Chương 3: Đặc thù tham gia Giao Thông của dân cư đô thị quận Đống Đa- Hà Nội
CHƯƠNG III: ĐẶC THÙ THAM GIA GIAO THÔNG CỦA DÂN CƯ
QUẬN ĐỐNG ĐA- HÀ NỘI.
3.1 Kế hoạch điều tra.
3.1.1 Tính toán kích thước và số lượng mẫu điều tra.
Lựa chọn kích thước mẫu với xác suất không đều.
( ) ( )
ppdzn
−=
1**/
2
Trong đó: n- kích thước mẫu điều tra
z- thống kê Z tương ứng với độ tin cậy
d- tỷ lệ sai số mẫu điều tra
p- tỷ lệ tính toán
Tính toán các tham số:
[1]. Trung bình:
N
x
x
∑
=
µ
[2]. Độ lệch chuẩn:
( )
1
2
−
−∑
=
N
XX
SD
[3]. Hệ số biến thiên:
x
SE
CV
µ
=
[4]. Độ chính xác tương đối: d
[5]. Độ chính xác tuyệt đối: D
** Xác định kích thước mẫu điều tra chuyến đi.
Các bước tiếp cận để xác định kích thước mẫu.
Bước 1: Tính toán trung bình và độ lệch chuẩn hoặc hệ số biến thiên.
Đầu tiên, tính toán giá trị trung bình và độ lệch chuẩn tương ứng của nó theo thu nhập
hộ gia đình. Hai chỉ tiêu này cung cấp nhanh về phân phối thu nhập và có thể được tính toán
dựa vào các cuộc điều tra, dữ liệu thống kê dân số,
Trung bình:
N
x
m
i
N
i 1
=
∑=
Độ lệch chuẩn:
( )
2
1
1
mx
N
i
N
i
−∑=
=
σ
Đoàn Thị Thu Trang- K46
56
Chương 3: Đặc thù tham gia Giao Thông của dân cư đô thị quận Đống Đa- Hà Nội
Trong trường hợp giá trị trung bình và độ lệch chuẩn không được biết và không được tính toán
với độ tin cậy cao, hệ số biến thiên có thể được sử dụng.
Hệ số biến thiên:
m
CV
σ
=
Bước 2: Đưa ra độ tin cậy
Độ tin cậy thống kê được đặt thông qua việc lựa chọn độ tin cậy và tính toán giá trị
tương ứng cho thống kê z. Thông thường giá trị được sử dụng thường xuyên nhất trong thiết kế
mẫu và phân tích thống kế là độ tin cậy 95% và giá trị thống kê tương ứng là 1.96. Tuy vậy, giá
trị thống kê z thay đổi theo kích thước mẫu, nếu mẫu có 1000 hoặc nhiều hơn 1000 quan sát,
giá trị trong bảng sau sẽ được sử dụng.
Bảng 3.1: Độ tin cậy và giá trị thống kê.
Độ tin cậy ( 1-α) Thống kê z
50.0% 0.67
60 0.84
70 1.04
80 1.28
90 1.64
95 1.96
99 2.58
99.9 3.29
(
1
R.J.Jessen. Statistical Survey Techniques,Wiley, 1978.)
Bước 3: Xác định độ chính xác.
Các giá trị chấp nhận được xoay quanh thu nhập trung bình của hộ gia đình phản ánh độ
chính xác mong muốn trong tính toán điều tra thu thập hộ gia đình. Độ chính xác có thể là giá
trị tương đối (ví dụ ±4% giá trị trung bình) hoặc là số tuyệt đối ( ví dụ ±1.800$ giá trị trung
bình).
Tương đối
m
D
d
±=
Tuyệt đối D
Bước 4: Tính toán trung bình sai số chuẩn.
Đoàn Thị Thu Trang- K46
57
Chương 3: Đặc thù tham gia Giao Thông của dân cư đô thị quận Đống Đa- Hà Nội
Trung bình sai số chuẩn (SE(
x
))được tính toán dựa vào bao thông tin quan trọng:
Trung bình (m), Độ chính xác ( D hoặc d), độ tin cậy.
( ) ( )
m
z
d
xSEm
z
m
D
xSE **
=⇒
=
Bước 5: Tính toán kích thước mẫu lần 1
Giá trị này được tính toán không dựa trên kích thước tổng thể.
Kích thước mẫu lần 1:
( )( )
2
2
xSE
n
σ
=
′
quan sát.
Bước 6: Điều chỉnh kích thước mẫu theo tổng thể
Kích thước mẫu theo chuẩn:
N
n
n
n
′
+
′
=
1
quan sát.
Do đó ta tính toán kích thước mẫu cần điều tra như sau:
Qua điều tra thực tế có khoảng 36% gia đình trong một phường có thu nhập dưới 4 triệu
đồng/tháng, do đó p = 0.36.Với độ tin cậy 95% với z = 1.96 và mức độ sai số là d = 1%, kích
thước mẫu được tính như sau:
5.8864.0*36.0*
1.0
96.1
2
=
=
N
(hộ gia đình)
Do đó với 21 phường hiện có của quận Đống Đa chúng ta phải tiến hành điều tra 88.5 * 21 =
1858.7 ≈ 1900 hộ gia đình.
3.1.2 Nội dung bảng điều tra.
• Toàn bộ quá trình điều tra trong phạm vi phường là một phần của quá trình thu thập cơ sở
thông tin và tài liệu nhằm mục đích phục vụ tốt nhất cho quá trình làm đồ án tốt nghiệp
• Toàn bộ số liệu trực tiếp điều tra chỉ áp dụng trong phạm vi của đồ án.
• Do các số liệu liên quan đến đặc thù tham gia giao thông (khả năng tiếp cận GTVT) của các
hộ gia đình là rất nhiều và đa dạng, nên phiếu điều tra được xây dựng chỉ tập trung thu thập
các số liệu có liên quan đến các dịch vụ vận tải hành khách công cộng và vận tải hành
khách cá nhân, điều kiện về tiếp cận với các dịch vụ này, cũng như các dịch vụ đi kèm như:
nhà để xe,số lượng phương tiện hiện có …của các hộ gia đình trong khu vực.
• Cuộc điều tra được tiến hành dựa trên sự khảo sát và phỏng vấn trực tiếp của nhân viên
điều tra dựa trên bảng phỏng vấn; các số liệu về KT – XH – VTHKCC được thu thập trực
tiếp tại các phường thuộc địa bàn quận Đống Đa hoặc qua các tài liệu có liên quan.
• Phương pháp điều tra dựa trên phương pháp điều tra chọn mẫu với xác suất không đều.
Đoàn Thị Thu Trang- K46
58
Chương 3: Đặc thù tham gia Giao Thông của dân cư đô thị quận Đống Đa- Hà Nội
• Số liệu thu thập được trong toàn bộ quá trình điều tra số liệu được xử lý bằng Microsoft
Excel và trình bày báo cáo bằng Microsoft Word.
• Thời gian điều tra: + Đợt 1được tiến hành từ ngày 03/03/2009 đến ngày
16/03/2009
+ Đợt 2 được tiến hành vào ngày 10/04 – 12/04/2009
• Nội dung bảng điều tra sẽ đề cập đến các vấn đề như sau:
1/ Thông tin về hộ gia đình:
Họ và tên chủ hộ
Địa chỉ
Số thành viên trong gia đình
Thu nhập hàng tháng của hộ gia đình
Số lượng phương tiện sở hữu của gia đình
Loại phương tiện thường xuyên sử dụng.
Điều kiện nơi để phương tiện
2. Thông tin về chuyến đi.
Mục đích chuyến đi
Điểm xuất phát/ điểm đến
Cơ cấu phương tiện phục vụ nhu cầu đi lại
Thời gian chuyến đi
Hệ số đi lại
Chiều dài chuyến đi
Chi phí dành cho đi lại
Tại sao quý vị lại lựa chọn phương tiện đang sử dụng?
3/ Nhân viên điều tra tự quan sát và ghi lại.
Khoảng cách từ hộ gia đình tới trục đường chính gần nhất.
Khoảng cách từ hộ gia đình tới điểm dừng xe buýt gần nhất.
Sau đây là bảng phỏng vấn hoàn chỉnh được sử dụng để điều tra phỏng vấn hộ gia đình:
BẢNG PHỎNG VẤN HỘ GIA ĐÌNH VỀ ĐẶC THÙ THAM GIA
GIAO THÔNG
Đoàn Thị Thu Trang- K46
59
Chương 3: Đặc thù tham gia Giao Thông của dân cư đô thị quận Đống Đa- Hà Nội
*** ***
PHẦN I. THÔNG TIN CHUNG Mã HGĐ: A 01
Họ và tên nhân viên điều tra Hà Nội, Ngày…tháng…năm 2009
1. Thông tin về hộ gia đình.
Họ tên chủ hộ SĐT(nếu có)
Điạ chỉ:
2.Số thành viên trong gia đình:
Đoàn Thị Thu Trang- K46
60
Chương 3: Đặc thù tham gia Giao Thông của dân cư đô thị quận Đống Đa- Hà Nội
1. 2 người
2. 3 người
3. 4 người
4. > 4 người
3. Thu nhập hàng tháng của hộ gia đình (đồng/tháng):
1.Dưới 1 triệu
2.Từ 1-2 triệu
3.Từ 2-3 triệu
4.Từ 3- 4 triệu
5.Từ 4- 5triệu
6.Từ 5-7 triệu
7.≥ 7 triệu
4. Số lượng phương tiện hộ gia đình hiện có.
1. Xe đạp
2. Xích lô
3. Xe máy
4. Xe ô tô
II. PHỎNG VẤN CÁ NHÂN TRONG HỘ GIA ĐÌNH.
1. Thông tin cá nhân
1. Nam 2. Nữ
2. Nghề nghiệp
1. Học sinh/sinh viên
2. Cán bộ CNVC
3. Lãnh đạo các
ngành, các cấp
4. Thất nghiệp/về
hưu
5. Lãnh đạo trong và
ngoài DN
6. Kinh doanh/buôn
bán nhỏ
7. Khác
3.Loại hình phương tiện quý vị thường xuyên sử dụng nhất hiện nay?
1. Đi bộ
2. Xe đạp
3. Xe máy
4. Ô tô riêng
5. Xe buýt
6. Khác
4. Mục đích chuyến đi?
1. Đi làm/đi học
2. Mua bán/đi
chợ
3. Đi thăm hỏi
bạn bè
4. Đi ăn uống
5. Đi chơi
6. Đi về nhà
7. Chơi thể
thao/giải trí
Đoàn Thị Thu Trang- K46
61
Chương 3: Đặc thù tham gia Giao Thông của dân cư đô thị quận Đống Đa- Hà Nội
8. Mục đích
khác
5. Điểm đi/ điểm đến
1. Nơi ở
2. Cơ quan
3. Trường học
4. Cở sở y tế
5. Cửa hàng/siêu
thị/chợ
6. Nhà hàng
7. Công viên/khu
vui chơi giải trí
8. Nhà bạn bè
người thân
9. Nơi khác.
6. Thời gian chuyến đi
1. > 0.5h
2. 0.5 – 1h
3. 1h – 2h
4. > 2h
7. Số chuyến đi.
1. 2 chuyến/ngày
2. 2 – 4 chuyến/ngày
3. 4 – 6 chuyến/ngày
4. 6 – 8 chuyến/ngày
5. > 8 chuyến/ngày
8. Chi phí dành cho việc đi lại hàng tháng?
1. < 100.000đ/tháng
2. 100.000 – 150.000 đ/tháng
3. 150.000 – 200.000 đ/tháng
4. 200.000 – 300.000 đ/tháng
5. > 300.000 đ/tháng
9. Tại sao quý vị lại lựa chọn phương tiện đang sử dụng?
1. An toàn
2. Thuận tiện
3. Kinh tế
4. Thoải mái
5. Nhanh chóng
Đoàn Thị Thu Trang- K46
62
Chương 3: Đặc thù tham gia Giao Thông của dân cư đô thị quận Đống Đa- Hà Nội
3.1.3 Phương pháp điều tra, tiến hành thu thập và xử lý số liệu.
a/ Kế hoạch điều tra, thu thập số liệu
Kế hoạch điều tra được bắt đầu tiến hành vào ngày 03/03/2009 với số lượng 1900
phiếu, được chia đều cho các phường trong quận Đống Đa.
Đầu tiên là lập bảng hỏi với đầy đủ thông tin cần điều tra như: thu nhập bình quân hàng
tháng của hộ gia đình, điều tra các chuyến đi, mục đích chuyến đi, thời gian chuyến đi, hệ số đi
lại, phương tiện thường dùng đi lại, chi phí đi lại,…
Sau khi đã kiểm tra đầy đủ thông tin của bảng phỏng vấn, tiến hành phỏng vấn các hộ
gia đình và người dân thường xuyên đi lại qua địa bàn này. Ban đầu khi gặp họ, nhân viên điều
tra giới thiệu một chút về bản thân như: họ tên, nghề nghiệp, mục đích của cuộc phỏng vấn, sau
đó giải thích bảng hỏi và tiến hành hỏi. Hầu hết những người được hỏi đều có thái độ rất thoải
mái và nhiệt tình khi trả lời.
Cuộc điều tra phỏng vấn diễn ra trong 7 ngày và kết thúc vào ngày 10/03/2009
Sử dụng phần mềm Microsoft Excel để tính toán và xử lý số liệu.
b/ Xử lý số liệu
Viết chương trình và mã hoá số liệu thu thập được qua điều tra, phỏng vấn.
Sắp xếp và sửa các bảng câu hỏi, các dữ liệu cần thiết để xử lý.
Mã hoá các số liệu thu thập được.
Chuẩn bị số liệu → nghiên cứu các mối quan hệ, phân tích và xử lý.
Xử lý kết quả bằng phần mềm Microsoft Offcie Excel, viết báo cáo bằng phần
mềm Microsoft Offcie Word.
Chạy dữ liệu trên máy computer.
3.2 Phân tích kết quả.
Sau đây là toàn bộ số liệu đã thu thập được qua cuộc điều tra phỏng vấn hộ gia đình thuộc địa
bàn quận Đống Đa.
Đoàn Thị Thu Trang- K46
63
Chương 3: Đặc thù tham gia Giao Thông của dân cư đô thị quận Đống Đa- Hà Nội
Biểu đồ 3.1. Mối quan hệ thu nhập hàng tháng và số lượng phương tiện hiện có của hộ gia
đình.
Qua biểu đồ ta nhận thấy hiển nhiên là phương tiện xe máy được sử dụng trong mọi lúc,
mọi nơi, trong mọi hoàn cảnh điều kiện. Tiếp đến phương tiện xe đạp cũng được sử dụng khá
nhiều nhằm phục vụ các chuyến đi ngắn, và chủ yếu phục vụ lứa tuổi học sinh, sinh viên, người
nghỉ hưu/thất nghiệp, cho các chuyến đi chợ hoặc mua bán. Xe hơi sử dụng ít do chi phí mua
phương tiện đắt, cơ sở hạ tầng yếu kém, do vậy những gia đình có thu nhập khá cao mới có khả
năng sở hữu loại phương tiện xa xỉ này. Song đối với những gia đình có thu nhập khá từ 3 –
4triệu trở lên thì số phương tiện sở hữu là xe máy tương đối nhiều, trung bình mỗi hộ gia đình
có 2 chiếc xe máy. Bởi xe máy có tính linh hoạt, cơ động và rất thuận tiện cho những chuyến đi
ngắn trong và ngoại ô thành phố Hà Nội.
Thu nhập là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới đặc thù tham gia giao thông, đặc biệt trong
sở hữu phương tiện và cơ cấu phương tiện. Đời sống cải thiện dẫn đến phát sinh nhiều nhu cầu
→ nhiều chuyến đi, phương tiện cá nhân cũng tăng nhanh một cách chóng mặt làm cho sự nâng
cấp về cơ sở hạ tầng không theo kịp dẫn tới nhiều điều bất cập trong vấn đề giao thông vận tải
như: tắc đường, tai nạn giao thông, phóng nhanh vượt ẩu,…
Có thể thấy do đặc trưng của nền kinh tế và phong tục tập quán lâu đời cũng như nhu
cầu tất yếu của một quốc gia đang phát triển sự bùng nổ phương tiện cá nhân là một điều tất
yếu. Nhưng đây cũng là vấn đề làm đau đầu các nhà quy hoạch và quản lý về một hệ thống
GTCC làm sao đáp ứng được nhu cầu đi lại của người dân khi mà số lượng người dân sử dụng
Đoàn Thị Thu Trang- K46
64
Chương 3: Đặc thù tham gia Giao Thông của dân cư đô thị quận Đống Đa- Hà Nội
hệ thống VTCC là chưa cao và hệ thống cơ sở hạ tầng GTVT ngày càng trở nên quá tải với sự
bùng nổ về mặt số lượng của các phương tiện cơ giới các nhân (trong đó chủ yếu là xe máy).
Biểu đồ 3.2. Phương tiện thường xuyên sử dụng của hộ gia đình.
Qua biểu đồ trên chúng ta đã thấy phương tiện ưa chuộng của người dân quận Đống Đa
nói riêng và có thể nói toàn xã hội nói chung chính là phương tiện cá nhân xe máy, chiếm tới
1064 gấp 4 lần sử dụng phương tiện xe buýt. Ô tô riêng được sử dụng song không phổ biến. Do
điều kiện đường sá hẹp, đi lại khó khăn và chi phí mua sắm phương tiện cũng như bảo dưỡng
sửa chữa khá tốn kém, nhất là trong thời buổi nền kinh tế khó khăn hiên nay. Và một điều đặc
biệt ở đây là số lượng xe đạp được sử dụng cũng khá nhiều khoảng 342 trong tổng số 1900 hộ
được phỏng vấn. Phương tiện vận tải hành khách công cộng chưa thực sự đi vào đời sống nhân
dân, bởi vì con số trên thể hiện mức độ sử dụng thuộc loại ít nhất. Có lẽ người dân chưa thực sự
hiểu biết và thấy rõ tác dụng thực tế của phương tiện VTHK này đem lại.
Biểu đồ 3.3. Mục đích chuyến đi
Mục đích chuyến đi thì có rất nhiều nhưng đa số các chuyến đi phục vụ mục đích đi làm
và đi học chiếm 48%, đi mua bán, đi chợ cũng chiếm khá nhiều tới 16% chủ yếu của những
người phụ nữ được hỏi, sau mỗi ngày làm việc căng thẳng thì công việc nội chợ chăm chút cho
Đoàn Thị Thu Trang- K46
65
Chương 3: Đặc thù tham gia Giao Thông của dân cư đô thị quận Đống Đa- Hà Nội
gia đình thân yêu là công việc hàng ngày mà phụ nữ vẫn thường làm. Thời gian trung bình cho
mỗi chuyến đi mất khoảng từ 0.5 – 1h.
Do đa số các chuyến đi xuất phát ở nhà và điểm đến là cơ quan, trường học. Hơn nữa giờ
làm việc và học tập của cán bộ công nhân viên và học sinh, sinh viên gần giống nhau nên thời
gian chuyến đi tương đối trùng khớp. Chính vì thế chuyến đi chủ yếu bắt đầu từ 6h30 – 8h vào
buổi sáng, buổi trưa từ 11h – 12h, buổi chiều từ 17h – 19h. Đó là những giờ cao điểm mật độ
dân cư đi lại rất nhiều, dẫn đến ách tắc giao thông thường xuyên xảy ra vào những giờ cao điểm
này và xảy ra ở hầu hết các nút giao thông trọng điểm của thành phố Hà Nội. Ở quận Đống Đa
thì có một số nút như: nút Đê La Thành - Nguyễn Chí Thanh, nút Giảng Võ – Láng Hạ, nút
Láng Hạ - Lê Văn Lương…
Thời gian chuyến đi phụ thuộc vào độ tuổi và giới tính. Tuỳ theo độ tuổi mà khả năng
tham gia giao thông cũng như đi lại ra sao? Thường thì học sinh, sinh viên thường có những
chuyến đi cố định và, ngược lại những người đi làm thì có nhiều chuyến đi hơn. Những người
trong độ tuổi nghỉ hưu và trẻ em thì số chuyến đi lại càng ít hơn, thậm chí cả tuần có khi mới
tham gia giao thông một lần.
Giới tính cũng ảnh hưởng nhiều tới thời gian chuyến đi, nam thường có thời gian đi lại
nhiều hơn, khả năng chịu đựng và lái xe trong thời gian dài hơn đa số phụ nữ.
Biểu đồ 3.4.Phân bổ chuyến đi theo phương tiện
Phân bổ chuyến đi theo phương tiện được cụ thể như sau:
PTCN : 86%
PTCC : 14%
Qua phân tích ta thấy rằng rõ ràng phương tiện cá nhân được sử dụng hầu hết cho mọi
mục đích chuyến đi, nó chiếm tới 86% gấp 6 lần sử dụng phương tiện VTHKCC , còn lại
phương tiện công cộng chỉ chiếm phần nhỏ 14%. Làm thế nào để cho hai con số trên có thể
Đoàn Thị Thu Trang- K46
66
Chương 3: Đặc thù tham gia Giao Thông của dân cư đô thị quận Đống Đa- Hà Nội
chênh lệch ít đi, bài toán này thật sự khó giải đối với các nhà quy hoạch giao thông nói riêng và
toàn thể nhân dân thủ đô nói chung. Hi vọng rằng trong tương lai không xa bài toán này sẽ tìm
được lời giải hợp lý.
Nghề nghiệp hay công việc của bản thân mỗi cá nhân ảnh hưởng khá nhiều tới việc lựa
chọn phương tiện sử dụng cho mục đích chuyến đi đó. Thường thì học sinh, sinh viên hay lựa
chọn phương tiện là xe đạp hoặc xe buýt cho mục đích chuyến đi của mình. Ngược lại những
người đi làm lại lựa chọn phổ biến là hình thức đi lại bằng xe máy, vì nó linh hoạt có tính cơ
động cao lại thuận tiện và nhanh chóng. Song lãnh đạo các ngành các cấp, hay lãnh đạo trong
và ngoài doanh nghiệp lại lựa chọn ô tô cho những chuyến đi làm ăn hay gặp gỡ đối tác, cũng
tương đối dễ hiểu thôi vì công việc này bắt buộc họ phải có phương tiện như vậy. Không thể
một cán bộ có chức có quyền lại đi xe đạp được. Ngoài ra những người nghỉ hưu hay thất
nghiệp thì phương tiện sử dụng chủ yếu là xe đạp.
Nhìn chung, xe máy có những ưu điểm như đi lại nhanh chóng thuận tiện tiết kiệm được
75% thời gian so với xe đạp, do vậy quãng đường đi lại tăng gấp đôi (6.6 km so với 4.3 km bằng
xe đạp). Hơn nữa, hệ số đi lại của xe máy là 2.6 trong 1 ngày so với 1.7 đối với xe đạp.
Biểu đồ 3.5. Mối liên hệ điểm đi và điểm đến
Vì đặc điểm điều tra phỏng vấn hộ gia đình cho nên nhưng chuyến đi xuất phát đều bắt đầu
từ gia đình, và điểm đến như các quận lân cận trong thành phố hoặc trong nội quận, khu trung
tâm, cơ quan, trường học, cửa hàng/ siêu thị/ chợ, nhà bạn bè hoặc người thân, Nơi vui chơi,
giải trí, nhà hàng ăn uống, cơ sở y tế, nơi ở…Và điểm đến của các chuyến đi thường là nơi: cơ
quan, trường học, khu mua bán, mua sắm, về nhà.
Trong cuộc sống hàng ngày có vô vàn công việc có tên và không tên đòi hỏi chúng ta phải
đi lại, chuyến đi nào cũng được coi là quan trọng và cần thiết song mục đích cao cả nhất là đi
làm và đi học, bên cạnh đó là đi mua sắm, chợ búa hàng ngày phục vụ cho sinh hoạt đời sống
Đoàn Thị Thu Trang- K46
67
Chương 3: Đặc thù tham gia Giao Thông của dân cư đô thị quận Đống Đa- Hà Nội
thường nhật của con người. Ngày nay đời sống của người dân dần dần được cải thiện và nâng
cao do đó các chuyến đi chơi, du lịch, chơi thể thao, ăn uống cũng nhiều.
Biểu đồ 3.6. Thời gian đi lại
Các chuyến đi xuất phát chủ yếu ở nhà và kết thúc ở nơi làm việc cơ quan, trường học, khu
chợ búa, do đó các chuyến đi này có cự ly ngắn, quãng đường dưới 30km do đó chi phí đi lại
thường từ 0.5 – 1h là chủ yếu chiếm 82%. Số ít có chuyến đi dài tốn nhiều thời gian trong ngày
thường là chuyến đi đưa hàng hoặc lấy hàng của các hộ kinh doanh, buôn bán hoặc những
người làm nghề lái xe ôm chiếm 12%
Biểu đồ 3.7. Số chuyến đi trong ngày
Số chuyến đi trong ngày của dân cư nơi đây chiếm nhiều nhất là khoảng 2 chuyến/ngày,
chủ yếu là các chuyến đi làm và đi học chiếm 56%, 6 -8 chuyến trên ngày chiêm một phần nhỏ
khoảng 8%
Biểu đồ 3.8. Chi phí đi lại hàng tháng
Đoàn Thị Thu Trang- K46
68
Chương 3: Đặc thù tham gia Giao Thông của dân cư đô thị quận Đống Đa- Hà Nội
Chi phí cho việc đi lại bao gồm: Chi phí thời gian, Chi phí tài chính.
Nếu đem so sánh chi phí đi lại của phương tiện cá nhân (xe máy) và phương tiện công
cộng (xe buýt) thì về chi phí thời gian chờ xe của xe buýt mất khá nhiều, có khi bằng thời gian
của chuyến đi đối với phương tiện xe máy. Song nếu xét về chi phí tài chính thì nếu xét một
cách cụ thể bao gồm: tiền xăng, tiền sửa chữa bảo dưỡng phương tiện…thì phương tiện cá nhân
lại tốn kém hơn.
Qua điều tra cho thấy chi phí đi lại trung bình đối với những người đi làm thường nằm
trong khoảng từ 200.000 – 300.000 đồng/tháng. Còn đối với học sinh, sinh viên, thì chi phí
trung bình khoảng ít hơn khoảng dưới 100.000 đồng/tháng. Đối với người già và trẻ nhỏ thì
thường được người thân chở đi do vậy chi phí đi lại gần như không mất, có mất cũng không
đáng kể.
Qua sơ đồ trên ta nhận thấy những chuyến đi học, đi chợ mua bán tốn ít thời gian hơn
nữa lại sử dụng phương tiện xe đạp là chủ yếu do đó chi phí bỏ ra sửa chữa và bảo dưỡng
phương tiện rất ít.
** Tại sao quý vị lựa chọn phương tiện đang sử dụng
Trong số người được hỏi có 608 người lựa chọn vì PTSD vì tính thuận tiện, 380 người
cho rằng vì nhanh chóng, 342 người cho rằng có tính kinh tế và thoải mái. Đó là ý kiến của
những người dân sinh sống và hoạt động trên địa bàn quận Đống Đa. Người chọn phương tiện
cơ giới cá nhân thì cho rằng nó có tính thuận tiện cơ động, linh hoạt, vận tốc nhanh chóng và
chi phí cũng không nhiều. Tự bản thân họ lái xe nên cảm thấy rất an toàn và thuận tiện.
Đoàn Thị Thu Trang- K46
69
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét