Thứ Tư, 5 tháng 3, 2014

Thực trạng và giải pháp phát triển làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Thường sản xuất dưới những hình thức đơn lẻ, quy mô hộ gia đình . Có một
số hộ gia đình có quy mô lớn hơn đã chuyển sang hình thức doanh nghiệp với các
xưởng sản xuất lớn.
- Ổn định về một nghề hay một số nghề có quan hệ mật thiết với nhau trong
quá trình sản xuất ra một loại sản phẩm.
- Sản phẩm kĩ thuật thủ công là chủ yếu, thường không sản xuất hàng loạt, có
tính đơn chiếc nên rất độc đáo và khác biệt. Các sản phẩm đều là sự kết hợp giữa
phương pháp thủ công tinh xảo và sự sáng tạo nghệ thuật. Từ những con rồng chạm
trổ trên mái đình, chùa, hoa văn trên trống đồng, các hoạ tiết gốm sứ đến những nết
chấm phá trên các bức thêu, tất cả đều mang vóc dáng dân tộc, quê hương, chứa
đựng ảnh hưởng về văn hoá tinh thần, tín ngưỡng tôn giáo của dân tộc.
- Trong các loại sản phẩm thường sẽ có một số sản phẩm mang tính nghệ
thuật cao, có khả năng buôn bán thương mại lớn. Điều này giúp cho các làng nghề
tạo ra thương hiệu riêng cho mình, thúc đẩy việc giao thương.
- Có đội ngũ nghệ nhân và thợ với tay nghề cao, có bí quyết nghề nghiệp
riêng, được lưu truyền lại cho con cháu hoặc các thế hệ sau. Ngày nay, việc ứng dụng
công nghệ, khoa học kĩ thuật vào sản xuất đã giúp giảm bớt được lượng lao động thủ
công, giản đơn. Tuy nhiên, trong những công đoạn nhất định, cần đến sự tinh xảo của
đôi bàn tay con người thì vai trò của các nghệ nhân, thợ thủ công là không thể thiếu
- Sản phẩm có ý nghĩa kinh tế để nuôi sống một bộ phận dân cư và quan trọng
hơn là nó mang lại những giá trị vật thể và phi vật thể phản ánh được lịch sử, văn
hóa, xã hội liên quan tới chính họ.
3. 3. Phân loại làng nghề:
Có nhiều cách để phân loại làng nghề như:
- Theo lịch sử hình thành và phát triển các nghề: làng nghề truyền thống, làng
nghề mới,…
- Theo quy mô làng nghề: làng nghề quy mô lớn, làng nghề quy mô nhỏ
- Theo ngành nghề sản xuất kinh doanh: làng nghề tiểu thủ công nghiệp, làng
nghề cơ khí chế tác, làng nghề dịch vụ,…
SV: Trần Thanh Xuân Lớp: Kế hoạch 49A
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Theo loại hình kinh doanh của nghề: làng nghề truyền thống chuyên doanh,
làng nghề kinh doanh tổng hợp, ….
- Theo tính chất hoạt động sản xuất kinh doanh làng nghề: các làng nghề thủ
công chuyên nghiệp, các làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu, các làng nghề vừa sản
xuất nông nghiệp, vừa sản xuất kinh doanh các ngành nghề phi nông nghiệp,…
Ngoài ra, các làng nghề cúng có thể được phân loại theo các nghề nhỏ, bao gồm
16 loại như sau:
• Ngành nghề sơn mài, khảm trai
• Ngành nghề làm nón lá, mũ
• Ngành nghề mây tre giang đan, tăm hương, làm lồng chim
• Ngành nghề chế biến lâm sản, mộc dân dụng, gỗ cao cấp
• Ngành nghề thêu ren
• Ngành nghề dệt may
• Ngành nghề da giầy, khâu bóng
• Ngành nghề làm giấy, vàng mã, in tranh dân gian
• Ngành nghề cơ kim khí, điện, rèn, dao kéo
• Ngành nghề chạm, điêu khắc đá, kim loại, gỗ , xương , sừng
• Ngành nghề gốm sứ,
• Ngành nghề dát quỳ, vàng bạc
• Ngành nghề đan tơ lưới, dệt lưới chã
• Ngành nghề chế biến nông sản thực phẩm
• Ngành nghề sinh vật cảnh
• Ngành nghề khác
Việc phân loại làng nghề chỉ mang tính chất tương đối vì một số làng nghề có
thể thuộc nhiều nhóm. Sự phân loại này sẽ tạo thuận lợi cho việc nghiên cứu và hỗ
trợ sản xuất kinh doanh cho từng nhóm làng nghề.
II. Vai trò của phát triển các làng nghề:
SV: Trần Thanh Xuân Lớp: Kế hoạch 49A
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1. Gia tăng giá trị sản phẩm hàng hóa:
Làng nghề đem lại giá trị sản xuất cao, sản xuất một khối lượng sản phẩm, hàng
hóa lớn.
Sự phục hồi và phát triển các làng nghề có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự
phát triển kinh tế xã hội tại các đại phương vùng nông thôn. Tuy với quy mô nhỏ bé
nhưng các làng nghề lại phân bố rộng khắp nên hàng năm luôn sản xuất ra một khối
lượng sản phẩm, hàng hóa lớn, đóng góp đáng kể vào GDP địa phương nói riêng và
của cả nước nói chung.
Ngày nay, những thay đổi trong xu thế hội nhập kinh tế vừa mang lại những
thuận lợi vừa tạo ra thách thức đối với các làng nghề trong quá trình phát triển. Mở
cửa, hội nhập, các làng nghề có cơ hội giới thiệu sản phẩm của mình với khách nước
ngoài. Theo thống kê, hiện hàng hóa của các làng nghề nước ta như thủ công mỹ
nghệ, thêu ren, gốm sứ đã có mặt ở hơn 100 nước trên thế giới với kim ngạch xuất
khẩu ngày càng tăng. Nếu như năm 2004, kim ngạch xuất khẩu mới đạt 450 triệu
USD, thì năm 2008 đã tăng lên hơn 776 triệu USD. Theo số liệu thống kê của Tổng
cục Hải quan trong tháng 4/2009, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm thủ công mỹ nghệ
đạt được gần 14,07 triệu USD. Năm 2010, kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ
nghệ dự kiến phải đạt 1,5 tỷ USD.
Ví dụ như trong năm 2007, Việt Nam đã có những thành tích xuất khẩu hàng
thủ công mỹ nghệ đáng khen ngợi.
SV: Trần Thanh Xuân Lớp: Kế hoạch 49A
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Hình 1: Doanh thu xuất khẩu hàng năm của hàng thủ công mỹ nghệ
(nghìn USD)
Hình 2: Doanh thu xuất khẩu năm 2007 theo sản phẩm (nghìn USD)
Hình 3: Doanh thu xuất khẩu hàng thủ công theo quốc gia (%)
(nguồn: Trung tâm Nghiên cứu và Hỗ trợ Phát triển các Làng nghề Thủ công truyền
thống Việt Nam (HRPC)
SV: Trần Thanh Xuân Lớp: Kế hoạch 49A
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Riêng ở Hà Nội, năm 2009 giá trị sản xuất của 1.350 làng có nghề đạt
7.650,87 tỷ đồng, chiếm 26% giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh và 8,4%
giá trị sản xuất công nghiệp của thành phố.
Một số làng nghề tiêu biểu có giá trị sản xuất cao như: làng nghề mộc may đan
Chàng Sơn (huyện Thạch Thất) đạt 282 tỷ đồng/năm, làng nghề dệt nhuộm La
Dương, Ỷ La (quận Hà Đông) mỗi làng đạt 416 tỷ đồng/năm, làng nghề gốm sứ Bát
Tràng (huyện Gia Lâm) đạt 350 tỷ đồng/năm, …
Giá trị xuất khẩu năm 2009 của kinh tế ngoài nhà nước đạt 754,9 triệu USD
chiếm hơn 11,6% so với tổng kim ngạch xuất khẩu toàn thành phố, mặt hàng xuất
khẩu chủ yếu là dệt may, mây tre đan, sơn mài, khảm trai, gốm sứ, giầy dép
Các con số trên cho thấy làng nghề là một nhân tố quan trọng thúc đẩy kinh tế
nông thôn Việt Nam.
2. Giải quyết việc làm tại chỗ, nâng cao đời sống nhân dân địa phương
Làng nghề đã góp phần giải quyết một khối lượng lớn lao động nông thôn
nhàn rỗi.
Hiện nay, dân số ở nông thôn Việt nam chiếm sấp xỉ 70%, đa phần làm nông
nghiệp. Hầu hết nông dân đều làm việc theo mùa vụ và khi đã kết thúc vụ mùa thi họ
trở thành lao động thất nghiệp tạm thời. Nguồn lao động này nếu như không được sử
dụng sẽ dẫn tới tình trạng lãng phí, thậm chí rất dễ gây ra tình trạng di dân quá tải đến
các thanh phố lớn. Đặc biệt là với một số vùng nông thôn mà đất ruộng bị đô thị hóa
hoặc bị chuyển thành đất công nghiệp, người dân không có đất canh tác và vô tình trở
thành những người không có việc làm.
Khi các làng nghề phát triển sẽ tạo ra công ăn việc làm tại chỗ cho người dân,
đặc biệt là các thanh niên trẻ tuổi, họ có thể tự kiếm sống ngay tại quê hương mình,
theo đúng như chính sách của Đảng và Nhà nước “ly nông, bất ly hương”. Để làm
việc thủ công tại các làng nghề không cần đồi hỏi nhiều vốn, trình độ văn hoá cao mà
chỉ cần đến một chút khéo léo và sáng tạo. Vì vậy đây là một cơ hội nghề nghiệp cho
mọi người nôn gdân. Việc này không chỉ giúp cải thiện đời sống người dân tại địa
phương mà còn giúp giảm gánh nặng cho các đô thị, giảm tệ nạn xã hội cho địa
phương mình
SV: Trần Thanh Xuân Lớp: Kế hoạch 49A
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
3. Bảo tồn văn hóa truyền thống
Mỗi sản phẩm từ làng nghề đều mang một nét văn hóa đặc trưng của địa
phương. Nó thể hiện khiếu thẩm mĩ, cách nhìn cuộc sống của những người nghệ
nhân.
Giá trị văn hóa của làng nghề truyền thống thể hiện qua sản phẩm, cơ cấu của
làng, lối sống, phong tục tập quán của cộng đồng. Các sản phẩm thủ công truyền
thống hầu hết là những hàng hóa mang tính nghệ thuật, nó là sản phẩm văn hóa vật
thể vừa chứa đựng những giá trị văn hóa phi vật thể. Những sản phẩm thủ công thể
hiện sự ứng xử của con người trước nguyên liệu, trước thiên nhiên. Từ những nguyên
liệu thô sơ, qua bàn tay tài hoa, tâm huyết của người thợ đã trở thành những sản
phẩm xinh xắn, duyên dáng vì sản phẩm là nơi gửi gắm tâm hồn, tài năng, thể hiện
khiếu thẩm mỹ lao động, sự thông minh sự sáng tạo, khéo léo, tinh thần lao động của
người thợ – nghệ nhân. Mỗi làng nghề thực sự là một địa chỉ văn hóa, phản ánh nét
văn hóa độc đáo của từng địa phương, từng vùng. Làng nghề truyền thống từ lâu đã
trở thành một bộ phận hữu cơ không thể thiếu của văn hóa dân gian. Những giá trị
văn hóa chứa đựng trong các làng nghề truyền thống đã tạo nên những nét riêng độc
đáo đa dạng nhưng cũng mang bản sắc chung của văn hóa dân tộc Việt Nam. Làng
nghề là cả một môi trường kinh tế, văn hoá xã hội. Làng nghề là nơi cộng đồng dân
cư có lối sống văn hóa: sống yêu lao động; sống cần cù, giản dị, tiết kiệm; sống đùm
bọc, giúp nhau cùng rèn luyện tay nghề. Làng nghề là nơi không có đất để văn hóa
phẩm độc hại, các tệ nạn: ma túy, cờ bạc, rượu chè, đua xe… nẩy nở. Cũng chính vì
lẽ đó mà nảy sinh nhận thức: làng nghề thủ công truyền thống chắc chắn sẽ đóng góp
tích cực, thiết thực vào việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, bảo tồn văn hóa địa
phương.
4. Đa dạng hóa kinh tế nông thôn, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế địa
phương theo hướng phát triển công nghiệp.
Nhà nước ta đã có chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương theo
hướng công nghiệp hóa. Việc phát triển làng nghề tại các vùng nông thôn sẽ giúp
người nông dân có việc làm, với thu nhập cao hơn, ổn định hơn. Phát triển công
nghiệp thay vì nông nghiệp như trước đây.
Trong giai đoạn mở cửa, đất nước đang tăng tốc phát triển kinh tế bằng cách tập
trung đầu tư phát triển những ngành nghề công nghiệp hiện đại tại các khu đô thị
SV: Trần Thanh Xuân Lớp: Kế hoạch 49A
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
đồng thời tiếp tục nỗ lực phấn đấu phát huy mọi nguồn sức mạnh, tận dụng mọi lợi
thế và nguồn lực để phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp – xay dựng cơ bản
nhằm công nghiệp hoá kinh tế nông thôn.
Việc khôi phục và phát triển các làng nghề cũ, phát triển các làng nghề mới,
tạo ra những sản phẩm độc đáo không chỉ giúp giải quyết việc làm, nâng cao đời
sống người dân nông thôn, mà còn đóng vai trò tích cực trong việc thay đổi tập quán
sản xuất từ sản xuất nhỏ, phân tán, độc canh, tự cung tự cấp sang sản xuất nông
nghiệp hàng hoá, đa canh, kết hợp sản xuất nông nghiệp với công nghiệp dịch vụ,
thúc đẩy hình thành và phát triển thị trường hàng hoá, thị trường vốn, thị trường lao
động trong nông thôn.
Như vậy, sự phát triển làng nghề tạo điều kiện cho công nghiệp, dịch vụ phát
triển làm giảm tỉ trọng ngành nông nghiệp, phù hợp với quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá ở nước ta hiện nay.
III. Các yếu tố ảnh hưởng đến bảo tồn và phát triển làng nghề :
1. Ảnh hưởng từ truyền thống, văn hoá:
Văn hóa truyền thống thể hiện qua các di sản vật thể cũng như phi vật thể của
xã hội. Đây là yếu tố trước tiên, tác động và chi phối mạnh mẽ đến sự hình thành và
phát triển của các làng nghề.
Thực tế cho thấy, sự tồn tại và phát triển của bất kì làng nghề nào cũng là do có
sự kế tục của con cháu, nghề được các bậc tiền bối truyền lại cho lớp hậu sinh. Điều
này thể hiện thông qua các “quy lệ” của làng xã. Nó như một tài liệu về làng nghề
được truyền từ đời này sang đời khác, thể hiện luật lệ, bí quyết để giữ gìn nghề, giữ
gìn văn hoá của dòng họ, của cộng đồng, làng xã. Việc giữ “bí quyết nghề” không
chỉ đơn thuần là giữ nghề mà còn ảnh hưởng lớn đến các quan hệ khác như quan hệ
hôn nhân, gia đình, Những người học nghề phải tôn trọng và đảm bảo những quy
tắc nhất định. Những quy lệ này cứ lớn dần theo quy mô làng xã, rồi trả thành quy
ước, hương ước, lệ làng. Điều này đã tạo ra một nét văn hoá đặc thù riêng của làng
nghề.
Thông qua các quy lệ làng nghề và những nét văn hoá đặc sắc riêng có của
từng vùng miền, làng nghề được hình thành và phát triển và tồn tại từ thế hệ này qua
thế hệ khác. Vì thế, trong nền kinh tế thị trường với những công nghệ hiện đại được
áp dụng thì vấn đề làm sao đẻ đưa khoa học kĩ thuật vào trong sản xuất mà vẫn giữ
SV: Trần Thanh Xuân Lớp: Kế hoạch 49A
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
được những yếu tố truyền thống, nét tinh hoa văn hoá cha ông để lại là một bài toán
cần có lời giải đáp.
2. Chính sách phát triển làng nghề, các quy hoạch cơ sở hạ tầng
2.1. Chính sách phát triển làng nghề
- Chính sách của nhà nước có ảnh hưởng rất lớn đến bảo tồn và phát triển làng
nghề. Sự thay đổi của chính sách có thể làm mất đi làng nghề hoặc có khả năng khôi
phục hoặc tạo ra những làng nghề mới. Chẳng hạn như nghề làm gạch ở Cẩm Hà-
Hội An, vì sự ảnh hưởng của nó đến môi trường và chủ trương phát triển làng nghề
văn hoá du lịch nên nghề đó đã không tồn tại
- Trước năm 1996, với quan điểm duy ý chí muốn thiết lập nhanh chóng quan
hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế Việt Nam chỉ chấp nhận hai thành phần
kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể nên các làng nghề vốn là các hộ sản xuất cá thể
không có cơ may tồn tại, phải chuyển thành các hợp tác xã, do đó làng nghề không
thể phát triển được. Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới, kinh tế tự do, tư nhân, các
hộ gia đình được thừa nhận là những thành phần kinh tế độc lập thì các nghề đã
nhanh chóng được khôi phục và phát triển. Gần đây, một trong những nội dung định
hướng phát triển kinh tế nông thôn do đại hội Đảng đề ra là: " mở mang các làng
nghề, phát triển các điểm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp sản xuất hàng thủ công
mỹ nghệ, đưa công nghiệp sơ chế và chế biến về nông thôn và vùng nguyên liệu "
đã tạo tiền đề cho các làng nghề phát triển nhanh hơn, mạnh hơn.
- Đặc biệt, trong năm 2005 bộ NN-PTNT đã xây dựng đề án " mỗi làng một
nghề" theo đó hàng năm mỗi tỉnh sẽ chọn 2 đến 4 làng điểm để xây dựng dự án phát
triển, trong đó có 1 đến 2 dự án được chọn làm trọng điểm cấp quốc gia, được hỗ trợ
kinh phí từ ngân sách trung ương. Dự án này đã góp phần phát triển làng nghề mạnh
mẽ hơn.
- Bên cạnh đó, chính sách mở cửa hội nhập kinh tế của nước ta với các nước
trong khu vực và trên thế giới cũng làm cho một số sản phẩm làng nghề có điều kiện
phát triển mạnh mẽ, nhất là hàng thủ công mỹ nghệ, thêu ren nhưng đồng thời cũng
tạo điều kiện cho hàng hoá các nước tràn vào cạnh tranh với các sản phẩm của nước
ta.
- Thời gian gần đây , Chính phủ đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách để
hỗ trợ các doanh nghiệp khắc phục, trong đó có các doanh nghiệp tại làng nghề. Đó là
SV: Trần Thanh Xuân Lớp: Kế hoạch 49A
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
việc hỗ trợ lãi suất 4% cho các tổ chức, cá nhân vay vốn ngân hàng để sản xuất, kinh
doanh. Tiếp đó, các tổ chức, cá nhân được vay vốn trung hạn, dài hạn của ngân hàng
để đầu tư đổi mới sản xuất kinh doanh, xây dựng kết cấu hạ tầng trong thời gian tối
đa là 24 tháng, Chính phủ đã đưa ra rất nhiều chính sách hỗ trợ, nhưng vấn đề ở
đây là làm sao để những chính sách đó được thực thi đúng thời gian, đúng mục tiêu,
đúng đối tượng. Có nhiều chính sach, nhưng trên thực tế, số doanh nghiệp cá, nhân
kinh doanh sản xuất tại các làng nghề tiêế cận được với lợi ích từ các chính sách còn
rất hạn chế.
2.2. Cơ sở hạ tầng:
Các cơ sở hạ tầng cũng sẽ ảnh hưởng lớn đến việc giao thương, phát triển các
làng nghề. Từ xa xưa, các làng nghề truyền thống thường được hình thành ở những
vùng có giao thông thuận lợi. Ngày nay, khi giao lưu kinh tế càng được phát triển, thị
trường tiêu thụ sản phẩm của làng nghề không còn bó hẹp tại địa phương mà đã vươn
ra các khu vực lân cận, thậm chí còn xuất khẩu ra nước ngoài. Bên cạnh đó nguồn
nguyên liệu tại chỗ đáp ứng cho nhu cầu của làng nghề ngày càng bị thu hẹp, bắt
buộc phải vận chuyển từ những nơi khác về, chính vì vậy hệ thống giao thông càng
thuận lợi thì làng nghề càng phát triển.
Ngoài hệ thống giao thông thì mạng lưới trường học, y tế, bưa chính viễn thông
cũng quan trọng không kém. Nó tạo ra những yếu tố để ổn định về mặt đời sống,
nâng cao dân trí và sức khảo cho người dân, người lao động. Từ đó tác động một
cách tích cự đến năng suất và hiệu quả lao động của người thợ thủ công.
Điện năng cũng là một yếu tố không thể thiếu trong việc đưa công nghệ, khoa
học kỹ thuật tiên tiến đến với làng nghề, tạo điều kiện cho sự phát triển lâu dài.
Do tầm ảnh hưởng lâu dài của mình mà việc quy hoạch , xây dựng cơ sở hạ
tầng không chỉ ảnh hưởng mạnh đến việc phát triển của các làng nghề nói riêng, mà
là của toàn bộ ngành kinh tế nói chung.
3. Ảnh hưởng từ các yếu tố đầu vào
3.1. Nhân lực:
Nhân lực là yếu tố quan trọng bậc nhất để phát triển làng nghề. Nguồn nhân lực
ở đây có thể thấy rõ bao gồm hai lực lượng : thứ nhất là những nghệ nhân, những thợ
thủ công, những người trực tiếp làm và sáng tạo ra những sản phẩm, thứ hai là những
người quản lí, những chủ cơ sở sản xuất kinh doanh.Nếu thiếu đi những con người
SV: Trần Thanh Xuân Lớp: Kế hoạch 49A
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tâm huyết với nghề, những nghệ nhân với đôi bàn tay tài hoa thì có lẽ các làng nghề
khó mà tồn tại được. Họ có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc truyền nghề, dạy
nghề, đồng thời chính là những người sáng tạo ra những sản phẩm độc đáo mang
đậm yếu tố truyền thống. Hiện nay ở các làng nghề vẫn còn có rất nhiều nghệ nhân
tâm huyết với nghề và muốn giữ gìn phát triển nghề. Bên cạnh đó là một lực lượng
lao động dồi dào, cơ cấu lao động trẻ, có khả năng học hỏi và thích ứng nhanh với
nền kinh tế thị trường là một nhân tố quan trọng trong việc phát triển và mở rộng làng
nghề.
Tuy nhiên, ngày nay, ngoài những nghệ nhân tâm huyết, giàu kinh nghiệm,làng
nghề cần phải có những người quản lí có hiểu biết về kinh tế thị trường, xông xáo,
sáng tạo, nhạy bén. Như vậy thì mới có thể giúp làng nghề không chỉ tồn tại mà còn
phát triển mạnh mẽ, vươn ra thị trường quốc tế. Đây chính có thểlà một điểm yếu,
môt sự thiếu sót cho một làng nghề phát triển hiện nay. Nguồn nhân lực tuy dồi dào,
nhưng trình độ văn hóa và chuyên môn nói chung lại chưa cao, đặc biệt là nguồn
nhân lực quản lí còn rất yếu kém. Đây là một lực cản lớn trên con đường phát triển
mà chúng ta cần phải gỡ bỏ.
3.2. Công nghệ:
Công nghệ là nhân tố quan trọng chi phối các hoạt động sản xuất. Trong các
làng nghề truyền thống bao giờ cũng có thợ cả, nghệ nhân có trình độ tay nghề cao,
có kinh nghiệm sản xuất, tâm huyết với nghề, là những hạt nhân để duy trì những nét
độc đáo của làng nghề, đó là sự khác biệt của các sản phẩm làng nghề.
Trước đây, chúng ta biết đến các làng nghề hầu hết là làm thủ công, mọi công
đoạn đều được làm tay, hết sức thô sơ mà hiệu quả lại không cao, năng suất thấp.
Ngày nay, khi nhu cầu sản xuất phục vụ cho một thị trường rộng, với các công nghệ
phụ trợ, năng suất làm việc sẽ được nâng cao, đồng thời chất lượng mẫu mã cũng sẽ
được cải tiến.
Bên cạnh công nghệ sản xuất, bí quyết sản xuất là một yếu tố rất quan trọng tạo
nên danh tiếng và phát triển cho một làng nghề. Thông thường, trông các làng nghề,
bí quyết sản xuất chỉ được phổ biến, truyền dạy trong một hoặc vài dòng họ nhất
định. Bí quyết chính là điểm quyết định làm nên sự khác biệt, tinh tế ,thương hiệu
riêng cho các sản phẩm thủ công mỹ nghệ.
SV: Trần Thanh Xuân Lớp: Kế hoạch 49A
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét