử
nước ta" do Bác Hồ soạn bằng văn vần giản dị dễ nhớ, để khơi dậy lòng yêu nước
nồng nàn của nhân dân ta trước hết là của thanh thiếu nhi.
" Quốc Toản là trẻ có tài,
Mới mười sáu tuổi ra oan trận tiền,
Mấy lần đánh thắng quân Nguyên,
Được phong làm tướng cầm quyền binh nhung.
Thật là một đấng anh hùng,
Trẻ con Nam Việt nên cùng noi theo.
Một chiều thu tháng 8, Kim Đồng vừa đi đưa bức thư sang bên Pài Cốc về
thấy anh Ngư Mạn đã đợi dưới chân cầu thang nhà sàn. Anh ghé sát vào tai Kim
Đồng:
- Có một ông già cho gọi em lên đấy.
- Anh có biết ai không?
Anh Ngư Mạn ra hiệu và nói:
- Bí mật, không hỏi, không nói được.
Kim Đồng hồi hộp theo anh Ngư Mạn leo lên ngọn đồi rậm rạp sau bản. Đến
trước cửa hang Nục én, anh dặn Kim Đồng chờ đó. Lát sau Kim Đồng thấy anh Đức
Thanh tới, anh dẫn Kim Đồng vào một lối tắt Bỗng Kim Đồng thấy một "Ông Ké"
đang ung dung ngồi trên tảng đá xem sách. Trên khuôn mặt gầy, đôi mắt sáng lên
trông thật hiền. Vẫn đang còn lúng túng vòng tay trước ngực chưa kịp chào, Kim
Đồng đã nghe "Ông Ké" hỏi:
- Cháu là Kim Đồng, thiếu nhi cứu quốc ở đây phải không?
Kim Đồng khẽ đáp "Vâng ạ". Ông Ké vẫy tay Kim Đồng lại ngồi bên rồi hỏi:
- Đọc chữ được chưa cháu?
- Thưa được rồi ạ.
Ông Ké bảo Kim Đồng kể chuyện hoạt động của Đội cho ông nghe rồi có lời
khen làm cho Kim Đồng bạo dạn hơn lên. Ông dặn phải chăm học, biết đọc chữ
nhưng còn phải biết làm toán. Ông còn dặn học cũng phải giữ bí mật vì Tây và cai
Tổng biết nó bắt ngay, nó nghi cách mạng tổ chức dạy học, chúng muốn dân mình
ngu dốt để áp bức, cai trị mãi.
Khi mặt trời đã lặn, Kim Đồng thấy một người lạ xuất hiện với chiếc tay nải.
Người đó dọn ra một "mâm cơm". Cơm gói trong lá chuối khô và một cái hộp sắt
đựng thức ăn, đó là thịt rang mặn với ít ớt cay. Ông Ké xoa đầu Kim Đồng bảo cách
mạng thành công thì đi học tiếp mới trở thành cán bộ như các anh này, này. Ông chỉ
vào anh Đức Thanh, anh Ngư Mạn và người mới mang cơm đến.
Sẩm tối, anh Đức Thanh dặn Kim Đồng:
- Bây giờ chúng ta chuẩn bị đưa đường cho "Ông già cách mạng". Lúc này
Kim Đồng mới thấy bàng hoàng vì rằng nãy giờ mình đã được ở bên "Ông già cách
mạng" mà lâu nay đã nghe thấy
Anh Đức Thanh giao cho anh Ngư Mạn cái súng ngắn, chiếc đèn pin và bảo
Kim Đồng cùng anh Ngư Mạn dẫn đường. Hai người phải đi cách nhau mười bước.
Lúc nào anh Ngư Mạn bấm đèn ra đằng sau, tức thì Kim Đồng phải quay lại nhanh
chóng báo cho anh biết Đi sau cùng là người mang cơm đến lúc chiều.
Tất cả im lặng lên đường. Kim Đồng len lỏi bám theo anh Ngư Mạn, căng mắt
trong đêm đen để khi có động nhìn được ánh đèn của anh Ngư Mạn.
Chuyến đưa đường cho "Ông già cách mạng" yên ổn hoàn toàn. Sau này, anh
Đức Thanh nói với Kim Đồng:
- Chúng ta đã hoàn thành một nhiệm vụ quan trọng.
- Kim Đồng sung sướng nhìn anh và thốt lên:
- Em mong được gặp "Ông già cách mạng" lần nữa.
Nhưng, người anh hùng nhỏ tuổi, người đội viên thuộc lớp đầu tiên ấy chẳng
bao giờ được gặp ông nữa. Anh đã hy sinh anh dũng để hoàn thành một nhiệm vụ
quan trọng khác. "Anh Kim Đồng ơi! Khi anh qua đời, gương anh sáng ngời!".
Từ 5 đội viên đầu tiên năm 1941, đến thời gian trước Cách mạng Tháng Tám,
tổ chức Đội đã được xây dựng ở những trung tâm chính trị, kinh tế lớn trong cả
nước.
Tại Hà Nội, vào khoảng tháng 8 năm 1943, được ảnh hưởng của phong trào
yêu nước trong các trường học, một tổ chức thiếu niên yêu nước Trần Hưng Đạo
được thành lập (trên địa bàn quận Ba Đình hiện nay). Đội gồm hơn 10 đội viên do
anh Tô An làm đội trưởng. Đội Trần Hưng Đạo đã tổ chức nhiều hoạt động như rải
truyền đơn tố cáo tội ác của thực dân Pháp, kêu gọi đồng bào đứng lên đấu tranh,
treo cờ đỏ gây thanh thế cho cách mạng
Vào mùa xuân năm 1944, Ban Việt Minh xã Hoàng Động, huyện Duy Tiên, tỉnh
Hà Nam tổ chức ra Đội Thiếu nhi Cứu quốc bí mật Ngọc Động. Hình thức bên ngoài
là các đội đá bóng, đá cầu, đội ca hát nhưng bên trong là hoạt động cách mạng,
tuyên truyền, cổ động cho Việt Minh. Anh Phong Nhã, đoàn viên thanh niên cứu
quốc được giao nhiệm vụ phụ trách Đội. Lãnh đạo Việt Minh cấp trên lúc này là các
đồng chí Phạm Văn Hoan, Trần Quyết
Đến tháng 4 năm 1945, khi phong trào cứu quốc do mặt trận Việt Minh thành
phố lãnh đạo phát triển mạnh, nhiều cơ sở của Đoàn Thanh niên Cứu quốc Hoàng
Diệu (tức Hà Nội) ra đời cũng như sự phát triển của các đoàn thể Công Hội, Hội Phụ
nữ anh Tô An được trao nhiệm vụ phụ trách Đội Thiếu nhi Cứu quốc Nguyễn Thái
Học. Trong Ban phụ trách Đội Nguyễn Thái Học còn có các anh Huy Du, Quân Sỹ,
Đỗ Anh Dũng, Đỗ Mạnh Thường, Phong Nhã (lúc này anh Phong Nhã đã lên Hà Nội
hoạt động). Đội Thiếu nhi Cứu quốc Nguyễn Thái Học hoạt động rất mạnh, ngoài
việc tuyên truyền cách mạng còn giúp lực lượng du kích nội thành, giúp Đội danh dự
phát hiện bọn tề ngụy gian ác, bọn mật thám để cảnh cáo, răn đe nhằm hạn chế
những hoạt động phá hoại cách mạng của chúng.
Dưới ngọn cờ của Đảng, phong trào cách mạng trong cả nước ngày càng phát
triển mạnh mẽ, rộng khắp. Đến cuối năm 1944, để chuẩn bị xây dựng quân đội cách
mạng của nước ta, Bác Hồ đã chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng
quân và giao cho đồng chí Văn, tức Đại tướng Võ Nguyên Giáp phụ trách. Ngày 22-
12-1944, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân chính thức thành lập ở Cao
Bằng. Trong số 34 chiến sĩ trẻ tuổi ấy có các anh mới qua tuổi thiếu niên như anh
Liên, anh Thế Hậu Sau ngày thành lập, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng
quân đã lập chiến công tiêu diệt hai đồn địch là Phai Khắt và Nà Ngần.
Trong chiến công đầu này có sự góp phần tích cực của một đội viên thiếu niên
đó là Bé Hồng làm nhiệm vụ trinh sát.
Đồn Phai Khắt nằm chênh chếch phía Tây cách nhà Hồng non nửa cây số.
Sáng nào, chiều nào, nhìn lên, Hồng cũng thấy lính xếp hàng trước sân. Tên đồn
trưởng cầm roi gõ lên lưng, lên đầu từng người, rồi hô giật một tiếng; tất cả lính
đứng im phăng phắc; xong, bồng súng chào, rồi giải tán.
Thằng quan Tây ác hiểm có tiếng. Giữa ban ngày, nó ra chợ, đi ngông
nghênh, xem có chị nào đẹp, bắt ngay về đồn Nó vào nhà ai thì y như là có tai vạ
đến đó; ít nhất cũng mất với nó đấu nếp, con gà.
Hồng ghét cay ghét đắng thằng đồn, nhưng mỗi lần gặp nó, vẫn thấy sợ. Hai
tên cai, một tên mặt mày như cú mèo, hai con mắt xanh lẻo, đi đâu cũng nhìn soi
mói. Một tên mặt thuổng dài như mặt ngựa, chưa có một đám cúng, giỗ nào ở trong
làng mà vắng hắn
Đồn Phai Khắt có từ bao giờ Hồng không biết, chỉ nhớ là lúc Hồng biết chạy ra
khỏi hàng giậu trước nhà, đã thấy nó lù lù trước mặt. Từ đó, mỗi lúc Hồng khóc vòi
mẹ, mẹ doạ:
- Nín đi, thằng tây đồn xuống nó bắn chết!
Hồng lớn lên, bắt đầu biết được nhiều chuyện thì cũng biết thêm tội ác của cái
đồn Tây.
Năm Hồng mười ba tuổi, anh Đạo, anh của Hồng bị bắt lên đồn. Mẹ lo quá,
phát ốm. Hồng nghe loáng thoáng là anh Đạo bị bắt vì chúng nghi anh Đạo vào Hội
cứu quốc. Hồng hỏi mẹ mãi "Cứu quốc" là gì, mẹ không nói. Sau lúc anh Đạo được
thả về, mẹ mới bảo:
- Thằng Đạo nó vào Hội Cứu quốc để cùng với anh em bắt hết bọn đồn để cho
dân khỏi khổ.
ít lâu sau anh Đạo giới thiệu Hồng vào Hội Nhi đồng Cứu quốc và đưa Hồng gặp
một anh giải phóng quân.
Anh giải phóng quân dặn dò tỉ mỉ, giao nhiệm vụ xong xuôi, rồi ôm Hồng vào
lòng.
Anh cầm lấy tay Hồng:
- Bao giờ không còn đồn Phai Khắt nữa, anh sẽ về nhà Hồng chơi. Hồng sẽ
được gặp rất nhiều anh bộ đội.
Từ hôm ấy, ngày nào Hồng cũng đi lên đồn bán bánh hai ba lần.
Đồn Phai Khắt đối với Hồng không còn xa lạ gì nữa. Bây giờ thì Hồng có thể
làm nhiệm vụ của anh giải phóng quân giao cho rồi. Bọn đồn đã tin Hồng. Qua con
mắt của chúng, Hồng chỉ là một đứa trẻ con bán bánh nghèo đói, ngốc nghếch,
không biết gì.
Hôm đó, một loạt súng nổ ran trên đồn Khai Phắt, tin truyền về bộ đội ta đã
chiếm xong đồn.
Bà con tập hợp, hoan hô bộ đội giải phóng quân. Đồng bào hân hoan đứng
nghe đồng chí chỉ huy nói chuyện. Đồng chí giải thích chính sách của Mặt trận Việt
Minh, hô hào đồng bào đoàn kết cứu nước
Mẹ Hồng cảm động, sung sướng nhìn con. Hồng gọi to:
- Mẹ ơi! Anh giải phóng quân của con đây này!
Anh bộ đội tung mũ lên trời hoan hô bà con quanh vùng đến mừng chiến
thắng với bộ đội. Bỗng như sực nhớ ra điều gì, Hồng kéo tay anh giải phóng quân
chạy về phía đồng chí chỉ huy:
- Anh cho em đi theo bộ đội! Anh hứa rồi mà!
Anh giải phóng quân gật đầu, kéo Hồng cùng chạy tới.
- Phải báo cáo với đồng chí Văn đã.
Hồng không rõ đồng chí Văn là ai nhưng không dám hỏi.
Anh giải phóng quân đứng nghiêm báo cáo:
- Thưa đồng chí! Bé Hồng đây là người đã giúp đỡ chúng ta rất đắc lực trong
việc điều tra đồn này, như đã báo cáo với đồng chí trước đây Nay bé Hồng có
nguyện vọng xin đi theo bộ đội! Xin báo cáo để đồng chí xét
Lúc anh bộ đội báo cáo, Hồng đứng cạnh anh và nhìn không chớp mắt đồng
chí Văn. Đồng chí Văn mặc áo tây, quần bó ống gọn gàng, đội mũ phớt và đeo súng
lục. Khác với điều lo lắng của Hồng, đồng chí Văn nhìn Hồng bằng cặp mắt hiền từ
âu yếm. Rồi đồng chí đến bên Hồng, đặt hai bàn tay lên hai vai bé nhỏ của Hồng:
- Em rất đáng khen! Ban chỉ huy đã đồng ý nhận em vào đơn vị.
Đồng chí Văn ra lệnh cho bộ đội rút đi, sau khi đã bố trí kế hoạch khai báo kỹ
càng cho nhân dân.
Gần đến ngày Cách mạng Tháng Tám bùng nổ, Đội Thiếu nhi Nguyễn Thái
Học phát triển cơ sở ra nhiều địa bàn trong thành phố Hà Nội. Cùng với Đội Nguyễn
Thái Học đã hình thành thêm nhiều Đội Thiếu nhi Cứu quốc khác như Đội Hoàng
Văn Thụ, Đội Mai Hắc Đế Ngày 19-8-1945, thiếu nhi Cứu quốc Hà Nội đã cùng
cha anh góp phần tham gia chiếm các công sở, trong đó có trại Bảo an binh.
Ngày 2-9-1945 đã cùng nhân dân Thủ đô dự mít tinh lịch sử, nghe Bác Hồ đọc
Tuyên ngôn độc lập. Tháng 11 -1945 nhiều đội viên đã được vào thăm Bác Hồ tại
Bắc Bộ phủ, được Bác tặng hai câu thơ:
"Bác khuyên các bạn nhi đồng - Sao cho xứng mặt con rồng cháu tiên"
Năm 1945, tình hình trong nước và trên thế giới chuyển biến hết sức nhanh
chóng. Hồng quân Liên Xô đại thắng quân phát xít Đức và tiến thẳng đến Béclin và
chỉ trong thời gian ngắn sau đã tiêu diệt toàn bộ đội quân Quan Đông của phát xít
Nhật.
Trước tình hình khẩn cấp đó, từ ngày 13 đến ngày15 - 8 -1945, Hội nghị toàn
quốc của Đảng họp ở Tân Trào (Tuyên Quang). Hội nghị nhận định: "Cơ hội rất tốt
giành quyền độc lập cho ta đã tới" và quyết định phát động toàn dân vùng lên Tổng
khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân trước khi quân Đồng minh tiến vào
Đông Dương giải giáp quân đội Nhật.
Tiếp sau Hội nghị toàn quốc của Đảng, Đại hội Quốc dân cũng họp tại Tân
Trào vào ngày 16-8-1945 thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh, thông qua
lệnh Tổng khởi nghĩa và bầu ra ủy ban Dân tộc giải phóng Trung ương tức Chính
phủ lâm thời do Bác Hồ kính yêu làm Chủ tịch. Đồng chí Vũ Oanh (sau này trở
thành ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng) và anh Vũ Quang (sau này trở thành
Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn và ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng) đại
diện cho thanh niên ta dự Đại hội Quốc dân Tân Trào.
Chiều ngày 16-8-1945, đoàn đại biểu nhân dân Tân Trào đem gạo, bò, gà
đến mừng Đại hội. Đồng bào bị đế quốc, phong kiến bóc lột đến tận xương tủy nên
ai nấy đều tiều tụy, rách rưới. Đáng thương nhất là các em thiếu nhi đi theo đoàn.
Tất cả đều gầy gò, vàng vọt. Nhớ lại hồi còn ở Pác Bó, Bác thường đến nhà đồng
chí Dương Đại Lâm. Nhà có nhiều cháu nhỏ bị chốc lở, tanh tưởi mà không có
thuốc chạy chữa. Bác đun nước ấm, rửa sạch chỗ lở rồi lấy tro bếp nóng gói lại ấp
lên đầu cho các cháu. Được rửa sạch và làm theo cách đó, ít lâu sau các cháu đều
khỏi. Dân bản gọi "Ông Ké" là thầy thuốc. Bác Hồ chữa bệnh cho các cháu bằng cả
tấm lòng thương yêu và luôn mong cho các cháu khỏe mạnh, khôn lớn. Tại Đại hội
Tân Trào hôm ấy, Bác đến gần các cháu đi cùng với đoàn đại biểu nhân dân, chỉ

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét