Danh mục Các chữ viết tắt
BQ Bình quân
BQC Bình quân chung
CC Cơ cấu
CĐ Chủ động
CS Công suất
CT Công trình
DT Diện tích
ĐVT Đơn vị tính
GTSX Giá trị sản xuất
GTSXCN&XD Giá trị sản xuất công nghiệp và xây dựng
GTSXNN Giá trị sản xuất nông nghiệp
GTSXTM&DV Giá trị sản xuất thương mại và dịch vụ
HTXDVNN Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp
KTCTTL Khai thỏc cụng trỡnh thủy lợi
KHTSCĐ Khấu hao tài sản cố định
LĐ Lao động
NN Nông nghiệp
NTTS Nuôi trồng thuỷ sản
HTX Hợp tác xã
SD Sử dụng
SS So sánh
SL Số lượng
TK Thiết kế
TS Thuỷ sản
TT Thực tế
Tr.đ Triệu đồng
UBND Uỷ ban nhân dân
5
Danh mục bảng
STT Tên bảng Trang
6
Danh mục sơ đồ
STT Tên sơ đồ Trang
7
PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Hiện nay, Việt Nam phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường có sự quản
lý của Nhà nước và theo định hướng XHCN. Trong những năm cuối của thập
kỷ 90, có nhiều dự án xây dựng công trình thuỷ lợi lớn, vừa và nhỏ đã được
xây dựng và chuẩn y thực hiện. Để thực hiện tốt dự án thuỷ lợi, cần phải nâng
cao hiệu quả của từng dự án đầu tư nói riêng, sử dụng và quản lý các công
trình thuỷ lợi nói chung.
Mặt khác, chuyển từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế theo cơ
chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN, các
chủ thể kinh tế ở nông thôn nước ta đã có những thay đổi căn bản; từ vị trí
là đối tượng bị điều hành trong quá trình sản xuất hộ nông dân đã trở
thành chủ thể kinh tế độc lập.
Một vấn đề mới nảy sinh là cơ chế quản lý hệ thống các công trình thủy
nông mà Nhà nước và nhân dân đã đầu tư xây dựng. Phục vụ sản xuất nông
nghiệp như thế nào cho phù hợp, vừa đảm bảo lợi ích của người hưởng lợi
vừa khuyến khích họ cùng tham gia quản lý.
Trong những năm gần đây, Nam Định nói chung và huyện Nghĩa Hưng
nói riêng đã tập trung chỉ đạo công tác nâng cấp và quản lý các công trình
thủy nông. Đã có một số mô hình thu được kết quả tốt góp phần nâng cao
năng suất cây trồng, vật nuôi, cải thiện được môi trường sinh thái và điều kiện
sống của người dân. Tuy nhiên, hiệu quả nâng cấp, quản lý và sử dụng khai
thác các công trình thủy nông còn thấp, chỉ mới tập trung cho đầu tư mà chưa
coi trọng công tác nâng cấp, quản lý khai thác, duy tu, bảo dưỡng công trình;
việc phân cấp quản lý các công trình thuỷ nông còn chồng chéo bất cập, hệ
8
thống cơ chế, chính sách quản lý công trình thuỷ lợi phần lớn đã lạc hậu, chưa
đổi mới kịp thời phù hợp với cơ chế kinh tế mới. Các doanh nghiệp quản lý
khai thác các công trình thuỷ nông luôn nằm trong tình trạng thua lỗ và thiếu
vốn để hoạt động sản xuất kinh doanh, luôn bị động và vẫn chưa thoát khỏi cơ
chế bao cấp.
Các công ty này vận hành công trình và cung cấp nước cho nông dân.
Nông dân trả thủy lợi phí theo vụ cho các dịch vụ thủy nông mà họ được
nhận. Một thực tế là hiệu quả tưới tiêu của các công trình thủy lợi chưa cao,
thủy lợi phí thu được mới chỉ đáp ứng 30% tổng chi phí vận hành và sữa chữa
thường xuyên. Nhiều công trình không đủ kinh phí để sữa chữa thường xuyên
và sữa chữa định kỳ nên xuống cấp nghiêm trọng. Mặt khác, là chưa làm rõ
vai trò của người dân trong việc xây dựng, vận hành và quản lý công trình
thuỷ nông, nhiều nông dân thậm chí chưa hiểu được ý nghĩa của việc đóng
thủy lợi phí, họ coi công trình thủy nông trên đồng ruộng của họ là của Nhà
nước chứ không phải là tài sản chung của cộng đồng mà trong đó họ là người
trực tiếp hưởng lợi.
Tuy nhiên, quan điểm đánh giá hiệu quả đầu tư cho các công trình thuỷ
nông vẫn còn nhiều vấn đề cần bàn như sau: Một là công trình thuỷ nông vừa
có tác dụng trực tiếp (tăng diện tích được tưới, tăng năng suất cây trồng) lại
vừa có tác dụng gián tiếp (như phát triển nghành nghề, cung cấp nước sạch
cho đời sống, phát triển chăn nuôi, cải thiện môi trường môi sinh…) vậy nên
tính toán lợi ích của thuỷ nông như thế nào để có thể phản ảnh hết các tác
dụng đó. Hai là, đầu tư vào thuỷ nông mang tính dài lâu. Vì thế, hiệu quả của
các công trình phụ thuộc nhiều vào việc xây dựng, sử dụng và quản lý các
công trình thuỷ nông ấy như thế nào. Ba là,công trình thuỷ nông mang tính xã
hội cao cả trong đầu tư, xây dựng và sử dụng nhiều người và nhiều cộng đồng
được lợi từ công trình thuỷ nông. Vì thế, có hàng loạt những câu hỏi được đặt
9
ra cần trả lời như: nên quan niệm như thế nào về kết quả một công trình thuỷ
nông? Kết quả đó được đánh giá như thế nào và bằng phương pháp nào? Làm
thế nào để nâng cao kết quả đầu tư cho các công trình thuỷ nông….
Từ thực tế trên câu hỏi chính cần đặt ra cần giải quyết đó là:
- Dựa vào cơ sở khoa học nào để làm nền tảng cho thực hiện nghiên
cứu đề tài?
- Thực trạng hệ thống công trình thuỷ nông và kết quả sử dụng công
trình thuỷ nông tại huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định như thế nào?
- Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả sử dụng các công trình thuỷ nông
tại huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định như thế nào?
- Phương hướng hoàn thiện hệ thống thủy nông và nâng cao kết quả sử
dụng công trình thủy nông ở huyện Nghĩa Hưng như thế nào?
- Các giải pháp hữu hiệu nào đảm bảo để xây dựng củng cố công trình
thuỷ nông góp phần nâng cao kết quả sử dụng các công trình thuỷ nông tại
huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định.
Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Giải
pháp nâng cao kết quả sử dụng các công trình thuỷ nông trên địa bàn
huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định”.
1.2.Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở phân tích thực trạng hoạt động và kết quả sử dụng các công
trình thủy nông trên địa bàn. Từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao kết quả sử
dụng các công trình thủy nông trên địa bàn góp phần phát triển nông nghiệp
của huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về vấn đề nâng cao
10
kết quả sử dụng các công trình thủy nông
- Đánh giá thực trạng thực hiện giải pháp kết quả sử dụng các công
trình thủy nông ở huyện Nghĩa Hưng.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả sử dụng các công trình
thuỷ nông ở huyện Nghĩa Hưng.
- Đề xuất định hướng và giải pháp nhằm nâng cao kết quả sử dụng các
công trình thủy nông trên địa bàn huyện, góp phần phát triển nông nghiệp của
huyện Nghĩa Hưng.
1.3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Chủ thể nghiên cứu: nghiên cứu hệ thống các công trình và sử dụng
hệ thống công trình thuỷ nông từ cấp 1 đến cấp 4. Nghiên cứu các hoạt động
cung cấp và sử dụng nước từ các công trình thuỷ nông của huyện Nghĩa
Hưng.
- Khách thể nghiên cứu: là các vấn đề liên quan đến sử dụng và kết quả
sử dụng công trình thuỷ nông.
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề nâng cao
kết quả sử dụng các công trình thuỷ nông trên địa bàn huyện Nghĩa Hưng,
tỉnh Nam Định.
- Phạm vi không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu công tác thủy nông
trên địa bàn huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định.
- Phạm vi thời gian:
+ Các tài liệu phục vụ đánh giá thực trạng được thu thập trong khoảng
thời gian từ năm 2008 đến năm 2011, các cơ chế, chính sách, định hướng giải
pháp xây dựng, đề xuất cho các năm đến 2020.
11
+ Thời gian thực hiện đề tài:Từ tháng 10/2011 đến tháng 10/2012
PHẦN 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIÊN
2.1.Cơ sở lý luận của đề tài
2.1.1. Lý luận về thủy nông và sử dụng các công trình thuỷ nông
2.1.1.1.Các khái niệm
* Thuỷ lợi:
Thủy lợi được hiểu là những hoạt động liên quan đến ý thức con người
trong quá trình khai thác, sử dụng tài nguyên nước để phục vụ lợi ích của
mình. Những biện pháp khai thác nước bao gồm khai thác nước mặt và nước
ngầm thông qua hệ thống bơm hoặc cung cấp nước tự chảy.
Thủy lợi trong nông nghiệp là các hoạt động kinh tế - kỹ thuật liên quan
đến tài nguyên nước được dùng trong nông nghiệp. Điểm quan trọng của thủy
lợi trong nông nghiệp là sử dụng hợp lý nguồn nước để có năng suất cây trồng
và năng suất vật nuôi cao. Các nội dung của thuỷ lợi trong nông nghiệp bao
gồm:
- Xây dựng hệ thống thủy lợi:
+ Tạo nguồn nước thông qua việc xây đập làm hồ chứa hoặc xây dựng
trạm bơm.
+ Xây dựng trạm bơm tưới và hệ thống kênh mương dẫn nước.
- Thực hiện việc tưới và tiêu khoa học cho đồng ruộng. Làm tăng năng
suất cây trồng vật nuôi và phát triển các ngành kinh tế khác.
- Quản lý hệ thống thủy lợi (tùy thuộc vào điều kiện cụ thể và quy mô
phục vụ từng công trình mà áp dụng các biện pháp quản lý thích hợp nhằm
nâng cao hiệu quả công trình về mặt tưới tiêu cũng như tính bền vững của
công trình).
12
Cho đến nay chưa có một quy định thống nhất về quy mô các công
trình thuỷ lợi. Theo quy mô phục vụ, mức vốn đầu tư, người ta thường phân
chia thuỷ lợi thành 3 cấp : lớn, vừa và nhỏ.
* Thủy nông: Hệ thống công trình thủy lợi phục vụ cho sản xuất nông
nghiệp được gọi là thủy nông.Sản phẩm của công trình thủy nông là nước
tưới, nước tưới là yếu tố hàng đầu và không thể thiếu đối với xản xuất nông
nghiệp.
* Hệ thống thuỷ nông là tập hợp các công trình làm nhiệm vụ lấy
nước từ nguồn nước, dẫn vào đồng ruộng tưới cho cây trồng và tiêu hết
lượng nước thừa trên đồng ruộng, bao gồm công trình lấy nước, hệ thống
kênh mương lấy nước tưới tiêu và các công trình phục vụ trên hệ thống đó.
* Công trình lấy nước: Nguồn nước tưới trong nông nghiệp có thể là
nước sông ngòi, nước trong các hồ chứa, nước thải của các thành phố, các nhà
máy công nông nghiệp và nước ngầm ở dưới đất. Tuỳ theo nguồn nước và các
điều kiện địa hình, thuỷ văn ở từng vùng mà các công trình lấy nước có thể
xây dựng khác nhau, để phù hợp với khả năng lấy nước, vận chuyển nước về
khu tưới và các địa điểm cần nước khác. Người ta thường gọi chúng là công
trình đầu mối của hệ thống tưới.
* Hệ thống kênh mương dẫn nước bao gồm hệ thống tưới và hệ thống
tiêu. Hệ thống tưới làm nhiệm vụ vận chuyển nước từ công trình đầu mối về
phân phối cho hệ thống điều tiết nước mặt ruộng trên từng cánh đồng trong
khu vực tưới. Hệ thống tiêu làm nhiệm vụ vận chuyển nước thừa trên mặt
ruộng do tưới hoặc do mưa gây nên, ra khu vực chứa nước.
Theo tiêu chuẩn thiết kế hệ thống kênh tưới Việt Nam TCVN 4118- 85,
hệ thống kênh tưới được phân ra như sau:
- Kênh đầu mối: Dẫn nước từ nguồn đến kênh cấp 1.
- Kênh cấp 1: Lấy nước từ kênh đầu mối phân phối nước cho kênh cấp
13
2.
- Kênh cấp 2: Lấy nước từ kênh nhánh cấp 1 phân phối cho kênh nhánh
cấp 3.
- Kênh cấp 3: Lấy nước từ kênh nhánh cấp 2 phân phối cho cấp kênh
cuối cùng.
- Kênh nhánh cấp 4: Còn là kênh nội đồng: Đây là cấp kênh tưới cố
định cuối cùng trên đồng ruộng, phụ trách tưới cho khoảnh ruộng, thửa ruộng.
* Khai thác các công trình thuỷ nông: Là một quá trình vận hành, sử
dụng và quản lý các công trình thuỷ nông nhằm đảm bảo cung cấp và tiêu
thoát nước đúng kế hoạch tưới tiêu, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho
khu vực tưới tiêu và xẫ hội.
* Thuỷ lợi phí: Là một phần phí dịch vụ về nước của công trình thuỷ
lợi, để góp phần chi phí cho công tác tu bổ, vận hành và bảo vệ công trình
thuỷ lợi.
2.1.1.2 Vai trò của ngành thủy lợi trong sản xuất nông nghiệp và trong
nền kinh tế quốc dân.
Trong những năm cuối của thế kỷ XX và nhưng năm đầu của thế kỷ
XXI, loài người trên trái đất cần phải quan tâm và giải quyết 5 vấn đề to lớn
mang tính chất toàn cầu đó là :
- Vấn đề về hoà bình.
- Vấn đề về lương thực thực phẩm.
- Vấn đề về bùng nổ dân số.
- Vấn đề về ô nhiễm môi trường .
- Vấn đề về năng lượng ,nhiên liệu .
Trong khuôn khổ của nền kinh tế quốc dân, thuỷ lợi là một ngành có
đóng góp đáng kể để giải quyết các vấn đề nêu trên. Nghị quyết đại hội Đảng
đã chỉ ra rằng nông nghiệp phải là mặt trận hàng đầu.Vì phát trienr nông
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét