TÔN ĐỨC THẮNG
Chủ tịch nước (1969-1981)
Truyền thống quật cường của quê hương đất nước đã sớm hun đúc lòng căm thù giặc và tinh
thần yêu nước của người thanh niên Tôn Đức Thắng, cuộc sống và ý thức giai cấp công nhân đã tiếp
bước rèn luyện người thanh niên ấy trở thành một chiến sĩ cách mạng kiên cường và lãnh tụ kính yêu
của nhân dân Việt Nam.
Bác Tôn sinh ra trên mảnh đất Long Xuyên của Nam Bộ bất khuất và đau thương bị thực dân
Pháp xâm chiếm hơn 20 năm. Những năm tuổi thơ, Bác Tôn sống ở quê nhà và đi học trường trong tỉnh.
Học xong bậc tiểu học, Bác tạm biệt gia đình đi lên Sài Gòn – mở đầu cuộc đời hoạt động cách mạng
không mệt mỏi vì Tổ quốc, vì nhân dân của Bác.
Năm 1906, Sài Gòn đón nhận người thanh niên mười tám tuổi đầy tâm huyết Tôn Đức Thắng.
Hạt giống cách mạng giờ đây được ươm giữa lòng đô thành Sài Gòn đầy bóng quân xâm lược. Bác Tôn
không chọn con đường tiến thân nào khác, mà quyết định đến ngay với giai cấp công nhân.
1. Tóm tắt cuộc đời và sự nghiệp
2. Diễn tiến việc kéo cờ đỏ trên chiến hạm France
3. Công hội bí mật và cuộc bãi công của 1000 công nhân Ba Son
4. Những danh hiệu cao quý được trao tặng
5. Trích dẫn một số câu nói dàng tặng Bác Tôn
6. Một số giai thoại về Bác Tôn
7. Tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng
8. Bác Tôn – Người cộng sản mẫu mực biểu tượng của đại đoàn kết
9. Về thăm quê Bác Tôn
10. Xí nghiệp Ba Son
11. Bảo tàng Tôn Đức Thắng
12. Đường Tôn Đức Thắng
13. Thư của Chủ tịch Tôn Đức Thắng gửi các chiến sĩ nhân ngày 30/4/1975
14. Công Đoàn Việt Nam qua 9 kỳ Đại hội
15. Một số sách báo tham khảo
Cập nhật ngày 9/5/2008 – Công Đoàn 1 Trang 1
1. TÓM TẮT CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP
Bí danh: Thoại Sơn
Ngày sinh: 20/8/1888
Ngày mất: 30/3/1980
Quê quán: Xã Mỹ Hoà Hưng, TP Long Xuyên, Tỉnh An Giang
Thành phần gia đình xuất thân: Nông dân
Ngày vào Đảng: 1930
TÓM TẮT QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC
• Từ 1906-1909: Học Trường Kĩ nghệ Viễn Đông, làm công nhân Nhà máy Ba Son của Hải quân
Pháp ở Sài Gòn;
• Năm 1912: Tổ chức cuộc bãi công của công nhân xưởng Ba Son
• Từ 1914 đến 1918: Tham gia hoạt động cách mạng từ chiến tranh thế giới, làm công nhân quân giới
ở quân cảng Toulon (miền Nam nước Pháp) và làm thợ máy trên chiến hạm France.
• 20/4/1919: Dưới sự lãnh đạo của Công hội Pháp đã tham gia phản chiến và treo cờ đỏ trên chiến
hạm để ủng hộ Cách mạng Tháng Mười Nga, tham gia cuộc binh biến của binh sĩ Pháp ở mặt bể
Hắc Hải, sau đó bị trục xuất khỏi nước Pháp.
• Năm 1920: Lập Công hội bí mật ở Sài Gòn, đây là tổ chức Công hội đầu tiên của giai cấp công nhân
Việt Nam.
• Năm 1927, ông tham gia Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội và trực tiếp lãnh đạo
phong trào công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn.
• Tháng 12/1928: Bị địch bắt ở Sài Gòn.
• Ngày 26/7/1929: Bị kết án 20 năm khổ sai.
Đêm ngày 2 rạng sáng ngày 3/7/1930, con tàu Armand Roussean của thực dân Pháp lặng lẽ rời Sài
gòn đưa Tôn Đức Thắng và một số cán bộ, quần chúng yêu nước đày ra Côn Đảo. Kể từ đó cho
ngày ngày 18/8/1945, khi Côn Đảo được giải phóng, người tù mang số tù 5289-TF cùng với lời ghi
chú trong phiếu quản lý “Phần tử nguy hiểm” đã chứng tỏ nghị lực phi thường, ý chí kiên cường và
lòng trung thành vô hạn với CM. 15 năm ở địa ngục trần gian Côn Đảo là quãng thời gian thử thách
lớn nhất trong cuộc đời hoạt động CM của Tôn Đức Thắng nhưng đó cũng là quãng đời đầy vinh
quanh khi Bác thực sự biến nhà tù đế quốc thành trường học CM.
• Năm 1930: Lập chi bộ nhà tù lãnh đạo anh em trong tù đấu tranh, được Xứ ủy Nam Kỳ thừa nhận
là chi bộ đặc biệt và là đảng viên từ đó. Bằng những kinh nghiệm đã có trong tổ chức Công hội bí
mật ở Sài Gòn, Tôn Đức Thắng đã bàn với những người cộng sản thành lập Hội những người tù đỏ
làm hạt nhân lãnh đạo, tập hợp tù nhân, tạo sức mạnh đoàn kết chống lại chế độ lao tù.
Nhiều Đảng viên cộng sản trong đó có Tôn Đức Thắng bị kết án khổ sai cũng bị giam chung với tù
thường phạm ở Banh I, nơi chuyên giam giữ tù lưu manh, trộm cắp, đã nhiều lần mang án. Đây là
thủ đoạn thâm độc của thực dân Pháp mượn bàn tay của những tên tù anh chị nhằm tiêu diệt những
người cộng sản.
Là một người đã có kinh nghiệm trong tổ chức Công hội bí mật ở Sài Gòn, Tôn Đức Thắng đã bàn
và cùng với những người cộng sản thành lập Hội những người tù đỏ làm hạt nhân lãnh đạo, tập hợp
tù nhân, tạo nên sức mạnh đoàn kết chống lại chế độ lao tù.
Cập nhật ngày 9/5/2008 – Công Đoàn 1 Trang 2
Trong một lần liên lạc của Hội, bọn gác ngục đã phát hiện được Tôn Đức Thắng và phạt giam ở
Hầm xay lúa. Hầm là địa ngục của địa ngục, một hình thức cực hình đối với tù nhân, địch gọi là
“Khu trừng giời”. Với âm mưu thâm độc của địch muốn dùng tay anh chị để hành hạ và giết Tôn
Đức Thắng, hiểu được ý đồ này, Tôn Đức Thắng đã tập hợp một số đồng chí cộng sản cũng bị đày
ở Hầm xay lúa bàn cách nắm lấy quyền lực để cải thiện đời sống và điều kiện làm việc cho những
bạn tù ở Hầm: bỏ lối cai quản người tù bằng roi vọt, sắp xếp, phân công để tất cả mọi người làm
việc theo điều kiện sức khỏe, người yếu thì sàng gạo, đóng bao, người khỏe thì xay và khuân vác
thóc, kíp đứng cối thì bố trí thêm người, thay nhau người làm, người nghỉ.
Năm 1934, sau khi rời khỏi Hầm xay lúa, Tôn Đức Thắng làm việc tại Sở Lưới, vừa sửa máy vừa
lái canô. Sở lưới, với vai trò của Tôn Đức Thắng trở thành trung tâm giao liên quan trọng của tổ
chức Đảng ở Côn Đảo và là đầu mối để tổ chức cho cán bộ, đảng viên bị tù ở Côn Đảo trốn về hoạt
động trong đất liền.
…
Ngày 8/8/1945, Liên Xô tuyên chiến với phát xít Nhật, nhanh chóng đánh bại đạo quân Quan Đông
hơn một triêu lính tinh nhuệ của Nhật. Ngày 15/8/1945, phát xít Nhật chính thức đầu hàng Liên Xô
và các nước đồng minh không điều kiện. Đảng ta kịp thời chớp thời cơ lãnh đạo nhân dân cả nước
vùng lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Sau khi nghe lời Chủ tịch Hồ Chí Minh
đọc Tuyên ngôn độc lập do một đài nước ngoài phát lại, toản đảo vui mừng không xiết. Sáng
23/9/1945, tàu Phú Quốc cùng 25 chiếc thuyền bầu đã nhổ neo đưa 1800 tù chính trị trở về đất liền.
Chiếc canô vừa được sửa lại mang tên Giải phóng do chính Tôn Đức Thắng lái đưa một số đồng chí
trong Ban lãnh đạo trở về. Tuy gian nan, vất vả nhưng chiều ngày 2/3/9/1945 mọi người đã cập bến
Đại Ngãi, tỉnh Sóc Trăng trong sự đón tiếp nồng nhiệt của Đảng bộ và nhân dân địa phương.
• Từ 8/1945: Ở Côn Đảo trở về Nam Bộ làm Uỷ viên Uỷ ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ phụ
trách về vấn đề lương thực và vũ khí.
• Ngày 6/1/1946: Trúng cử là đại biểu Quốc hội khóa đầu của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và
tham gia phái đoàn Quốc hội sang Pháp.
• Ngày 1/5/1948, Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi thi đua yêu nước, và đến ngày 11/6/1948 chính thức
phát động cuộc vận động thi đua yêu nước. Đây là thời kỳ Tôn Đức Thắng có nhiều cố gắng và đạt
kết quả tốt trong việc làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương của Đảng về thi đua yêu nước
trở thành động lực của cuộc kháng chiến kiến quốc.
Nhân dịp đồng chí Khu trưởng khu VIII Nam Bộ ra báo cáo với Trung ương và Bác Hồ về tình hình
cuộc kháng chiến, Tôn Đức Thắng đã đến thăm Đoàn và trao đổi thân tình: “Mặc dầu tham gia vào
cuộc lãnh đão chung ở ngoài này – một nhiệm vụ rất lớn, nhưng lúc nào tôi cũng nghĩ tới đồng bào
Nam Bộ, lúc nào cung nghĩ tới chiến trường Nam Bộ là nơi đồng chí, đồng bào đương kháng chiến
gian lao. Tôi đã nhiều lần đề nghị với Bác Hồ, với Trung ương cho trở về chiến trường để cùng với
đồng chí, đồng bào Nam Bộ tham gia kháng chiến nhưng Bác Hồ chưa đồng ý (…). Đề nghị đồng
chí, đề nghị đoàn về báo cáo lại với Xử ủy và với đồng báo Nam Bộ rằng, Tôn Đức Thắng là người
con của nhân dân Nam Bộ, lúc nào cũng nghĩ tới đồng bào Nam Bộ, nghĩ tới xứ sở mà mình đã sinh
ra và đã từng hoạt động”. Trong thời gian này, Ban Thường trực Quốc hội đã phân công các ủy viên
đi các địa phương ở Liên khu III và liên khu Việt Bắc động viên nhân dân kháng chiến, Tôn Đức
Thắng được giữ chức Quyền trưởng Ban.
• Từ 1951: Quyền Trưởng ban Thường trực Quốc hội. Tại Đại hội Đảng lần thứ II được bầu vào Ban
Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Ông là Đại biểu Quốc hội liên tục các khóa I-VI.
• Tháng 9/1955: Được bầu làm Trưởng ban Thường vụ Quốc hội.
• Từ 1960: Được giữ các chức vụ: Phó trưởng Ban thường trực Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Tổng
Thanh tra toàn quốc, Trưởng Ban thường trực Quốc hội, Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ
Cập nhật ngày 9/5/2008 – Công Đoàn 1 Trang 3
cộng hoà (tháng 7/1960). Tại Đại hội Đảng lần thứ III (9/1960) được bầu làm Uỷ viên chính thức
Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
• Ngày 23/9/1969 đến 1981: Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tại đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ IV (12-1976) của Đảng được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương.
• 30/3/1980: Qua đời tại Hà Nội, hưởng thọ 92 tuổi.
Tuy không có nền tảng giáo dục hoàn hảo nhưng ông được coi là một trong những hình tượng
của Cách mạng và Nhà nước Việt Nam. Tuy là Ủy viên Trung ương từ năm 1951 cho tới khi mất
nhưng ông chưa bao giờ được bầu vào Bộ Chính trị.
2. DIỄN TIẾN VIỆC ĐỒNG CHÍ TÔN ĐỨC THẮNG KÉO CỜ ĐỎ TRÊN
CHIẾN HẠM FRANCE
Khi chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 – 1918) bùng nổ, nhiều người Việt Nam phải vào
phục vụ quân đội Pháp. Là người thợ máy giỏi, ngày 9/10/1916, đồng chí Tôn Đức Thắng nhận lệnh
xuống phục vụ tại chiến hạm France và là người Việt Nam duy nhất trên chiến hạm đó. Đến ngày
16/4/1919, mặc dù chiến tranh thế giới đã kết thúc, chính phủ Pháp điều động một hạm đội gồm 5 chiến
hạm (trong đó có chiến hạm France) vào Hắc Hải để cùng với các đế quốc khác chống lại nước Nga Xô
Viết trẻ tuổi. Các chiến hạm được lệnh vượt qua eo biển Đác-đa-nen tiến vào biển Đen và bắn phá hải
cảng Xê-vat-tô-pôn.
Anh em binh lính trên hạm đội bất bình vì phải tiếp tục đổ máu, dù chiến tranh đã kết thúc. Biết
được âm mưu ấy, thợ máy Tôn Đức Thắng đã cùng anh em binh lính Pháp quyết định phản chiến.
8 giờ sáng ngày 20/4/1919, cuộc binh biến nổ ra trên chiến hạm France và Jean Bart. Lá cờ đỏ
được kéo lên trên chiến hạm France trước cửa thành Xê-vat-tô-pôn, do đồng chí Tôn Đức Thắng thực
hiện, đã được anh em binh lính, công nhân trên tàu chuẩn bị trước.
Bằng hành động đó, đồng chí Tôn Đức Thắng là một trong những người Việt nam đầu tiên đã
tham gia đấu tranh bảo vệ Cách mạng tháng Mười và xây đắp tình hữu nghị Việt – Xô, đồng thời, biểu
thị tình cảm của nhân dân Việt Nam lúc đó còn là thuộc địa của Pháp, chào mừng nhà nước Công nông
đầu tiên trên thế giới.
3. CÔNG HỘI BÍ MẬT VÀ CUỘC BÃI CÔNG CỦA CÔNG NHÂN BA SON
Sau một thời gian làm việc tại Pháp, đồng chí Tôn Đức Thắng trở về Sài Gòn. Chịu ảnh hưởng
của Cách mạng Tháng Mười Nga và với những kinh nghiệm hoạt động trong phong trào Công đoàn
Pháp, đồng chí Tôn Đức Thắng đã đi vào hoạt động trong tầng lớp công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn và
trực tiếp vận động thành lập Công hội Đỏ đầu tiên ở Việt Nam. Sau một thời gian vận động chuẩn bị,
vào đầu 1921, Công hội Đỏ đã ra đời tại Cảng Sài Gòn, trường Bá Nghệ Cao Thắng, nhà đèn Chợ Quán
và xưởng Ba Son, nhà máy đèn Sài Gòn. sau dần dần phát triển đến hãng Faci và nhiều nơi khác. Hội
trưởng của Công hội lúc đó là Tôn Đức Thắng – thợ máy nhà đèn Chợ Quán.
Công hội đỏ là một tổ chức bí mật, lúc này hoạt động bất hợp hợp, gồm những công nhân tiên
tiến ở nhiều xí nghiệp trong thành phố. Hội hoạt động không có điều lệ viết ra thành văn bản. Ngay khi
ra đời, với mục đích hành động là tương trợ và đấu tranh bênh vực quyền lợi cho công nhân, công hội đã
lãnh đạo, tổ chức nhiều cuộc bãi công của công nhân tại các nhà máy.
Vào năm 1925, trước tình hình đấu tranh cách mạng của nhân dân Trung Quốc đang sôi sục ở
Quảng Châu, các nước đế quốc phương Tây rắp tăm can thiệp bằng cách đưa lực lượng hải quân đến
trấn áp các cuộc đấu tranh của nhân dân Trung Quốc ở những vùng tô giới. Lực lượng hải quân Pháp
tham gia chiến dịch này với một hạm đội gồm 3 chiến hạm: Jules Ferny, Le Maine, Jules Michelet. Hạm
đội này do chiếc tàu tuần dương thiết giáp Jules Michelet chỉ hy. Trên đường đi, tàu Michelet đã có hiện
Cập nhật ngày 9/5/2008 – Công Đoàn 1 Trang 4
tượng hư hỏng, bọn chỉ huy quân Pháp gấp rút đưa đi sửa để kịp sang Trung Quốc. Nắm được nguồn tin
quan trọng này, Tôn Đức Thắng lập tức thông báo cho các hội viên công hội và bàn biện pháp đấu tranh.
Lúc này, Ba Son là xưởng duy nhất ở Đông Dương mà công nhân được hưởng quy chế ngày làm
8 giờ, lương tháng, lương ngày đểu cao hơn các nơi khác, cho nên vận động bãi công ở đây rất nguy
hiểm, lại rất khó. Nhưng ngoài cách bãi công thì không còn cách nào giam chân đội tàu chiến Pháp. Như
vậy, cuộc đấu tranh về cơ bản có tính chất chính trị, nhưng khẩu hiệu chính trị không được nêu lên, chỉ
nêu lên những yêu sách kinh tế, làm như vậy mới tập hợp được toàn thể công nhân viên chức tham gia.
Ban lãnh đạo đình công đưa kiến nghị lên giám đốc đòi giải quyết các yêu sách:
- Tăng lương cho tất cả công nhân lên 20%
- Phải gọi lại số thợ bị đuổi việc trong các cuộc đình công trước đây làm việc lại
- Ngày lĩnh lương phải cho nghỉ trước nửa giờ như thường lệ
Mặc dù giám đốc Courthial, Thống đốc Nam Kỳ hăm dọa, rồi dụ dỗ, mua chuộc, nhưng anh em
công nhân không hề nao núng vẫn tiếp tục đình công. Để ủng hộ cuộc đấu tranh, hàng vạn công nhân,
viên chức Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định đã quyên góp gạo, tiền giúp đỡ cuộc đình công.
Một phần là cần phải sửa chữa chiến hạm cho sớm để kịp chiến dịch, một phần bị cấp trên quở
trách, ban giám đốc xưởng Ba Son buộc phải nhượng bộ và điều đình với ban lãnh đạo cuộc đình công,
chấp nhận tăng 10% lương cho công nhân và bỏ lệnh cắt 15 phút làm bù ngày lãnh lương.
Cuộc bãi công chấm dứt thắng lợi, anh em công nhân chuyển sang hình thức lãn công, kéo dài
thời gian sửa chữa chiến hạm. Mãi đến ngày 28/11/1925, chiến hạm Michelet mới ra khỏi xưởng Ba Son
sau khi bị giam ở đây ba tháng rưỡi.
Cuộc đấu tranh với mục đích chính trị rõ rệt nhưng diễn ra một cách khôn khéo dưới khẩu hiệu
khác. Tiếng vang của cuộc đấu tranh này đã vượt ra ngoài phạm vi quốc qua đến với phong trào cách
mạng vô sản và công nhân thế giới.
4. NHỮNG DANH HIỆU CAO QUÝ ĐƯỢC TRAO TẶNG
- Năm 1955, được Ủy ban Giải thưởng hòa bình quốc tế Lênin tặng giải thưởng Lênin “Vì hòa
bình và hữu nghị giữa các dân tộc”
- Năm 1958, được Quốc hội và Hồ Chủ Tịch tặng thưởng Huân chương Sao Vàng
- Năm 1967, được Đoàn Chủ tịch Xô viết tối cao Liên Xô tặng thưởng Huân chương Lênin về
những hành động cách mạng của Bác Tôn góp phần vào cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền Xô
viết trong thời kỳ nội chiến
- Năm 1978, được Đoàn Chủ tịch Xô viết tối cao Liên Xô tặng thưởng Huân chương Cách mạng
Tháng Mười để ghi nhận công lao đóng góp to lớn của Chủ tịch Tôn Đức Thắng vào việc phát
triển và củng cố tình hữu nghị anh em, hợp tác về mọi mắt giữa Việt Nam – Liên Xô.
- Năm 1978, Đoàn chủ tịch Quốc hội Mông Cổ, tặng thưởng Huân chương Xu-khechương Xu-khê
Ba-to, huân chương cao quý nhất của Mông Cổ, để ghi nhận công lao to lớn của Chủ tịch đã
cống hiến cho sự nghiệp hòa bình, hữu nghị và chủ nghĩa xã hội của các dân tộc; trong việc củng
cố tình hữu nghị anh em giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Mông Cổ.
Cập nhật ngày 9/5/2008 – Công Đoàn 1 Trang 5
5. MỘT SỐ CÂU NÓI ĐƯỢC TRÍCH DẪN
“Đồng chí Tôn Đức Thắng là một người con rất ưu tú của Tổ quốc… Là một gương mẫu đạo đức cách
mạng: suốt đời cần kiệm liêm chính; suốt đời hết lòng hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân”
(Lời chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân dịp đồng chí Tôn Đức Thắng được trao tặng Huân chương
sao vàng, 20/8/1958)
“Cụ Tôn Đức Thắng và đồng chí Nguyễn Lương Bằng là hai chiến sĩ lão thành của cách mạng Việt
Nam, những người bạn chiến đấu gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, những người con ưu tú của dân tộc
Việt Nam ta. Hai đồng chí được Quốc hội nhất trí tín nhiệm giao cho trọng trách lãnh đạo Nhà nước ta là
rất xứng đáng”
(Lời chúc mừng của đồng chí Trường Chinh nhân dịp đồng chí Tôn Đức Thắng được bầu giữ Chủ tịch
nước, 1969)
“Bác Tôn là người chiến sĩ cách mạng không bao giờ và không gì lay chuyển được, một con người hết
sức nhiệt thành, trung thực, quên mình, nay đã 88 tuổi rồi mà luôn nhẹ nhàng, thanh thản”
(Lời của đồng chí Lê Duẩn, trong một dịp đi thăm Côn Đảo năm 1976)
“Đồng chí Tôn Đức Thắng là tượng trưng của những tinh hoa của phẩm chất cách mạng và phong trào
cách mạng của giai cấp công nhân Việt nam, dân tộc Việt nam và những người cộng sản Việt Nam Chỉ
thấy ở Bác đức tính, một phong cách không hề biến đổi. Đó là đức tính, phong cách công nhân, giản dị,
chân thành, trong sáng. Khi đã là người lãnh đạo, đồng chí vẫn giữ những đức tính vốn có của mình.
Giản dị mà cao quý biết bao!”
(Xã luận báo Nhân dân, cơ quan TW của Đảng Cộng sản Việt Nam, số ra ngày 3/4/1980)
“Cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí là một tấm gương sáng về lòng trung thành, tận tủy, về
tinh thần anh dũng, bất khuất, về đức tính khiêm tốn giản dị. Toàn thể đồng chí và đồng bào chúng ta rất
tự hào về sự nghiệp và đạo đức cách mạng của đồng chí. Chúng ta quyết mãi mãi noi gương cao cả của
đồng chí để khắc phục mọi khó khăn, hoàn thành mọi nhiệm vụ cách mạng … Đồng chí là người tiêu
biểu nhất cho chính sách đại đoàn kết của Đảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh”.
(Điếu văn đọc trong lễ truy điệu đồng chí Tôn Đức Thắng)
Cập nhật ngày 9/5/2008 – Công Đoàn 1 Trang 6
6. VÀI GIAI THOẠI VỀ BÁC TÔN
* Thiếu tướng Tô Ký kể chuyện Bác Tôn
Anh Ba Tô Ký tới thăm chú Hai Thắng vào một ngày chủ nhật tại Hà Nội. Bấy giờ vào khoảng ba giờ
chiều. Anh Ba rất ngạc nhiên khi thấy chú Hai ở trần, chỉ mặc quần đùi, tay cầm mỏ-lết, loay hoay sửa
dây sên chiếc xe đạp. Đây là xe đạp riêng của chú Hai Thắng mà sáng nào chú Hai cũng đạp một vòng
hoặc ở Vườn Bách Thảo, hoặc ở Hồ Tây. Đi thăm bạn bè ở gần nhà, chú Hai Thắng cũng đạp xe. Vừa là
thể dục thể thao, vừa là tiết kiệm công quỹ (không phải dùng command-car tốn xăng).
Chuyện chú Hai Thắng tự tay sửa xe hay các vật dụng trong nhà, không phiền tới anh em thợ là chuyện
ai cũng biết. Anh Ba Tô Ký "sà" xuống ngồi kế bên xem chú Hai sửa xe. Bỗng anh Ba thấy trong hộp
đựng dụng cụ "cờ-lê, mỏ-lết" có mấy chiếc huân chương các hạng nằm bên cạnh các kềm búa. Anh khẽ
kêu lên:
- Chú Hai, sao lại có mấy cái này trong hộp đồ nghề?
Bác Tôn vẫn tiếp tục sửa cho xong sợi dây sên, chậm rãi nói:
- Có mấy cái này (chỉ kềm búa) mới có mấy cái đó (chỉ các huân chương).
Chỉ một câu vắn tắt đó, chú Hai Thắng đã giúp anh Ba Tô Ký nhận ra chân lý: "Lao động tạo ra tất cả -
mà đỉnh cao là vinh quang".
Chuyện này anh Ba Tô Ký thường kể với bạn bè và kết luận: "Bác Tôn đúng là một người thợ".
Hãy nghe bác sĩ Trần Hữu Nghiệp kể về chuyện Bác Tôn sửa Pháp văn của bác sĩ Nghiệp thì mới biết
cái vốn tiếng Pháp của Bác Tôn.
* Bác sĩ Nghiệp nhận Bác Tôn là thầy
Bác sĩ Trần Hữu Nghiệp may mắn được làm "ngự y" (bác sĩ riêng) cho Bác Tôn trong chuyến công du
sang nước Đức và Liên Xô vào cuối năm 1955 và đầu năm 1956. Đi Cộng hòa Dân chủ Đức là để dự lễ
chúc thọ Chủ tịch Vin-hem-pích 80 tuổi. Đi Liên Xô là để nhận Giải thưởng Hòa bình Quốc tế Lénine.
Bác Tôn nhờ bác sĩ Nghiệp viết giùm bài phát biểu ngắn để Bác đọc tại lễ chúc thọ Chủ tịch nước Đức.
Bác sĩ Nghiệp tốt nghiệp Y khoa Bác sĩ tại Paris, nói và viết tiếp Pháp dễ dàng như nói và viết tiếng mẹ
đẻ.
Chừng đưa bản thảo cho Bác duyệt thì lạ lùng làm sao, bác sĩ Nghiệp bị Bác Tôn sửa văn. Và sửa rất
chính xác. Đó là câu "Nhân dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình" Bác sĩ Nghiệp viết "Le peuple
Vietnamien aimant la paix" Bác Tôn dùng bút đỏ sửa "aimant la paix" ra "épris de paix". Cụm từ "épris
de paix" hay hơn "aimant la paix" rất nhiều. Từ đó bác sĩ Nghiệp suy tôn Bác Tôn là "sư phụ".
Cũng như bác sĩ Nghiệp, ai cũng biết Bác Tôn có bằng Tiểu học (Cerrtificat d'Eựtudes Primaires
Complémentaires Indochinoises - CEPCI) rồi học bốn năm Trường Máy trước khi đi làm thợ ở hãng Ba
Son (Tây gọi là Arsenal tức Hải quân Công xưởng). Vậy mà trình độ Pháp văn của Bác Tôn "ăn trùm"
vốn liếng tiếng Pháp của bác sĩ Trần Hữu Nghiệp đã học Pháp văn từ lớp chót lên tới tú tài là 13 năm,
cộng với bảy năm học Đại học Y khoa, tổng cộng là hai mươi năm trường.
Anh Ba Khiêm kể về Bác Tôn ở Côn đảo
Côn Đảo là trường mẫu giáo đồng thời là trường đại học chính trị cho anh em tù bị thực dân Pháp đày ra
hòn đảo ngục tù này. Trong giới chính trị phạm có câu nói vui "Lycée Khám Lớn, đại học Côn Nôn"
(Lycée tiếng Pháp có nghĩa là trung học).
Trong tù có nhiều lớp học. Lớp dạy văn hóa, đặc biệt là sử - địa, lớp dạy chính trị. Lớp dạy chính trị có
thêm vài ban như ban sưu tầm (sách báo), ban sao chép (để phát cho nhiều phòng), đồng chí Phạm Văn
Cập nhật ngày 9/5/2008 – Công Đoàn 1 Trang 7
Đồng dạy chính trị, ban sưu tầm có Bác Tôn, anh Ba Khiêm (Ung Văn Khiêm), ban sao chép có anh Sáu
Tây (Nguyễn Văn Tây)�
Bác Tôn làm ở Sở Lưới, nơi có mấy chiếc chaloupe (sà lúp) và canot (ca nô). Chúa đảo Bouvier đưa Bác
Tôn về đây sau khi đọc hồ sơ, thấy người tù số 5289 từng là trưởng máy tốt nghiệp Trường Máy Sài
Gòn, làm thợ hãng Ba Son và có thâm niên hai năm trưởng máy trên chiến hạm France của Quân cảng
Toulon. Lão phệ Bouvier muốn sử dụng tay nghề của người tù lừng danh nầy. Lão có lý phần nào vì sà-
lúp hư, ca-nô hỏng, người tù 5289 đều sửa tốt và nhanh. Nhưng lão không ngờ đã tạo điều kiện cho nhà
cách mạng cao tuổi phục vụ đắc lực phong trào học chính trị trong khám. Nhờ lái ca-nô, Bác Tôn thường
gặp các thủy thủ Pháp trên các tàu viễn dương tuyến Marseille - Sài Gòn. Qua đó Bác xin báo Le Paria,
báp L'Humanité, bí mật giao cho anh Ba Khiêm giấu trong đòn gánh chuyển về trại giam. Anh Ba
Khiêm kể chuyện này và xem Bác Tôn là người tiếp tế sách báo chính trị cho anh em chính trị phạm thời
ấy (những năm 1932 - 1935).
Lái Ca-nô Cứu tù vượt ngục
Vẫn theo lời kể của anh Ba Khiêm, mỗi khi có tù vượt ngục, chúa đảo cho lính lên ca-nô đuổi theo.
Người lái là tên tù số 5289. Nhưng nếu bọn lính recherche (rờ sẹt) tinh ý sẽ thấy không lần nào chúng
bắt được tù vượt đảo nếu ca nô do người tù số 5289 lái. Nhiều lần chúng bỏ ống dòm thấy bạn bè của tù
nhấp nhô trước mắt. Bọn chúng hí hửng sắp có tiền thưởng và sẽ được lên hương với chiên công bắt
được tù vượt ngục của biển khơi. Nhưng chúng đã mừng quá sớm. Ca nô đang chạy ngon trớn bỗng khẹt
khẹt rồi bốc khói đen kịt. Chúng quay lại hỏi tài xế. Người tù 5289 đang hì hục tháo máy, dũa bougie
hay mở bộ phận lọc dầu hút cặn. Loay hoay sửa đến mồ hôi hột. Chừng máy nổ tốt thì than ơi đêm đã
xuống tối đen. Không còn thấy bóng dáng chiếc bè kia đâu! Vậy là đành dậm chân chắc lưỡi quay về tay
không. Có đứa sanh nghi, nhung làm sao dám chê tài lái ca nô của người thợ máy nổi tiếng từ quân cảng
Toulon tới Sài Gòn!
Chưa có ai hỏi trong mười sáu năm ở Côn Đảo và trong mấy năm làm ở Sở Lưới, Bác Tôn đã cứu bao
nhiêu đồng chí đồng đội vượt trên Biển Đông.
Theo lời kể của đồng chí Nguyễn Văn Trí – người có dịp chung sống với Bác Tôn trong một thời gian khá dài tại
Côn Đảo
Một cách xóa bỏ thành kiến hay nhất
Trong nhà giam, có một đồng chí vì có phạm sai lầm nên bị một số đồng chí khác thành kiến. Đồng chí
này đem chuyện đó phàn nàn với Bác Tôn.
Bác giải thích:
- Việc thành kiến như vậy, thường là do sự ấu trĩ của hai bên. Nhưng về phía người bị thành kiến nên
kiểm điểm xem mình có sai lầm gì không, hoặc việc làm đúng mà thái độ không tốt khiến cho người
ta có thành kiến với mình. Về phía anh em, thành kiến với đồng chí là không đúng. Muốn xóa bỏ
hết thành kiến, chỉ có một cách: Anh nỗ lực hoạt động cho cách mạng với tất cả nhiệt tình của mình.
Các đồng chí kia cũng hăng hái làm cách mạng. Đôi ba năm sau, chậm là năm, mười năm, hai bên
đều tiến bộ cả: hai bên sẽ đoàn kết thêm hơn và câu chuyện thành kiến trở thành không đáng kể. Đó
là một cách giải quyết có hiệu quả nhất.
Những phút nghiêm khắc xét mình
Trong nhà tù, thường có những lúc Bác Tôn đi đi lại lại, trầm lặng. Một hôm, có đồng chí hỏi Bác:
- Anh suy nghĩ gì đó?
Bác trả lời:
- Kiểm điểm lại trong đời hoạt động, tôi có gặp rất nhiều người trong giới lao động, kể cả lao động
ngoại quốc. Trong số đó có rất nhiều người tốt. Vậy mà có người chưa được tôi tuyên truyền gì cả,
hoặc có, nhưng không thấm vào đâu. Có người đã giác ngộ rồi mà tôi chưa tìm mọi cách để giúp đỡ
Cập nhật ngày 9/5/2008 – Công Đoàn 1 Trang 8
họ trở thành đảng viên tốt. Tôi rất ăn năn, vì như vậy là mình thiếu tinh thần trách nhiệm đối với
cách mạng. Xét cho cùng, mình hãy còn thiếu một nhiệt tình cách mạng đầy đủ.
Triết lý chơi cờ tướng của Bác Tôn
Trong lúc ở tù, Bác Tôn hay đánh cờ tướng.
Mặc dù đánh với ai, hễ thấy đối phương đi hớ nước nào là Bác chỉ cho, và ai muốn hoàn nước nào cũng
được. Phần Bác, Bác suy nghĩ rất kỹ, và đi thì rất quyết tâm đi, không bao giờ hoàn.
Thấy Bác rộng lượng, anh em thường trêu cho vui. Năm ba người vào một phía, vừa đánh vừa la, vừa
trêu tức. Vậy mà Bác không hề cáu, không giận ai bao giờ.
Hỏi Bác, Bác trả lời:
- Tôi đánh cờ để học tập, để rèn luyện chớ không cốt ăn thua với anh em. Đời tối đã có nhiều lần làm
rồi mới biết sai, nói rồi mới biết lỡ. Những sơ sót ấy không phải vì mình kém khôn ngoan, mà là do
thiếu thận trọng. Vì vậy, tôi đánh cờ để tập tính thận trọng. Phải tính toán hết nước, nhưng nếu trí
thông minh và sức tính toán của mình chỉ đến nước ấy thôi, đành chịu vậy.
7. CHỦ TỊCH TÔN ĐỨC THẮNG
– TẤM GƯƠNG SÁNG NGỜI VỀ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG
Sinh ra và lớn lên trong cảnh đất nước bị rơi vào tay thực dân Pháp xâm lược, chứng kiến sự hành hạ,
đối xử bất công của chúng đối với người dân nước Việt, ở Tôn Đức Thắng sớm xuất hiện tình cảm yêu
nước, căm ghét bọn thực dân. Rồi tiếng vang của các nghĩa quân: Trương Định, Nguyễn Trung Trực,
Võ Duy Dương và nhiều tấm gương anh dũng chống thực dân Pháp đã in sâu trong tâm hồn cậu bé Tôn
Đức Thắng.
Chính với hành trang yêu nước, thương nòi ấy, năm 1912, anh thanh niên Tôn Đức Thắng đã tham gia tổ
chức cuộc bãi công của học sinh trường Bá Nghệ và công nhân Nhà máy sửa chữa tàu thủy Ba Son. Gần
10 năm sau, năm 1920, trở về Sài Gòn sau sự kiện kéo cờ trên Hắc Hải nổi tiếng, Tôn Đức Thắng cùng
những người bạn thân thiết lập ra tổ chức đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam - Công hội bí mật
tại Sài Gòn - Chợ Lớn, nhằm đấu tranh bênh vực quyền lợi của công nhân, đấu tranh chống đế quốc tư
bản.
Bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Tôn Đức Thắng mở ra vào một ngày cuối năm
1926, khi nhận được chỉ thị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Tôn Đức Thắng nhanh chóng tán thành gia
nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, tán thành con đường cứu nước giải phóng dân tộc gắn liền
với giải phóng giai cấp công nhân, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Từ đây, trong con
người Tôn Đức Thắng, yêu nước gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, trung thành với Tổ quốc, với dân tộc
cũng đồng thời là trung thành với sự nghiệp cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Ánh sáng của chủ
nghĩa Mác - Lê-nin đã nâng lòng yêu nước chân chính của Tôn Đức Thắng lên một tầm cao mới, thêm
sức mạnh và hăng hái lao vào hoạt động cách mạng. Năm 1927, Kỳ bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh
niên ở Nam Kỳ thành lập. Tôn Đức Thắng được cử là một thành viên trong ban lãnh đạo Kỳ bộ và trực
tiếp phụ trách phong trào công nhân Sài Gòn - Chợ Lớn. Trên cương vị này, Tôn Đức Thắng đã tích cực
tuyên truyền giác ngộ và cùng các đồng chí của mình tham gia chuẩn bị cho sự ra đời của một đảng
mác-xít chân chính ở Việt Nam.
Cuối năm 1929, giữa lúc phong trào cách mạng đang phát triển mạnh mẽ thì Tôn Đức Thắng bị mật
thám Pháp bắt, đưa về Khám lớn Sài Gòn và dùng mọi cực hình tàn bạo hòng khai thác những tin tức về
cách mạng. Nhưng chúng đã thất bại trước khí phách kiên cường, bất khuất của người chiến sĩ cộng sản.
Chúng kết án Tôn Đức Thắng 20 năm khổ sai và đày ra Côn Đảo. Ở nơi "địa ngục trần gian", Tôn Đức
Thắng vẫn vững lòng tin vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam, cùng các đồng chí ở Banh 1 thành lập
Cập nhật ngày 9/5/2008 – Công Đoàn 1 Trang 9
Chi bộ đặc biệt và trở thành một trong những người lãnh đạo của chi bộ cùng anh em trong tù tiếp tục
đấu tranh.
Cách mạng Tháng Tám thành công, vừa được đón về đất liền, người chiến sĩ cộng sản Tôn Đức Thắng
đã hăng hái cùng quân dân miền nam chiến đấu chống thực dân Pháp; sau đó được điều ra bắc, lần lượt
đảm nhiệm các trọng trách: Phó Hội trưởng Hội Liên Việt, Chủ tịch Mặt trận Liên Việt, Trưởng ban
Thường trực Quốc hội, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ tịch rồi Chủ
tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sau đó là nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Dù ở
cương vị nào, Chủ tịch Tôn Đức Thắng cũng luôn luôn nêu cao phẩm chất trung thành với Tổ quốc, với
dân tộc, với Đảng, hết lòng, hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân.
Có thể nói, khiêm tốn và giản dị, tình nghĩa và trong sáng là những đức tính của Chủ tịch Tôn Đức
Thắng. Chủ tịch Tôn Đức Thắng rất khiêm nhường. Một người dân thuộc địa tham gia cuộc binh biến ở
Hắc Hải năm 1919 để bảo vệ nước Cộng hòa Xô-viết trẻ tuổi là một sự kiện được nhân dân Liên Xô
cũng như nhân dân yêu chuộng hòa bình, tiến bộ thế giới khâm phục, ngợi ca. Vậy nhưng khi hồi tưởng
lại sự kiện này, Chủ tịch khiêm tốn viết: "Tôi tin rằng, bất kỳ người Việt Nam yêu nước nào, nhất là
công nhân, được tham gia vào những giờ phút lịch sử đó tại Biển Đen, không thể hành động khác tôi.
Bởi vì yêu Tổ quốc và căm thù đế quốc, cũng có nghĩa là yêu Cách mạng Tháng Mười và căm thù những
kẻ chống lại Cách mạng Tháng Mười".
Là người đầu tiên được nhận huân chương cao quý nhất của Nhà nước ta- Huân chương Sao Vàng, trong
lời phát biểu tại buổi lễ, Chủ tịch xúc động nói: "Trong buổi lễ vinh quang này, tôi nghĩ đến thời kỳ tôi
còn ấu trĩ, nghĩ đến những lúc khó khăn hiểm nghèo, Đảng đã dìu dắt, giáo dục tôi, nhân dân đã rèn
luyện và giúp đỡ tôi để có được ngày hôm nay".
Tháng 10-1975, về thăm quê ở Cù lao Ông Hổ thuộc xã Mỹ Hòa Hưng, TP Long Xuyên, An Giang, Chủ
tịch Tôn Đức Thắng chỉ nhận mình là một người được Đảng và Nhà nước cho phép về thăm quê nhà,
gặp lại anh em họ mạc, thăm hỏi bà con xóm ấp. Đến cây xoài trước cổng nhà, cây cầu gỗ thuở nhỏ đi
học qua, Chủ tịch vẫn nhớ mãi trong ký ức. Khi đã trở thành một vị nguyên thủ quốc gia, Chủ tịch vẫn
giữ nếp sống khiêm tốn, giản dị của người lao động, thích đi bộ, thích lao động chân tay và tự mình làm
mọi việc cho bản thân mà không muốn phiền ai giúp đỡ. Chủ tịch ăn mặc rất giản dị. Có lần, các đồng
chí miền nam đến thăm thấy Chủ tịch mặc chiếc áo ấm cũ có nối thêm một đoạn cho khỏi ngắn, đã cảm
động hỏi: Bác ơi, làm Chủ tịch nước sao Bác mặc áo nối thế này? Chủ tịch vui vẻ trả lời: Chủ tịch nước
mặc áo nối thì dân mới có đủ cơm ăn. Thật hồn hậu, giản dị biết bao!
Chủ tịch Tôn Đức Thắng thường xuyên dành tình cảm ân cần chăm lo cho đồng chí, đồng bào, đặc biệt
là với các cháu thanh niên, thiếu niên, nhi đồng. Được tặng Giải thưởng Lê-nin "Vì hòa bình và hữu nghị
giữa các dân tộc" và kèm theo mười vạn rúp, Chủ tịch đã ủng hộ số tiền này cho Phong trào bảo vệ thiếu
nhi thủ đô. Số tiền một vạn rúp các bạn Liên Xô đưa để mua quà tặng, Chủ tịch cũng chỉ dùng một phần
nhỏ để mua một chiếc cối xay hạt tiêu tặng người vợ thân yêu, còn lại đem gửi trả bạn.
Là một người yêu nước chân chính, Chủ tịch Tôn Đức Thắng đồng thời là một chiến sĩ tiêu biểu cho tinh
thần quốc tế trong sáng của giai cấp công nhân. Điều này được thể hiện rõ nét thông qua hành động cách
mạng quả cảm của Tôn Đức Thắng khi tham gia cuộc binh biến Hắc Hải vào tháng 4-1919, để bảo vệ
Cách mạng Tháng Mười Nga và lãnh đạo cuộc bãi công và lãn công của công nhân xưởng Ba Son từ
tháng 8 đến tháng 11-1925, giam chân chiến hạm Juyn Mi-sơ-lê ba tháng, để ủng hộ phong trào đấu
tranh cách mạng của nhân dân Trung Quốc.
Ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã giúp người công nhân yêu nước Tôn Đức Thắng thấm nhuần sâu
sắc tinh thần quốc tế trong sáng của giai cấp công nhân và ý nghĩa của chính những hành động cách
mạng ủng hộ cách mạng Nga và cách mạng Trung Quốc mà bản thân đã tham gia. Từ đó, ở Tôn Đức
Thắng, lòng yêu nước chân chính đã thật sự gắn chặt với tinh thần quốc tế trong sáng của giai cấp công
nhân.
Cập nhật ngày 9/5/2008 – Công Đoàn 1 Trang 10
Là người cống hiến không mệt mỏi cho sự nghiệp xây dựng, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn
dân tộc, Chủ tịch Tôn Đức Thắng đồng thời là người góp phần tích cực vào việc thực hiện tình đoàn kết
gắn bó giữa giai cấp công nhân và nhân dân lao động các nước. Do những cống hiến đối với phong trào
cách mạng thế giới, Chủ tịch Tôn Đức Thắng đã được bầu là Chủ tịch Ủy ban bảo vệ hòa bình thế giới
của Việt Nam, Ủy viên Hội đồng hòa bình thế giới và được trao tặng Giải thưởng Lê-nin "Vì hòa bình
và hữu nghị giữa các dân tộc", cùng nhiều huân chương cao quý nhất của các nước anh em.
Trọn đời, Chủ tịch Tôn Đức Thắng nêu một tấm gương ngời sáng về phẩm chất cao đẹp của người cộng
sản. Ngày nay, trước những đòi hỏi của cuộc sống mới, tấm gương đạo đức cách mạng của Chủ tịch Tôn
Đức Thắng càng có ý nghĩa để mỗi cán bộ, đảng viên tích cực học tập, rèn luyện, noi theo để phấn đấu
góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Thạc sĩ LÝ VIỆT QUANG
(Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh)
8. NGƯỜI CỘNG SẢN MẪU MỰC BIỂU TƯỢNG CỦA ĐẠI ĐOÀN KẾT
Đồng chí Tôn Đức Thắng là một người cộng sản mẫu mực,người bạn chiến đấu gần gũi của Chủ
tịch Hồ Chí Minh, người lãnh đạo kính mến, biểu tượng đại đoàn kết của giai cấp công nhân và nhân
dân các dân tộc nước ta, người chiến sĩ trung kiên của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
Hồi ký Tôn Đức Thắng - người cộng sản mẫu mực,biểu tượng của đại đoàn kết được Nhà xuất
bản chính trị quốc gia tổ chức biên soạn và xuất bản theo Quyết định của Bộ chính trị về việc tổ chức
biên soạn và xuất bản sách Hồi ký về các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước. Nội dung
cuốn sách gồm 600 trang bài viết của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, các bậc lão thành cách
mạng, các nhà nghiên cứu, các nhà văn hoá, các bạn chiến đấu, các cán bộ phục vụ và bảo vệ Chủ tịch
Tôn Đức Thắng cùng với 105 bức ảnh tư liệu quý và 10 trang bút tích thư của Bác Tôn gửi các con. Tôn
Đức Thắng là một trong những người thuộc lớp chiến sĩ đầu tiên của phong trào công nhân và phong
trào cách mạng giải phóng dân tộc ở nước ta. Là một trong những công nhân Việt Nam đầu tiên hoạt
động trong phong trào công nhân Pháp, đồng chí đã tham gia cuộc nổi dậy của Hải quân Pháp ở biển
Đen kéo lá cờ đỏ ủng hộ nước Nga Xôviết - Nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới. Sau khi ra
khỏi hải quân,đồng chí làm thợ máy cho hãng xe hơi Rơnô, gia nhập Tổng công hội Pháp và tích cực
hoạt động trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước của kiều bào ta tại Pháp. Năm 1920, trở
về Sài Gòn, đồng chí xây dựng những cơ sở công hội bí mật. Tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin qua các
sách báo của Nguyễn Ai’ Quốc và các tài liệu từ Pháp gửi về,tổ chức công hội đỏ đã lãnh đạo phong trào
bãi công sôi nổi của thuỷ thủ và công nhân Nam Bộ,tiêu biểu nhất là cuộc bãi công của công nhân hãng
Ba Son tháng 8 năm 1925. Năm 1926, tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và chỉ một năm
sau (1927), đồng chí được cử vào Ban Chấp hành Kỳ bộ Nam Kỳ. Cuối năm 1929, đồng chí bị bọn đế
quốc bắt phạt án 20 năm khổ sai tại khám lớn Sài Gòn và địa ngục trần gian Côn Đảo. Trong ngục tù đế
quốc,đồng chí luôn nêu cao ý chí kiên cường và giữ vững niềm tin vào thắng lợi của sự nghiệp cách
mạng giải phóng dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Hình ảnh hiên ngang, bất khuất của người tù khổ sai Tôn
Đức Thắng trong Hầm xay lúa của Nhà tù Côn Đảo mãi mãi là biểu tượng sáng ngời về khí tiết của
người cộng sản trước quân thù. Cách mạng Tháng Tám (1945) giành được thắng lợi ,đồng chí cùng các
chiến sĩ cách mạng trở về đất liền tiếp tục hoạt động góp phần cùng toàn Đảng, toàn quân, toàn dân xây
dựng nhà nước dân chủ nhân dân,tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế
quốc Mỹ xâm lược. giành độc lập, thống nhất cho tổ quốc Việt Nam. Trên bất kỳ cương vị nào, là thuỷ
thủ trên tàu, công nhân trong xưởng máy, lãnh đạo Công hội đỏ hay Chủ tịch Mặt trận dân tộc thống
nhất; và ngay cả sau này, khi Bác Hồ qua đời, được Quốc hội bầu làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hoà (1969), đồng chí Tôn Đức Thắng luôn hiến dâng cả đời mình cho độc lập, tự do của dân tộc;
cho sự phát triển tình hữu nghị anh em giữa các dân tộc trên thế giới với tinh thần cách mạng bất khuất,
đạo đức chí công vô tư, tác phong khiêm tốn giản dị.
Cập nhật ngày 9/5/2008 – Công Đoàn 1 Trang 11
Sống gần trọn 92 mùa xuân (20-8-1888 – 30-3-1980), Bác Tôn đã cống hiến 70 năm đời mình
cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc và công cuộc bảo vệ hoà bình trên thế giới. Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã viết:"Là một chiến sĩ cách mạng dân tộc và chiến sĩ cách mạng thế giới, đồng chí Tôn Đức
Thắng là một trong những người Việt Nam đầu tiên đã tham gia đấu tranh bảo vệ Cách mạng Tháng
Mười vĩ đại Đồng chí Tôn Đức Thắng là một gương mẫu đạo đức cách mạng: suốt đời cần, kiệm, liêm
chính; suốt đời hết lòng hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân.”
9. VỀ THĂM QUÊ BÁC TÔN
Tôi còn nhớ rất rõ hai câu thơ của Chế Lan
Viên trong bài thơ Tiếng hát con tàu của tập thơ
Ánh sáng và phù sa mà tôi rất thích:
Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất đã hoá tâm hồn
Và lúc vừa đặt chân đến mảnh đất Mỹ Hoà Hưng (cù lao ông Hổ) có dòng sông Hậu hiền hoà
ngày đêm chảy mãi như tuần hành cùng thời gian để canh giữ, bảo vệ ngôi nhà gỗ với mái lợp ngói ống,
nằm giữa vườn cây trái xanh tươi của vùng đất này. Tôi lại càng hiểu rõ và thấm thía hơn ý nghĩa của hai
câu thơ ấy. Quả thật, lúc lớp tôi quyết định đi thăm và ôn lại những trang sử hào hùng của dân tộc nói
chung và cuộc đời Bác Tôn nói riêng, tôi không có bao nhiêu cảm xúc và sự mường tượng chính xác về
khu di tích này. Bởi lẽ tôi rất ít cơ hội được đi tham quan, thăm viếng một di tích hay danh lam thắng
cảnh nào.
Thật bất ngờ khi tận mắt nhìn thấy, chính đôi chân chạm đến, tôi mới nhận ra rằng nó thật tuyệt
diệu! Bao trùm lên khu di tích là vẻ nghiêm trang, cao rộng song cũng thật tuyệt với những nét đẹp trầm
lặng bởi lẩn khuất đâu đó cái khí thiêng của dân tộc. Trong một thoáng, bất chợt tôi cảm tưởng rằng
mình đang ở nơi nào ấy thật khác xa với thế giới ngoài kia - ồn ào, náo nhiệt - dẫu chỉ cách nhau có một
cánh cổng và một bức tường. Bỗng dưng lòng tôi dậy lên một cảm giác lạ lùng, nó vừa háo hức lại vừa
bâng khuâng khó diễn tả được?
Thế nhưng, tôi không thể không thừa nhận cái cảm nhận thích thú của tôi khi đến đây, khu di
tích này đã để lại trong tôi một tình cảm khó quên và giờ thì nó đã trở thành một kí ức mà mỗi lần giở ra
tôi không khỏi bồi hồi, xúc động. Lúc này đây, tôi ngồi lại cảm nhớ về chuyến tham quan hôm ấy trong
phút chốc, tất cả như ùa về, những kiến thức như còn mới rất mẻ và sống động làm sao! Cánh cổng di
tích Bác Tôn như mở cửa cuộc ngược dòng thời gian đi vào quá khứ để nhớ về Bác.
Những con đường lát đá trải dài, những hàng dương cao vút đâm thẳng lên bầu trời, những hàng
liễu rũ dọc bờ hồ đầy thi vị mà cũng buồn vời vợi, không khỏi làm cho người ta có một chút ngậm ngùi,
xốn xang. Im lặng, bình thản, tôi đi bên cạnh mọi người bước vào đền thờ - nơi đặt bức tượng của người
anh hùng dân tộc Tôn Đức Thắng, niềm tự hào của người dân An Giang. Nhưng tâm trí tôi như một cuộc
rượt đuổi nối đuôi nhau theo giai điệu của dòng lũ cảm xúc cứ từng đợt dâng trào không thôi.
Cập nhật ngày 9/5/2008 – Công Đoàn 1 Trang 12
Ngôi nhà Bác Tôn. Ảnh Hồng Nhung
Tôi như người vừa thoát khỏi quá khứ quay về thực tại, khi tiếng của ngưới hướng dẫn viên
dừng lại, chị như hát một bài ca bất tận say sưa không biết mỏi về con người vĩ đại - chủ tịch Tôn Đức
Thắng. Trong ngữ điệu trầm bổng lúc như thúc giục, lúc như tâm tình to nhỏ dịu dàng thương mến. Thật
xúc động vừa nhẹ nhàng, thanh thoát vừa truyền cảm du dương. Hình như đó chính là tất cả chân tình,
mọi cảm xúc yêu thương, kính trọng, thương nhớ, nuối tiếc mà cô muốn truyền đạt về Bác đến với tất
cả mọi người có mặt ngày hôm ấy. Cả khu đền đều vang vọng và tràn ngập hình ảnh của Bác - một
người anh hùng trung cang, anh hùng và đầy trí tuệ. Bác như đang hiện diện ở đây hiện hữu, có thật,
đang dắt tay các đồng chí, cùng mọi người bàn bạc cho cuộc chiến đấu mới. Cuộc đời Bác là những sự
trải nghiệm của những năm đấu tranh, giành giật từng giây từng phút giữa sự sống và cái chết.
Chưa bao giờ tôi cảm thấy sự yên ắng và tôn nghiêm đến thế. Tự đáy lòng, tôi kính phục và biết
ơn con người này biết bao với sự hy sinh, lòng nhân ái, cái tính kiên cường, bất khuất của Bác; thêm vào
đó là sự xen lẫn của nỗi đau, sự mất mát, niềm nuối tiếc không nguôi.
Lúc này đây, ngôi đền như đắm mình vào quá khứ, và con người hiện hữu ở đó thì chạy theo suy
ngẫm của mỗi người không ai nói với ai bất cứ điều gì nhưng đều có chung một ý nghĩ tưởng nhớ về con
người anh hùng, người chủ tịch tài ba Tôn Đức Thắng. Người có một cái tên thật gần gũi và bình dị mà
mọi người vẫn thường gọi "Bác Tôn". Hai tiếng ấy làm tôi chực nghẹn ngào. Cái tiếng "Bác" thân
thương làm sao! Cái tên "Tôn"cũng thật giản dị và gần gũi xiết bao! Tiếng gọi thiêng liêng và tôn kính
ấy dù gọi bao nhiêu lần đi nữa vẫn làm cho tôi xúc động!
Như vẫn còn đây mà thật ra đã không còn nữa, Bác đã ra đi bình lặng, ra đi mà lòng vẫn còn
mang nặng tình nhà nợ nước, sống và chết điều luôn chiến đấu hết mình vì sự nghiệp cách mạng, con
người Việt Nam:
Người quả thật có một trái tim lớn, trái tim của đất nước
Bài thuyết trình của chị hướng dẫn viên kết thúc, làm mọi người sực tỉnh song mọi cảm xúc thăng hoa
ấy vẫn còn đọng lại khiến tất cả bùi ngùi luyến nhớ. Bước xuống bậc thềm sau cùng, tôi ngoái lại nhìn
lại một lần nữa, đền thờ vẫn đứng đó - lặng lẽ, nghiêm nghị trong cái nắng vàng buổi sớm tôi bất chợt
cảm thấy bình yên lạ.
Mặc dù vậy, đó không phải là tất cả của khu di tích này, trong nó vẫn còn nhiều điều thú vị. Và
điều thú vị ấy như thế nào còn tuỳ vào cảm nhận của mỗi người; riêng tôi thì đó là không khí tĩnh lặng,
cái vẻ trang nghiêm cùng với nhiều điều bất ngờ của các di vật lưu trữ nơi này: sống động, khốc liệt,
hiện thực
Cả cảnh vật cũng mang cho người ta cảm giác khác lạ: một cây cầu nhỏ bắc ngang bờ hồ nhỏ,
những vòm cây kiểng được chăm chút, cắt tỉa gọn gàng, khéo léo tỉ mỉ. Vừa bước vào nơi lưu giữ những
kỉ niệm về chủ tịch Tôn Đức Thắng từng dòng rung cảm xáo trộn lẫn lộn dâng trào lên trong tôi: từ
những bức tranh, những bức hình nộm rất sống động về toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của
chủ tịch Tôn Đức Thắng. Rồi chiếc xe đạp cũ kĩ nằm trong tủ kiếng, một đôi dép râu cũ, một ngôi nhà
bằng gỗ hết sức đơn sơ. . .
Và đôi chân tôi bị trói chặt trước bức tranh miêu tả lại cảnh của người tù côn đảo. Tôi cảm thấy
sự hãi hùng và ghê sợ bao trùm vây bủa lấy tôi. Tôi tự hỏi "Cuộc sống đấy ư?". Con người bị gông cùng,
bị đày đoạ, bị đánh đập, ức hiếp hành hạ cả thể xác lẫn tinh thần, lưỡi hái của tử thần luôn chực chờ đón
lấy. Vậy mà trong hình ảnh đó không để lại cho người ta một sự cam chịu và thoái lui, ngược lại trong
đôi mắt của người tù gầy còm ấy là một ý chí phấn đấu chịu đựng để chiến đấu để đánh gục kẻ thù, sự
hy vọng được chấp cánh bay theo con đường lý tưởng, ước mơ của mình.
Thật không dễ có thể dứt đôi mắt mình rời khỏi bức tranh đó. Tôi cảm thấy mình thật may mắn
khi được sinh ra và lớn lên trong cảnh thái bình, yên vui; không phải đổ máu và hy sinh, rơi những giọt
nước mắt mất mát, đau thương, cũng không phải chia ly như cuộc chia lìa của những người nông dân
trong thơ Chính Hữu, hay cuộc chia ly màu đỏ của Nguyễn Mỹ
Dẫu vậy, ở mức chừng mực nào đó, hình ảnh tàn khốc của chiến tranh vẫn ám ảnh các thế hệ trẻ
ngày sau, và tôi cũng vậy. Tôi biết nỗi đau ấy quả không dễ gì khoả lấp, thời gian không thể bù đắp và
Cập nhật ngày 9/5/2008 – Công Đoàn 1 Trang 13
chữa trị vết thương của trái tim. Bức tranh đó đã gợi lên trong tôi nhiều hình ảnh và cảm xúc, tôi hình
dung lại viễn cảnh và tinh thần của con người sống trong hoàn cảnh chiến tranh ngày xưa: người ta sẵn
sàng rời khỏi gia đình, vợ con, làng quê, bỏ cái cuốc, cái cày, cái rựa, cái bừa con trâu để lên đường cầm
cây súng, lái xe tăng, thiết giáp, tháo mìn đánh giặc mặc cho chết chóc, sốt rừng, đứng giữa chiến
tuyến sống và chết, cái sợi chỉ hạnh phúc mong manh như một sợi tơ mành căng ngang giữa bầu trời sao
lung linh nhưng đầy bom và đạn.
Nhưng khó khăn đó, trở ngại đó, thử thách đó không làm khó được họ, đối với họ sống là chiến
đấu còn chết là vinh quang. Tôi thấy mình nhỏ bé làm sao! Lại càng khâm phục, ngưỡng mộ con người
có trái tim cao thượng và ấm áp tình người này. Mọi vật xung quanh dường như cũng theo người im
lặng theo đuổi ý nghĩ riêng của mỗi người. Và tôi đã không thể quên ngôi nhà gỗ lợp ngói ống ấy, nó hết
sức bình thường chẳng có nhiều đáng giá. Thế nhưng đó là cả một kho tàng quý báu rất đáng giá đối với
những ai biết yêu quý những giá trị tinh thần của dân tộc mình. Trong ngôi nhà đó trong lời bình dẫn của
người hướng dẫn viên ta sẽ cảm thấy được đâu đó trong từng thước tấc của ngôi nhà đều mang đậm dấu
ấn và hơi ấm của Người.
Mỗi câu chuyện về Bác, về gia đình Bác điều làm cho người ta khâm phục đồng thời là sự mến
yêu, trân trọng. Vậy nên ai cũng phải chạnh lòng khi đến thắp nén hương thăm viếng người dưới mộ,
những người thân thuộc của Bác Tôn và như vậy cũng đã thắp nén hương cho Bác vậy. Cả không gian
yên ắng, tôi đứng đó và triền miên trong suy tưởng. Khói của nhang trầm vẫn cứ nghi ngút bay.
Nếu trước đây, tôi chưa hiểu nhiều về Bác, người con của Mỹ Hoà Hưng vùng đất An Giang này
thì giờ tôi đã hiểu biết rõ hơn, sâu sắc hơn nhiều. Tôi tự hào vì mình cũng là một người con của miền đất
An Giang, nơi có vị lãnh tụ tài ba, giỏi giang, anh dũng.
Tôi đã thu nhận được ở chuyến đi rất nhiều điều: từ kiến thức học tập cho đến những kinh
nghiệm, vốn sống, và cả sự bồi dưỡng cảm xúc, cảm nhận riêng bản thân. Điều quan trọng hơn trong
chuyến đi này, tôi biết đâu là giá trị thật, là vĩnh hằng, là sự sống mãi của một con người. Người ta
thường nói, thời gian là người công bằng nhất. Tôi thấy đúng quả là thế, chỉ có thời gian mới phân định
được đâu là giá trị tồn tại mãi mãi minh chứng cho nó là hình ảnh của người thanh niên "Ba Son" - Tôn
Đức Thắng vẫn mãi sống trong lòng người Việt.
Tôi mong một ngày nào đó tôi sẽ trở lại đây một lần nữa để được nghe kể về Bác với tất cả tâm
trạng quý mến như thế. Để tôi có thể nhìn lại quá khứ và nhìn vào hiện tại, về tôi, người của thế kỷ hôm
nay.
10. XÍ NGHIỆP BA SON
Liên hiệp xí nghiệp Ba Son ngày nay là một xưởng sửa chữa và đóng tàu lớn, địa chỉ tại số 2
đường Tôn Đức Thắng, phường Bến Nghé, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh. Đây là một di tích lịch sử
mang nhiều ý nghĩa. Là dấu tích cổ còn lại của một công trường thủ công lớn, một ngành công nghiệp
quan trọng ra đời sớm nhất của Sài Gòn xưa. Là cái nôi của phong trào đấu tranh của các tầng lớp công
nhân Sài Gòn. Xưởng cơ khí mang số 323 đường số 12 trong khuôn viên xí nghiệp là nơi người thợ máy
Tôn Đức Thắng (sau này là Chủ tịch nước Việt Nam - từ 1969 đến 30/08/1980) đã từng làm việc và hoạt
động cách mạng trong những năm 1915 - 1928.
Năm 1774, Nguyễn Ánh chiếm lại Sài Gòn. Song song với việc xây thành Bát Quái (thành Qui -
1790), Nguyễn Ánh đã cho lập xưởng Chu Sư (xưởng Thủy) - Trịnh Hoài Đức trong "Gia Định thành
thông chí" đã viết: "Xưởng Chu Sư - ở cách phía Đông thành độ một dặm dọc theo bờ sông Tân Bình
quanh theo sông Bình Trị, nhà làm gác để hải đạo thuyền cùng là dụng cụ thủy - chiến xưởng dài đến 3
dặm". Trên bản đồ tỉnh Gia Định năm 1815 của Trần Văn Học ghi rõ: "xưởng Thủy nằm phía Đông
thành Bát Quái". Đến những năm đầu thế kỷ 19 xưởng đã mở rộng thành một công trường thủ công lớn:
"Nơi sản xuất, sửa chữa mọi loại chiến thuyền, nơi đặt lò đúc các hạng súng lớn nhỏ bằng đồng hay
bằng gang, nơi tập trung hàng ngàn công nhân với nhiều ngành chuyên môn khác nhau".
Cập nhật ngày 9/5/2008 – Công Đoàn 1 Trang 14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét