thiện các công trình; đến lúc công trình đã được hoàn thiện thì sửa chữa thường xuyên là công tác chủ yếu
trong toàn bộ công tác sửa chữa.
Ba công tác này kết hợp được chặt chẽ và thực hiện được tốt sẽ làm cho đường sá, cầu cống, phà, ca-nô,
nhà cửa, các thiết bị an toàn càng ngày càng được nâng cao chất lượng, dần dần trở nên hoàn chỉnh, do đó:
- Bảo đảm được tốc độ và trọng tải xe như đã quy định, góp phần vào việc bảo đảm an toàn giao thông.
- Hạ được giá thành vận tải;
- Giảm bớt được chi phí về sửa chữa vừa và sửa chữa lớn;
- Kéo dài được thời gian phục vụ của con đường tránh được việc phải đầu tư sớm làm lại con đường để tập
trung vốn vào việc phát triển mảng lưới giao thông.
PHẦN 2:
NỘI DUNG CÔNG TÁC SỬA CHỮA
Chương 4:
CÔNG TÁC SỬA CHỮA THƯỜNG XUYÊN
1. Mặt đường, nền đường.
Điều 13. – Công tác sửa chữa thường xuyên mặt đường về mùa khô gồm có:
a) Trên mặt đường đất: Tưới nhẹ nước lên mặt đường để giữ độ ẩm cho mặt đường và đề phòng sinh bụi,
cạo gợn sóng cho mặt đường bằng phẳng. Ở vùng có nước mặn thì lấy nước mặn tưới mặt đường để giữ đất
ẩm được lâu.
b) Trên mặt đường cấp phối: Dọn sạch lá cây, rác rưởi, rải đất dính, tưới nước, đầm, nện hoặc té cát sỏi…
c) Trên mặt đường đá dăm: Rải biên hoà hoặc cát to hạt rồi quét đi quét lại cho cát lọt xuống kẽ đá. Tưới
nước, thu nhặt đá bị bong; quét và vun cát sạn bị bắn ra lề đường để rồi rải lại trên mặt đường.
d) Trên mặt đường đá dăm kết vữa: Rải đất núi, đất lẫn đá mạt cho những đoạn mà vữa ở kẽ đá đã mòn sâu.
e) Trên mặt đường đá ong: Rải một lớp đá ong dày 3 – 4cm ở hai vệt bánh xe rồi tưới nước.
g) Trên mặt đường nhựa: Những nơi nào trời nóng nhựa chưa gợn lên thành làn sóng thì rải sỏi hay đá mạt.
Chỗ nào bị trũng sâu, nhựa đọng lại đấy thì phải cuốc lên, vá nhựa lại cho bằng phẳng. Luôn luôn quét và
vun thành đống những sạn do xe chạy gạt ra hai bên lề đường, để dùng lại khi cần.
h) Luôn luôn chú ý vá những ổ gà chớm phát sinh trên các loại mặt đường.
Điều 14. – Công tác sửa chữa thường xuyên mặt đường về mùa mưa gồm có:
a) Trên mặt đường đất, cấp phối và đá dăm. Dọn sạch bùn lầy, rải sỏi hay cát to hạt cho khỏi trơn, nhất là
đối với mặt đường đất và cấp phối.
b) Nói chung trên mặt đường, phải làm cho khỏi ứ đọng nước.
c) Lát ván, lát đá hộc, làm cầu cạn trên các quãng đường lầy.
d) Đối với những hư hỏng chưa sửa chữa kịp, nếu xét có ảnh hưởng đến sự đi lại của xe cộ, thì phải cắm
cọc tiêu hay bảng hướng dẫn giao thông; nếu hư hỏng nặng có thể nguy hiểm cho xe cộ thì phải rào lại và
đặt tín hiệu an toàn.
Điều 15. – Công tác sửa chữa thường xuyên mặt đường chung cho cả hai mùa gồm có:
a) Vá ổ gà mặt đường đất mà diện tích vá không quá 20% diện tích mặt đường; vá ổ gà mặt đường cấp phối
mà diện tích không quá 15% diện tích mặt đường; vá ổ gà mặt đường đá dăm nhựa, đá dăm kết vữa mà
diện tích vá không quá 10% diện tích mặt đường.
b) Rải lại mặt đường cấp phối, đá dăm theo lối xáo xới, có lu lên và thêm vật liệu mới không quá 100lít/mét
đường.
c) Rải lớp đá ong ở hai vệt bánh xe trên mặt đường đá ong, rải dày 3-4cm không lên;
d) Làm tầng hao mòn trên mặt đường đá dăm và mặt đường cấp phối.
e) Dự trữ vật liệu như đá dăm, sạn cát, biên hoà chất dính, để vá ổ gà, làm lớp bảo vệ;
Điều 16. – Công tác sửa chữa thường xuyên nền đường và hệ thống thoát nước về mùa khô gồm có:
a) Sửa chữa lề đường, mái ta-luy
b) Sửa chữa hình dáng của nền đường; xén cỏ trên mép đường trên ta-luy và rãnh ở lề đường.
c) Sửa chữa đường ngầm bằng phằng cho dễ đi.
d) Sửa chữa rãnh ngầm.
Điều 17. – Công tác sửa chữa thường xuyên nền đường và hệ thống thoát nước về mùa mưa gồm có:
a) Cắt cỏ trên lề đường. Trồng cỏ những chỗ thiếu trên ta-luy, cắt cỏ những chỗ quá tốt;
b) Sửa chữa rãnh ngầm cho thông; khơi rãnh thoát nước; dọn cỏ rác; vét đất bùn.
c) Đắp lề đường bị lún: đắp mái ta-luy bị lở; hốt đất sụt với khối lượng nhỏ để khai thông đường.
d) Giữ gìn đường ngầm khỏi bị xói lở, trơ đá; cắm tiêu dọn cỏ rác, cây củi lấp lên trên đường ngầm.
Điều 18. – Công tác sửa chữa thường xuyên nền đường chung cho cả hai mùa gồm có:
a) Sửa chữa hư hỏng ở những đoạn lẻ tẻ của nền đường, có đào, đắp, đầm san phẳng, hốt đất trụt với khối
lượng không quá 100m
3
/cây số.
b) Đắp đất, khối lượng nhỏ, hình chóp của cầu; trồng lại cỏ với những diện tích nhỏ.
c) Sửa chữa đá khan hình chóp, đá khan áp trúc ta-luy đường với diện tích nhỏ.
d) Đào rãnh mới; lát lại đường ngầm từng diện tích nhỏ với khối lượng đá độ 10-20m
3
.
e) Phát cây hai bên đường để giữ tầm nhìn luôn luôn được tốt.
2. Cầu, cống.
Điều 19: Các công trình cầu cống được phân loại như sau:
a) Công trình vĩnh cửu: Mố và trụ xây; mố và trụ bê-tông, bê-tông cốt thép. Mố và trụ sắt thép. Mặt cầu bê-
tông, sắt thép. Các công trình cuốn xây bằng gạch đá.
b) Công trình bán vĩnh cửu: Mố trụ vĩnh cửu, mặt cầu bằng gỗ hoặc bằng thép nhưng không bảo đảm khổ
cầu; cầu thép lắp bằng chốt; cầu IPN; cầu hoàn toàn bằng gỗ tứ thiết, có phòng mục, phòng hà, thiết kế
đúng chuẩn tắc.
c) Công trình tạm thời: Toàn bộ bằng gỗ, không phòng mục, không phòng hà; mố và trụ bằng gỗ, mặt bằng
sắt thép; mố và trụ bằng đá xây khan, mặt gỗ.
Điều 20. – Các công trình cầu được phân hạng căn cứ vào chiều dài và tầm của công trình như sau:
a) Cầu hãng lớn:
- Cầu nhiều dịp và chiều dài bằng hoặc hơn 100m;
- Cầu nhiều dịp và chiều dài từ 80m đến 100m; nhưng tối thiểu có một dịp dài bằng hoặc hơn 16m;
- Cầu một dịp dài bằng hoặc hơn 30m.
b) Cầu hạng vừa:
- Cần nhiều dịp và chiều dài từ trên 30m đến dưới 100m;
- Cầu nhiều dịp chiều dài dưới 30m nhưng có một dịp dài trên 10m;
- Cầu một dịp dài từ trên 10m đến 30m
c) Cầu hạng nhỏ:
- Cầu nhiều dịp dài bằng hoặc dưới 30m, các dịp cầu đều dài bằng hoặc dưới 10m.
- Cầu một dịp dài bằng hoặc dưới 10m.
Điều 21. – Phân biệt cầu và cống như sau:
a) Cầu là những công trình có khẩu độ từ 3m trở lên, không có đất đắp lên trên, nếu có thì bề dày đất đắp kể
cả mặt đường không quá 0,50m.
Những công trình vòm mà khẩu độ trên 6m, dù lớn đất đắp lên trên dày hơn 0,50m cũng gọi là cầu.
b) Cống là những công trình có khẩu độ từ 3m trở xuống. Những công trình có khẩu độ từ 3m đến 6m mà
bề dày đất đắp kể cả mặt đường trên 0,50m cũng gọi là cống.
Điều 22. - Chiều dài của công trình là chiều dài đo theo mặt trên của công trình.
Tâm của công trình là chiều dài đo từ tim gối này qua tim gối kia của công trình.
Khẩu độ của công trình là khoảng trống từ mố này qua mố kia của công trình.
Điều 23. – Công tác sửa chữa thường xuyên các công trình cầu gồm có:
a) Giữ gìn sạch sẽ các bộ phận của công trình; thông cống, đóng đinh ván cầu; xiết bu lông; cho dầu mỡ.
b) Sửa chữa hoặc thay đổi một vài tấm ván mặt cầu, một vài lan can, tay vịn.
c) Sơn một vài bộ phận nhỏ như bu-lông, ri-vê.
d) Sửa chữa mặt cầu cho bằng phẳng, thoát nước.
e) Sửa chữa đường vào đầu cầu cho bằng phẳng với mặt cầu.
g) Sửa chữa hoặc thay thế các bộ phận cá biệt ngẫu nhiên hư hỏng, hoặc để đề phòng hư hỏng.
h) Thay một số đinh ri-vê, bu-lông hay các bộ phận khác không phức tạp.
i) Quét lại thuốc phòng mục các bộ phận bằng gỗ.
k) Sửa chữa mạch vữa ở tường cánh gà, mố và trụ cầu; sửa chữa những hư hỏng nhỏ các bộ phận bằng đá,
bằng bê-tông hoặc bê-tông cốt thép.
l) Thay một số ván mặt cầu, một số ván băng lăn, chắn bánh xe, lan can, tay vịn.
m) Thay lẻ tẻ các bộ phận khác của cầu không phức tạp.
n) Làm cống gỗ.
3. Bến phà, phà, ca-nô:
Điều 24. - Giới hạn thuộc phạm vi bến phà gồm có:
a) Đường ô-tô từ biển báo hiệu của bến bên này đến biển báo hiệu của bến bên kia.
b) Bờ sông trong phạm vi 100m về phía thượng lưu bến phà và 100m về phía hạ lưu bến phà.
Điều 25. – Công tác sửa chữa thường xuyên bến phà, phà, và ca-nô gồm có:
a) Về mùa khô:
- Sửa chữa nhỏ đường xuống phà;
- Thay thế một vài tấm ván phà, ca-nô;
- Sắm sửa, thay thế chèo, sào, giây cáp, giây neo, pu-li xích;
- Cạo rêu bám mạn phà, ca-nô (một tháng một lần), tưới nước cho gỗ được ẩm khỏi nứt nẻ và các mạch
xảm được kín.
Ở các bến phà chỉ dùng trong mùa mưa, thì mùa khô phải tìm chỗ nước sâu để dìm phà. Ở vùng có nước
mặn, nếu vì một lý do gì mà phà không dùng thì phải kích lên chỗ cao ráo, cạo hà, sơn lườn phà và ca-nô;
có mái che mưa nắng và phải trông nom thường xuyên.
b) Về mùa mưa:
- Thay đổi vị trí cọc, xích phà thích hợp với tình hình sông nước.
- Luôn luôn chú ý tát nước phà, ca-nô;
- Chuẩn bị chỗ dấu phà và ca-nô khi lụt bão;
- Thường xuyên kiểm tra cột căng dây cáp, cho dầu mỡ dây cáp và pu-li.
c) Đối với máy ca-nô:
- Hàng ngày: thường xuyên kiểm tra các bộ phận của máy, cho dầu, thử lái, tiếp điện;
- Sau 100 giờ máy chạy; thay dầu mỡ toàn bộ, thay dầu máy, bơm mỡ, xem lại nước bình điện và thêm
hoặc thay nếu cần. Kiểm tra và sửa chữa nhỏ các bộ phận bên ngoài;
- Sau 300 giờ máy chạy: xem lại bi-en, hạ bi-en nếu cần, xem lại hơi nén của máy;
- Sau 1000 giờ máy chạy: rà lại xu-páp, xiết lại ốc, kiểm tra máy, xem lại séc-măng, cạo ống hút hơi, nắn
trục bị cong, chân vịt vẹo.
4. Nhà cửa và thiết bị an toàn:
Điều 26. – Công tác sửa chữa thường xuyên nhà cửa và thiết bị an toàn gồm có:
a) Giữ gìn sạch sẽ nhà cửa của cán bộ công nhân ở, tu bổ vườn, bảo vệ cây trong vườn.
b) Về mùa mưa, lũ, bão, bảo vệ nhà cửa khỏi dột, sụp đổ.
c) Bảo vệ, chăm sóc thường xuyên cây trồng hai bên đường; thay cây chết; chăm sóc vườn hoa.
d) Trồng cây lại cột số, sơn, kẻ chữ lại và trồng lại biển báo hiệu; quét nước vôi các cọc tiêu, hàng rào an
ninh, tường chắn…
e) Bảo quản, tu sửa thường xuyên các dụng cụ, phương tiện vận chuyển, máy móc, thiết bị thường dùng
trong công tác hàng ngày, các dụng cụ tập thể, bàn ghế, giường tủ…
Chương 5:
CÔNG TÁC SỬA CHỮA VỪA
1. Mặt đường, nền đường:
Điều 27. – Công tác sửa chữa vừa mặt đường và nền đường gồm có:
a) Mặt đường:
- Rải mặt đường cấp phối, đá dăm theo lối xáo xới từng đoạn có thêm vật liệu mới từ 100 đến 250 lit/mét
đường.
b) Nền đường:
- Đắp phụ nền đường bị khuyết liệt, khối lượng đất đào đắp không quá 300m
3
/cây số;
- Sửa lại toàn bộ rãnh dọc và rãnh ngang; đào thêm rãnh thoát nước; sửa chữa rãnh thoát nước;
- Sửa chữa đường ngầm, xếp thêm đá, đóng thêm cọc, củng cố các cũi bằng gỗ bỏ đá hộc, xây lại kè bảo vệ
mép đường;
- Sửa chữa các chỗ nền đường bị hư hỏng nặng do mưa lũ hay một nguyên nhân nào khác; hốt đất trụt khối
lượng không quá 30m
3
.
2. Cầu, cống:
Điều 28. – Công tác sửa chữa vừa các công trình cầu cống gồm có:
a) Sửa chữa, thay thế một số rầm, cọc, nạnh chống, gỗ gối. Thay thế toàn bộ ván mặt cầu, băng lăn, lan can,
tay vịn.
b) Sửa chữa những chỗ nứt vỡ ở mặt cầu bê-tông, nối cốt thép mới để thay cốt thép bị han rỉ nhiều.
c) Thay thế một số bộ phận hư hỏng của cầu sắt.
d) Sơn phòng rỉ toàn bộ cầu sắt thép, hoặc toàn bộ các bộ phận sắt thép của các cầu khác.
e) Sửa chữa mố trụ bị nứt rạn.
g) Phòng mục lại toàn bộ cầu gỗ. Phòng hà các bộ phận bằng gỗ mà lúc làm mới chưa được phòng hà.
3. Bến phà, phà, ca-nô.
Điều 29. – Công tác sửa chữa vừa bến phà, phà, ca-nô gồm có:
a) Bến phà:
Sửa chữa, củng cố bến phà cũ, rải lại mặt đường xuống bến phà.
b) Phà, ca-nô:
Sửa chữa các bộ phận của phà, vỏ ca-nô, phòng hà phà và vỏ ca-nô, thui xãm thường kỳ phà và vỏ ca-nô
(bến nước ngọt: sáu tháng một lần; bến nước mặn: bốn tháng một lần; bến nước giao: ba tháng một lần).
Thay đáy phà, đáy ca-nô, mui ca-nô.
c) Máy ca- nô:
Sau 2500 giờ máy chạy, xét lại toàn bộ máy và nếu cần thì doa xi-lanh, thay toàn bộ séc-măng, thay pit-
tông, thay xu-páp, làm lại bi-en và pa-li-e. Thay các bộ phận hư hỏng thay trục, chân vịt, côn số…
4. Nhà cửa và các thiết bị an toàn.
Điều 30. – Công tác sửa chữa nhà cửa và các thiết bị an toàn gồm có:
a) Sửa chữa toàn bộ nóc nhà.
b) Sửa chữa tường ngăn cách các phòng.
c) Thay cửa chính và cửa sổ.
d) Làm lại hàng rào, giếng nước.
e) Làm thêm các thiết bị trong nhà (bàn, ghế, giường, tủ, v.v…)
g) Làm thêm nhà phụ thuộc (nhà bếp,nhà xí,nhà tắm )
h) Làm mới cột cây số, biển báo hiệu, các thiết bị an toàn khác.
Chương 6:
CÔNG TÁC SỮA CHỮA LỚN
1. Mặt đường, nền đường:
Điều 31. – Công tác sửa chữa lớn mặt đường gồm có:
a) Rải lại mặt đường cấp phối, đá dăm, đá ong có phụ thêm đá móng hoặc không phụ.
b) Cuốc đi rải lại mặt đường nhựa quá hư hỏng bằng đá dăm hoặc cấp phối.
c) Rải lại bằng đá dăm bùn lên mặt đường cấp phối hay đá dăm nước, hoặc rải lại bằng đá dăm nước trên
mặt đường, đá dăm bùn, tuỳ theo yêu cầu của mặt đường và nguyên vật liệu.
d) Láng nhựa mặt đường nhựa bạc đầu, rạn chân chim.
Điều 32. – Công tác sửa chữa lớn nền đường gồm có:
a) Đắp phụ nền đường bị khuyết liệt, mở rộng, tôn cao, nắn cong, hạ dốc (có kết hợp cải thiện tiêu chuẩn
cấp đường với những đoạn ngắn lẻ tẻ) khối lượng đất đào đắp không quá 500m
3
/cây số.
b) Xây dựng những công trình và thiết bị phòng đất trụt lở, phòng nước ngầm lầy lội.
c) Xây dựng kè bằng đá.
d) Hốt đất trụt hoặc những đoạn đường sắp trụt khối lượng trên 300m
3
/cây số.
e) Xây lại hoặc làm mới đường ngầm.
g) Xây dựng các công trình phụ thuộc để bảo vệ các công trình lớn để với kinh phí không quá mười nghìn
đồng 10.000đ.
2. Cầu, cống:
Điều 33. – Công tác sửa chữa lớn cầu, cống gồm có:
a) Sửa chữa và tăng cường cầu, cống hư hỏng trên cơ sở cũ, mở rộng và xây dựng các thiết bị bảo vệ nhằm
nâng cao tiêu chuẩn công trình.
Những công tác dưới đây cũng được coi như là công tác sửa chữa lớn cầu, cống:
b) Khôi phục cầu hạng trung trên cơ sở mố trụ cũ sẵn có, kinh phí không quá sáu mươi nghìn đồng
(60.000đ).
c) Làm mới cầu gỗ các loại;
d) Làm cầu bàn vĩnh cửu và vĩnh cửu khẩu độ từ 12m trở xuống, kinh phí không quá sáu mươi nghìn đồng
(60.000đ).
e) Làm mới các loại cống đúc, cống xây, cống tứ bất dụng, cống bê-tông và bê-tông cốt thép.
3. Bến phà, phà, ca-nô:
Điều 34. – Công tác sửa chữa lớn bến phà, phà, ca-nô gồm có:
a) Bến phà:
- Xây dựng lại bến phà cũ, xây thêm, sửa chữa và mở rộng để cải thiện bến phà với kinh phí từ năm mươi
nghìn đồng (50.000đ) trở xuống. Hốt bùn, cát bồi lấp bến phà.
b) Phà và ca- nô:
Đóng lại phà và vỏ ca-nô bằng gỗ (tháo phà và ca-nô cũ đã qua sửa chữa vừa, sử dụng vật liệu cũ còn tốt và
thêm vật liệu mới để đóng lại).
c) Máy ca- nô:
Sau 5.000 giờ máy chạy: thay và sửa chữa lớn các bộ phận của máy, kể cả tay lái và chân vịt.
4. Nhà cửa:
Điều 35. – Công tác sửa chữa lớn nhà cửa gồm có:
a) Sửa chữa toàn bộ nhà ở của các Cung, Hạt, Đoạn, bến phà, có mở rộng và làm thêm nhà phụ thuộc, nhà
bếp, nhà tắm, nhà xí.
b) Làm nhà ở cho cán bộ công nhân Đoạn, Hạt, Cung, bến phà, kinh phí không quá mười nghìn đồng
(10.000đ)
PHẦN 3:
KỸ THUẬT CÔNG TÁC SỮA CHỮA
Chương 7:
NỀN ĐƯỜNG, MẶT ĐƯỜNG
A. NỀN ĐƯỜNG
Điều 36. - Nền đường là bộ phận chủ yếu của đường, mặt đường đẹp hay xấu là do nền đường có vững
chắc hay không; nền đường vững chắc hay không là do xây dựng, chăm nom và sửa chữa thiết bị thoát
nước tốt hay xấu quyết định một phần lớn. Do đó công tác sửa chữa rãnh thoát nước là làm thế nào để duy
trì trạng thái tốt đẹp của nó để nước chạy được thông. Trước mùa mưa, phải sửa sang các thiết bị thoát
nước được hoàn bị, và sau mỗi trận mưa thì cần dọn sạch những chỗ đọng bùn, rác rưởi ảnh hưởng đến sự
thoát nước.
Công nhân sửa chữa đường cần phải tuần tra và xem xét để khai thông các thiết bị thoát nước kịp thời (rãnh
thoát nước dọc theo đường, rãnh xương cá ngang lề đường rãnh đỉnh trên ta -luy, cống ngầm…)
Khi dọn rãnh thoát nước thì nên dọn từ cửa nước chạy ra rồi dần dần lên phía trên, và phải dọn các rãnh cho
đúng hình cắt ngang cũ và độ dốc cũ. Nếu cần thì tăng hay giảm độ dốc (tăng độ dốc là để nước thoát mau
chóng, giảm độ dốc là để giảm bớt tốc độ nước chạy xói lòng rãnh có thể làm trụt ta-luy rãnh).
Điều 37. - Lề đường cần phải bằng phẳng và vững chắc, có độ dốc ra rãnh thoát nước từ 4 – 5%. Mặt lề
đường tiếp giáp với mặt đường cần phải bằng phẳng để không cản trở việc thoát nước ở mặt đường xuống
rãnh.
Điều 38. - Lề đường phải được san cho bằng phẳng khi có vệt bánh xe, dấu chân súc vật đi lại. Đất dùng để
đắp lề đường phải là đất tốt và chắc, hoặc loại đất giống như chất đất của lề đường. Đất đắp phải làm từng
lớp dày 15-20cm đầm, nền kỹ. Nếu đất khô thì nên tưới nước để đầm cho dễ. Ở những đoạn đường mà lề
đường thường bị xe cộ tránh nhau làm hỏng thành vệt hoặc bị người và súc vật đi lại làm trụt lở thì lề
đường cần phải được chăm nom và sửa chữa thật chắc; trên lề đường rải cấp phối dày độ 5cm.
Điều 39. – Ta-luy đường đào không được để trụt lở. Khi thấy ta-luy đường đào bị hư hỏng hoặc trụt lở cần
tìm nguyên nhân xem là do đất xấu, hay đào chưa đúng độ thoải hoặc là bị nước ngầm xuyên qua ta-luy.
Phương pháp sửa chữa là đào ta-luy thêm độ thoải, xây kè, lát đá mái ta-luy, trồng cỏ, làm công trình dẫn
nước ngầm đi lối khác, xây rãnh ngầm…
Điều 40. – Ta-luy đường đắp bị hư hỏng, nguyên nhân chính do đất thấp, đầm, nện không kỹ cho nên bị lún
và trụt lở ta-luy, dốc đứng quá, chất đất đắp xấu. Phương pháp sửa chữa là đắp mái ta-luy, trồng cỏ, lát đá
mái ta- luy, xây kè chân ta-luy…
Điều 41. - Ở những đoạn đường cong cần chú ý phát cây cối hai bên đường để bảo đảm tầm nhìn đã quy
định. Ở trên đỉnh ta-luy cần chặt những cây ở sát mép ta-luy đề phòng cây đổ làm trụt ta-luy, cản trở giao
thông hoặc gây ra tai nạn.
Điều 42. – Thùng đấu lấy đất sửa chữa đường không được đào sâu quá 1m và mép thùng đấu phía chân ta-
luy phải cách xa chân ta-luy tối thiểu bằng năm lần bề sâu thùng đấu.
B. MẶT ĐƯỜNG
1. Mặt đường đất:
Điều 43. – Đường đất là loại đường chưa ổn định; thời tiết thay đổi rất ảnh hưởng đến tình hình xấu tốt của
mặt đường. Vì tính chất chưa ổn định, cho nên việc thoát nước đối với đường đất rất quan trọng. Luôn luôn
phải giữ gìn rãnh thoát nước được sạch sẽ, không bị cỏ lấp, bùn đọng; các cống ngầm được thông suốt.
Điều 44. – Mặt đường luôn luôn phải được sửa chữa cho bằng phẳng. Độ nghiêng mui luyện của mặt
đường từ 3 – 4%. Lề đường phải có độ nghiêng 4 – 5%. Mặt đường và lề đường luôn luôn phải được giữ
gìn không hư hỏng và nện chặt.
Điều 45. – Công tác chăm nom sửa chữa mặt đường đất qua các mùa:
a) Sau mùa mưa, đường đất thường thường có nhiều ổ gà và vệt lăn bánh xe do trong mùa mưa mặt đường
ẩm ướt mà bị tổn hại. Đến lúc mặt đường khô ráo những vệt lăn bánh xe và ổ gà làm cho mặt đường rất
xấu, xe chạy khó khăn.
Phương pháp sửa chữa là dùng đất tại chỗ mà lấp các ổ gà, rồi dùng xẻng mà cạo mặt đường cho bằng
phẳng, làm mất hết các chỗ lồi lõm: Nếu có máy san thì dùng mà san mặt đường cho bằng phẳng.
b) Trong mùa nắng to, đất quá khô, xe chạy cạo đất mặt đường thành bụi làm hư hại mặt đường, do đó cần
phải tưới nước rồi dùng trục lăn mà nén, nếu có trục máy càng tốt.
Điều 46. – Trước mùa mưa, cần chú trọng sửa chữa các thiết bị thoát nước (rãnh xương cá, rãnh thoát nước
dọc lề đường, cống ngầm ).
Chuẩn bị vật liệu để chống đường trơn và chống lầy cho mùa mưa sắp tới.
Điều 47. – Trong mùa mưa, cần luôn luôn giữ mặt đường khỏi nước ứ đọng. Trong những ngày tạnh ráo,
tranh thủ cạo mặt đường cho bằng phẳng. Nếu có hiện tượng trơn trượt làm cho xe khó chạy, thì phải dùng
cát hay sỏi rải lên mặt đường.
Điều 48. – Nếu mặt đường sinh ra lầy lội nghiêm trọng thì phải chống lầy. Trước khi chống lầy phải tìm
nguyên nhân lầy lội sinh ra do xây dựng hay do chăm nom sửa chữa.
Muốn sửa chữa những đoạn lầy lội nghiêm trọng, cần phải điều tra nghiên cứu kỹ tình hình thiên nhiên và
quá trình những biến đổi của lầy lội để định ra biện pháp cụ thể.
Điều 49. – Nguyên nhân lầy lội và tình trạng lầy lội được xác định như sau:
a) Nguyên nhân lầy lội về mặt xây dựng là do thiết kế và thi công không đúng kỹ thuật, cụ thể là:
- Sự cấu tạo của mặt đường và nền đường không thích ứng với nhu cầu lưu lượng và sức nặng của xe cộ;
- Dùng những vật liệu không tốt để làm mặt đường.
- Không xây dựng đầy đủ thiết bị thoát nước;
- Ở những vùng đồng bằng thoát nước khó khăn, mức nước lụt cao nhưng bề cao nền đường không đủ.
b) Nguyên nhân lầy lội về mặt chăm nom sửa chữa là do không chu đáo, không theo đúng quy tắc, cụ thể
là:
- Cỏ mọc đầy rãnh làm cho nước ứ tắc; ta-luy đổ trụt, rãnh ngầm không thông mặt đường, lề đường gồ ghề
không bằng phẳng, không có độ nghiêng làm cho nước không thoát được, mặt đường ẩm ướt;
- Trâu kéo gỗ dọc theo đường; xe quẹt, xe bò, xe ngựa vành bánh sắt nhỏ bản, máy kéo bánh xích đi trên
đường, cây mọc hai bên đường quá rậm rạp che kín mặt đường làm cho mặt đường trời mưa ẩm ướt, trời
nắng lâu khô;
- Không chú trọng đến các đoạn đường lầy lội để chuẩn bị vật liệu cần thiết cho việc chống lầy kịp thời.
Điều 50. – Phương pháp để phòng và chống lầy lội:
a) Ở những đoạn đường mà độ dốc tương đối nhỏ (1-2%) hoặc những đoạn đường nhiều dốc thì cứ cách
50m phải có một rãnh thoát nước từ rãnh dọc ra ngoài.
b) Mặt đường khi nào cũng phải bằng phẳng có mui luyện cần thiết từ 3 đến 4% để việc thoát nước được dễ
dàng; trên mặt đường không có nước ứ đọng.
c) Mỗi khi xe chạy gây thành những vệt sâu theo lằn bánh xe thì cần phải san phẳng và sửa chữa bằng cách
gia cố thêm số lượng vật liệu, hay gia cố với vật liệu tốt hơn.
d) Trên những đoạn đường lầy lội nghiêm trọng chưa có thể sửa chữa hay ổn định ngay được thì có thể
dùng mấy phương pháp sau đây:
- Vét hết bùn, cho cát xuống đầm nện kỹ; làm rảnh xương cá thoát nước (dùng cát to hạt không pha đất);
- Vét hết bùn, xây đá hộc cỡ 15 x 20cm, đổ sỏi sạn hay đá dăm, chèn các lỗ, kẽ;
- Làm cầu cạn rồi đổ lên trên một lớp cát hay sỏi.
Điều 51. – Gia cố mặt đường đất:
a) Qua các mùa tuy có phương pháp sửa chữa thường xuyên nhưng cũng khó bảo đảm cho xe chạy thuận
lợi, cho nên đối với loại đường đất cần cải thiện hoặc làm vững chắc bằng cách gia cố với vật liệu sẵn có tại
chỗ;
- Mặt đường là đất sét, đến mùa mưa, ẩm ướt trơn lầy, thì nên dùng cát to hạt, đá cuội, sạn, sỏi, gạch ngói
vụn, xỉ lò cao, đất sét nung.
- Ở những đoạn đường đất cát đến mùa nắng sinh bụi thì dùng đất sét nhão mà gia cố;
b) Bề dày gia cố, tuỳ theo chất đất xấu tốt của đường và lưu lượng xe cộ mà quyết định.
- Nếu lượng xe chạy tương đối nhiều trên những đoạn đường đất đắp thì bề dày có thể là 20cm.
- Nếu lượng xe chạy ít và ở những đoạn đất đào thì bề dày độ 15cm;
- Trong mọi trường hợp, bề dày gia cố tối thiểu phải là 10cm.
2. Mặt đường cấp phối;
Điều 52. – Mặt đường cấp phối về mùa khô ráo, chất dính vỡ ra thành bột, các nguyên liệu (sỏi, sạn) rời
rạc, xe chạy làm bỏng mặt đường. Về mùa mưa lụt, chất dính bị thấm nhiều nước thành nhão, xe chạy làm
cho mặt đường bị lún, sinh ổ gà.
Do đó, mặt đường cấp phối phải được giữ gìn với độ ẩm thích hợp. Mùa khô cần phải tưới nước; mùa mưa
phải làm cho thoát nước để mặt đường được khô ráo; và trong cả hai mùa cần rải lớp bảo vệ dày từ 5 đến
8mm với sỏi nhỏ hạt từ 2 đến 5mm. Cần chú ý luôn luôn quét vào lòng đường lớp sỏi bảo vệ bị xe chạy làm
văng ra rìa đường.
Điều 53. - Ổ gà phát sinh nhiều trên mặt đường cấp phối. Muốn vá ổ gà, trước tiên dọn sạch những tạp vật
ở trong ổ gà và vét đất đá bong ra xung quanh ổ gà. Đào các ổ gà theo hình góc, đào sâu hơn bề sâu ổ gà
2cm sắc cạnh đứng thành; tưới nước cho ẩm đáy ổ gà. Trộn cấp phối bằng vật liệu và theo tỷ lệ cấp phối
của mặt đường rồi đắp vào và đầm nện kỹ. Ổ gà sâu từ 8cm trở xuống thì vá cấp phối một lớp; nếu ổ gà sâu
quá 8cm thì vá hai lớp, lớp trên bằng 1/3 lớp dưới.
Điều 54. – Nếu trên một đoạn đường có nhiều hố, hoặc cấp phối bong ra vung vãi thì phải sửa chữa toàn bộ
mặt đường theo hai phương pháp sau đây:
a) Nếu bề dầy cấp phối còn thích hợp, thì không cần thêm vật liệu.
Quét sạch tất cả các tạp vật trên đường.
Xới mặt đường, thêm chất dính, trộn đều, san bằng có mui luyện 3 – 4%.
- Tưới nước và dầm nện, nếu có trục nặng 5T mà lên thì tốt;
- Rải lớp bảo vệ dày từ 5 đến 8mm với sỏi hạt nhỏ từ 2 đến 5mm.
b) Nếu bề dày cấp phối không còn thích hợp, thì cần phải thêm vật liệu:
- Chuẩn bị vật liệu để vá ổ gà và để rải lớp dầy thêm;
- Vá các ổ gà;
- Quét sạch các tạp vật trên mặt đường;
- Rải lớp dày thêm độ 3 đến 6cm;
- Rải lớp bảo vệ.
3. Mặt đường đá dăm:
Điều 55. – Mặt đường đá dăm sau khi mới làm xong, chưa được ổn định. Cho nên công trường rải đá dăm
sau khi làm xong, phải tiếp tục chăm nom thêm một tháng bằng cách hàng ngày tưới nước và rải lớp bảo
vệ. Sau đó mới giao lại cho công nhân sửa chữa đường.
Điều 56. - Để bảo vệ mặt đường đá dăm thường hay bị bong đá, dần dần sinh ra ổ gà, mặt đường luôn luôn
phải được giữ gìn sạch sẽ và rải một lớp bảo vệ dày từ 5 đến 8mm có hạt từ 2 đến 5mm. Có thể tận dụng
nguyên vật liệu sẵn có tại chộ như cát, sỏi, sạn, đá mạt, biên hoà, đá sít già…
Điều 57. – Mặt đường đá dăm có ổ gà sửa chữa theo những phương pháp sau đây:
- Bới sạch những đất đá nằm lỏng chỏng trong lòng ổ gà, những hòn đá to thì đập thành đá nhỏ độ 2cm;
- Đào vuông cạnh đứng thành; đào sâu hơn bề sâu ổ gà tối thiểu là 2cm và bề sâu tối thiểu của ổ gà sau khi
đã đào thêm phải là 8-10cm, lúc đào phải để lại ở đáy ổ gà một lớp đá cũ;
- Đắp đá mới cỡ 3 – 4cm cho đầy ổ gà, tưới nước và đầm nện thật chặt;
- Dùng đá nhỏ cỡ 2cm (đá cũ đã đập sẵn nói trên chèn cho các kẽ hở cho chắc chắn);
- Rải và quét chất dính vào đầy các kẽ hở của đá, tưới nước và đầm nện, làm độ ba bận cho chất dính lấp
đầy các kẽ;
- Rải lên trên cùng một lớp cát to hạt, đầy độ 5 – 8mm và đầm lại.
Điều 58. - Nếu mặt đường có nhiều ổ gà gần nhau thì nên kết hợp hai, ba ổ gà làm một mà vá, như vậy chắc
chắn hơn và xe chạy đỡ xóc hơn.
Điều 59. - Nếu ổ gà sâu đến đất nền đường thì cũng phải đào sạch như vá ổ gà thường. Đầm nện đất đáy
cho chắc chắn rồi mới vá ổ gà bằng đá dăm. Nếu thấy đất nền đường xấu thì phải lát đá mỏng cỡ 10 – 15cm
rồi mới vá bằng đá dăm.
Điều 60. – Vá ổ gà thì nên dùng đá cùng một loại với đá cũ của mặt đường. Đá thường dùng có ba loại:
- Đá hoa cương,
- Đá cối xay,
- Đá vôi.
Loại đá vôi thích hợp và phổ biến hơn cả.
Điều 61. - Nếu mặt đường đá dăm đã có nhiều ổ gà hoặc đã bị bong nhiều thì phải tiến hành sửa chữa lại
toàn bộ mặt đường bằng cách xào xới (thêm vật liệu từ 100 lít đến 250 lít/mét dài).
Phương pháp rải xáo xới như sau:
a) Trường hợp mặt đường có nhiều ổ gà sâu:
- Cuốc toàn bộ mặt đường lên, nhưng phải để lại một lớp đá cũ dày 3 – 7cm;
- Vá các ổ gà;
- San đá cũ cho đều, có mui luyện;
- Rải đá mới lên trên, san đều, có mui luyện;
- Tiến hành lu lèn theo quy phạm rải đá dăm.
b) Trường hợp mặt đường bong đá, ổ gà cạn:
- Cuốc toàn bộ mặt đường, nhưng phải để lại một lớp đá cũ dày độ 3 – 7cm;
- San đá cũ cho đều, có mui luyện;
- Rải đá mới lên trên, san đều, có mui luyện.
- Tiến hành lu lèn theo quy phạm rải đá dăm.
Điều 62. - Nếu mặt đường đá dăm đã mòn đến mức độ không bảo đảm lưu lượng và sức nặng của xe chạy
trên đường, thì phải thiết kế mặt đường để rải lại một lớp mới lên trên mặt đường cũ. Vật liệu rải mới
không dưới 350 lít/mét dài đối với mặt đường rộng 3,50m và không dưới 550 lít/mét dài đối với mặt đường
rộng 5,50m.
Phương pháp tiến hành công tác như sau:
- Vá ổ gà nếu có;
- Sửa chữa mặt đường cũ cho có mui luyện cần thiết, bằng cách đào chân khay hai mét đường đứng thành,
bề sâu bằng bề dầy lớp đá sắp rải, gọt mui luyện;
- Cuốc từng rãnh ngang trên mặt đường cũ, cứ cách 0,50m một rãnh, mục đích là để cho lớp đá mới gắn
liền với mặt đá cũ;
- Tiến hành rải lớp đá mới theo quy phạm rải mặt đường đá dăm.
4. Mặt đường đá ong:
Điều 63. – Mặt đường đá ong về mùa nắng sinh nhiều bụi, cho nên cần chú ý thường xuyên tưới nước.
Về mùa mưa mặt đường có thể trơn lầy cần bảo đảm mui luyện để thoát nước dễ dàng, giữ mặt đường được
khô ráo.
Điều 64. - Lề đường phải bằng phẳng, có độ nghiêng 4 – 5% không cản trở nước ở mặt đường chạy ra
mương dọc. Hệ thống thoát nước như mương dọc, rãnh ngang, rãnh ngầm luôn luôn phải được thông suốt,
không để nước ứ đọng.
Điều 65. – Khi thấy hai vết bánh xe mòn sâu thì rải lên trên một lớp đá ong đồng loại với đá ong của mặt
đường, san đều và lợi dụng sức nặng của xe cộ qua lại để lèn chặt, mà không cần phải đầm nện. Trước khi
rải lớp sỏi ong mới, cần tưới nước mặt đường cũ cho ẩm để bảo đảm sự dính kết tốt giữa vật liệu cũ và
mới.
Điều 66. – Vá ổ gà trên mặt đường đá ong tiến hành như sau:
- Quét dọn hết tạp vật và sỏi ong rời rạc trong ổ gà;
- Đào vuông cạnh đứng thành, sâu hơn bề sâu của ổ gà 2cm; và bề sâu tối thiểu của ổ gà sau khi đã được
đào thêm phải là 5cm.
Dùng sỏi ong cùng một loại với sỏi ong của mặt đường cho vào ổ gà, tưới nước, đầm nện thật kỹ.
Điều 67. – Nếu mặt đường đá ong đã mòn nhiều không bảo đảm lưu lượng và sức nặng xe chạy, thì phải
thiết kế lại mặt đường để rải lại một lớp mới lên trên mặt đường cũ.
Phương pháp tiến hành rải lớp mới như sau:
- Vá ổ gà nếu có.
- Cuốc chân khay mép đường bề sâu bằng bề dày lớp mới định rải.
- Gọt mui luyện 3 – 4%.
- Tưới nước cho ẩm mặt đường cũ, rải vật liệu mới, san đều, có mui luyện, tưới nước và dùng lu 5T lèn đến
độ 3T5 m3/cây số.
5. Mặt đường nhựa.
Điều 68. – Mùa nắng nhiệt độ trên mặt đường nhựa lên đến 50 - 65
0
C, mà thường thường nhiệt độ mềm
của nhựa rải đường thấp hơn nhiệt độ trên mặt đường cho nên nhựa chảy ra, xe chạy qua, nhựa dính vào
bánh xe bị kéo lên từng lớp, làm hỏng mặt đường.
Để đề phòng hư hỏng mặt đường nhựa lúc trời nắng, cần dự trữ hai bên đường sỏi cỡ 5 – 15mm hoặc đá
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét