Thiết Kế Hệ Thống Xử Lý Nước Cấp Phục Vụ Cụm Dân Cư Khu Đô Thị Đại Phú
Nước là một nhu cầu thiết yếu đối với mọi sinh vật trên trái đất .Không có
nước cuộc sống trên trái đất không thể tồn tại. Nhu cầu dùng nước của con người là
từ 100-150 l/ngày đêm cho các hoạt động bình thường chưa kể đến hoạt động sản
xuất .
Nước cấp cho nhu cầu ăn uống, vệ sinh và các hoạt động giải trí, các hoạt động
như cứu hoả, phun nước, tưới cây, rửa đường… và mọi ngành công nghiệp hầu như
sử dụng nguồn nước cấp như là một nguồn nguyên liệu không thể thay thế được
trong sản xuất.
Hiện nay tổ chức liên hiệp quốc đã thống kê có một phần ba dân số trên thế
giới thiếu nước sạch sinh hoạt, khi đó người dân phải sử dụng các nguồn nước không
sạch . Điều này này dẫn tới hàng năm có tới 500 triệu người mắc bệnh và một triệu
người ( chủ yếu là trẻ em ) bị chết, 80% các trường hợp mắc bệnh tại các nước đang
phát triển có nguyên nhân từ việc sử dụng nguồn nước không hợp vệ sinh.
Việc cung cấp nước sạch , chống ô nhiễm nguồn nước do tác động của nước
thải sinh hoạt và sản xuất đang là vấn đề quan tâm đặc biệt. Mỗi quốc gia đều có
những tiêu chuẩn riêng về chất lượng nước cấp, trong đó các chỉ tiêu có thể sai khác
nhau nhưng nhìn chung phải đảm bảo an toàn vệ sinh về một số vi trùng trong nước,
không có chất độc hại làm ảnh hưởng tới sức khoẻ con ngườ, các chỉ tiêu về độ pH,
nồng độ oxy hoà tan, độ đục, hàm lượng kim loại hoà tan, độ cứng, mùi vị Ngoài ra
nước cấp cho công nghiệp bên cạnh các chỉ tiêu chung về chất lượng nước cấp còn
tuỳ thuộc vào từng mục đích sử dụng mà đặt ra những yêu cầu riêng.
Các nguồn nước trong thiên nhiên ít khi đảm bảo các tiêu chuẩn yêu cầu, do
tính chất có sẵn của nguồn nước hay bị ô nhiễm. Do vậy, tuỳ thuộc vào chất lượng
nguồn nước và chất lượng về nước cấp mà cần thiết phải có quá trình xử lý nước
thích hợp đảm bảo cung cấp nước có chất lượng theo yêu cầu đặt ra.
2.3 TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG NƯỚC
Để cung cấp nước sạch có thể khai thác từ nguồn nước thiên nhiên là nước
mặt, nước ngầm và nước biển…
GVHD: Th.s Võ Hồng Thi 5 SVTH: Nguyễn Minh Vương
Thiết Kế Hệ Thống Xử Lý Nước Cấp Phục Vụ Cụm Dân Cư Khu Đô Thị Đại Phú
Việc chọn nguồn nước phải dựa trên cơ sở kinh tế kĩ thuật của các phương án
nhưng cần lưu ý:
Nguồn nước phải có lưu lượng trung bình hàng năm theo tần suất yêu cầu của
đối tượng tiêu thụ. Trữ lượng nguồn nước phải đảm bảo khai thác nhiều năm.
Chất lượng nước đáp ứng nhu cầu TCXD-33-68, ưu tiên chọn nguồn nước dễ
xử lý và ít dùng hoá chất.
Ưu tiên chọn nguồn nước gần nới tiêu thụ có sẵn thế năng để tiết kiệm năng
lượng, có địa chất công trình phù hợp với yêu cầu xây dựng, có điều kiện bảo
vệ nguồn nước.
Cần ưu tiên chọn nguồn nước ngầm nếu lưu lựợng đáp ứng nhu cầu sủ dụng vì
nước ngầm kinh tế trong khai thác và có nhiều ưu điểm khác.
2.3.1 Thành phần và chất lượng nước mặt
Thành phần và chất lượng nước bề mặt chịu nhiều ảnh hưởng của yếu tố tự
nhiên, nguồn gốc xuất xứ, các điều kiện môi trường xung quanh và các tác động của
con người khi khai thác và sử dũng nguồn nước. Thông thường nước bề mặt chứa các
thành phần sau:
Chứa khí hoà tan, đặc biệt là khí oxy.
Chứa nhiều chất lơ lửng. Riêng trường hợp nước chứa trong hồ, chất rắn lơ
lửng còn lại thấp và chủ yếu ở dạng keo.
Có hàm lượng chất lơ lửng cao, có sự hiện diện của nhiều tảo.
Các chất hòa tan dưới dạng ion và phân tử, có nguồn gốc hữu cơ và vô cơ.
Thành phần các chất gây nhiễm bẩn nước bề mặt được đưa ra trong bảng:
Bảng 2.1: thành phần các chất gây nhiễm bẩn nước
Chất rắn lơ lửng
d > 10
-4
mm
Các chất keo
d =10
-4
-10
-6
mm
Các chất hòa tan
d < 10
-6
mm
Đất sét
Cát
Đất sét
Protein
Các ion K
+
, Na
+
, Mg
2+,
Cl
-
,
So
4
2_
, Po
4
3_
.
GVHD: Th.s Võ Hồng Thi 6 SVTH: Nguyễn Minh Vương
Thiết Kế Hệ Thống Xử Lý Nước Cấp Phục Vụ Cụm Dân Cư Khu Đô Thị Đại Phú
Keo Fe(OH)
3
Chất thải hữu cơ, vi sinh vật
Tảo
Silicat SiO
2
Chất thải sinh hoạt hữu cơ
Cao phân tử hữu cơ
Vi khuẩn
CH
4
, H
2
S,…
Các chất hữu cơ
Các chất mùn
Nước mặt là nguồn nước tự nhiên gần gũi với con người nhất .Chính vì vậy mà
nước mặt cũng là nước dễ ô nhiễm nhất. Ngày càng hiếm có nguồn nước mặt nào đáp
ứng được chất lượng tối thiểu cho nhu cầu sinh hoạt và công nghiệp mà không cần xử
lí trước khi đưa vào sử dụng, do hàm lượng cao của các chất có hại cho sức khoẻ và
có nhiều vi sinh vật gây bệnh cho con người.
Nguồn chủ yếu của nước bề mặt là nước sông. Chất lượng nước sông phụ
thuộc vào các yếu tố xung quanh như mức độ phát triển công nghiệp, mật độ dân số
trong khu vực, hiệu quả của công tác quản lý các dòng thải vào sông. Ngoài ra chất
lượng nước sông còn phụ thuộc vào điều kiện thuỷ văn, tốc độ dòng chảy, thời gian
lưu và thời tiết trong khu vực. Nơi có mật độ dân số cao, công nghiệp phát triển mà
công tác quản lí của các dòng thải công nghiệp, dòng thải nước sinh hoạt không được
chú trọng thì nước sông thường bị ô nhiễm bởi các hoá chất độc hại, các chất hữu cơ
ô nhiễm… nơi có lượng mưa nhiều, điều kiện xói mòn, phong hoá dễ dàng thì nước
sông thường bị ô nhiễm bởi các chất khoáng hoà tan, độ đục cao do các chất huyền
phù và các chất rắn, chất mùn có trong nguồn nước. Ngày nay, hiếm thấy có nguồn
nước sông nào đạt được chất lượng cho tiêu chuẩn nước cấp mà không cần xử lý.
Nghiên cứu thành phần và chất lượng nước mặt, tổ chức y tế thế giới đưa ra
cách phân loại sau về các loại nhiễm nước bẩn:
Nước nhiễm bẩn do vi trùng, virus và các chất hữu cơ gây bệnh.
Nguồn nhiễm bẩn do các chất hữu cơ phân huỷ từ động thực vật và các chất
thải công nghiệp.
Nguồn nhiễm bẩn do các chất thải công nghiệp, các chất thải rắn có chứa các
chất độc hại của các cơ sở công nghiệp như: phenol, cianua, crom, cadium,
chì, kẽm…
Nguồn ô nhiễm dầu mỏ và các sản phẩm từ dầu mỏ trong quá trình khai thác,
sản xuất, chế biến, và vận chuyển làm ô nhiễm mạnh nguồn nước mặt và gây
trở ngại lớn cho công trình xử lý nước bề mặt.
GVHD: Th.s Võ Hồng Thi 7 SVTH: Nguyễn Minh Vương
Thiết Kế Hệ Thống Xử Lý Nước Cấp Phục Vụ Cụm Dân Cư Khu Đô Thị Đại Phú
Nguồn ô nhiễm do các chất tẩy rửa trong sinh hoạt và trong công nghiệp.
Các chất phóng xạ từ các cơ sở sản xuất và sử dụng phóng xạ như các nhà
máy phóng xạ ,các bệnh viện, các cơ sở nghiên cứu và công nghiệp.
Các hoá chất bảo vệ thực vật cùng với ưu điểm là dung để phòng chống sâu
bọ, côn trùng, nấm… giúp ích cho nông nghiệp, nó còn mang lại tác hại là gây
ô nhiễm cho nguồn nước nhất là khi chúng ko đc sử dụng đúng mức.
Các hoá chất hữu cơ tổng hợp được sử dụng rộng rãi cho các ngành công
nghiệp như chất dẻo, dược phẩm, vải sợi . . .
Các hoá chất vô cơ nhất là các hoá chất dùng làm phân bón trong nông nghiệp
như các hợp chất photphat, nitrat…
Một nguồn nước thải đáng kể từ các nhà máy nhiệt điện tuy không gây ô
nhiễm trầm trọng nhưng cũng làm giảm chất lượng nước bề mặt với nhiệt độ
quá cao của nó.
Tóm lại, ngoài các yếu tố địa hình , thời tiết là những yếu tố khách quan gây ảnh
hưởng đến chất lượng nước bề mặt chúng ta cần xét đến những yếu tố khác chủ quan
hơn đó là các tác động của con người trực tiếp hay gián tiếp vào quá trình gây ô
nhiễm môi trường nước bề mặt.
2.3.2 Các nguồn nước ngầm
Nước ngầm ít chịu tác động của con người hơn so với nước mặt. Nước ngầm
thường có chất lượng tốt hơn. Trong nước ngầm hầu như không có các hạt keo hay
các hạt cặn lơ lửng, các chỉ tiêu vi sinh cũng tốt hơn chỉ tiêu vi sinh của nước mặt,
ngoài ra nước ngầm không chứa rong, tảo là những thứ dể gây ô nhiễm nguồn nước.
Thành phần đáng quan tâm trong nước ngầm là sự có mặt các chất hòa tan do ảnh
hưởng của điều kiện địa tầng, các quá trình phong hóa và sinh hóa trong khu vực.
những vùng có điều kiện phong hóa tốt, có nhiều chất thải bẩn và lượng mưa lớn thì
nước ngầm dễ ô nhiễm bởi các khoáng chất hòa tan, các chất hữu cơ.
Bản chất địa chất có ảnh hưởng lớn đến thành phần hóa học của nước ngầm.
nước luôn tiếp xúc với đất trong trang thái bị giữ lại hay lưu thông trong đất. Nó tạo
nên sự cân bằng giữ đất và nước. Nước chảy dưới lớp đất cát hay granit là: axit và
muối khoáng. Nước chảy trong đất chứa canxi là: hydrocacbonat canxi.
GVHD: Th.s Võ Hồng Thi 8 SVTH: Nguyễn Minh Vương
Thiết Kế Hệ Thống Xử Lý Nước Cấp Phục Vụ Cụm Dân Cư Khu Đô Thị Đại Phú
Tại những khu vực được bảo vệ tốt, ít có nguồn thải gây bẩn, nước ngầm nói
chung được đảm bảo về mặt vệ sinh và có chất lượng khá ổn định. Người ta chia
nước ngầm làm hai loại khác nhau
Nước ngầm hiếu khí (có oxy):
Thông thường nước ngầm có oxy có chất lượng tốt, có trường hợp không cần
xử lý mà có thể trực tiếp cho người tiêu thụ. Trong nước có oxy sẽ không có các chất
khử như: H
2
S, CH
4
, NH
4
…
Nước ngầm yếm khí (không có oxy):
Trong quá trình nước thấm qua các tầng đá, oxy bị tiêu thụ. Khi oxy hòa tan bị
tiêu thụ hết, các chất hòa tan như: SO
4
2-
chuyển thành H
2
S; CO
2
chuyển thành CH
4
cũng xảy ra.
Nước ngầm có thể chứa Ca
2+
với nồng độ cao, ion Mg
2+,
sự có mặt của chúng
tạo nên độ cứng của nước. Ngoài ra còn chứa các ion như Na
+
, Fe
2+
, Mn
2+
, NH
4
+
,
HCO
3
-
, SO
4
2-
, Cl
-
.
Đặc tính chung về thành phần, tính chất của nước ngầm là nước có độ đục
thấp, nhiệt độ và các thành phần hóa học ít thay đổi, nước không có oxy hóa trong
môi trường khép kín là chủ yếu, thành phần của nước có thể thay đổi đột ngột với sự
thay đổi độ đục và ô nhiễm khác nhau. Những thay đổi này liên quan đến sự thay đổi
lưu lượng của lớp nước sinh ra do nước mưa.
Bảng sau trình bày một số thành phần có trong nước mặt, nước ngầm và
những điểm khác nhau của hai nguồn nước này.
Bảng 2.2 : sự khác nhau chủ yếu giữa nước mặt và nước ngầm
Đặc tính Nước mặt Nước ngầm
Nhiệt độ Thay đổi theo mùa Tương đối ổn định
Độ đục Thường cao và thay đổi theo
mùa
Thấp hay hầu như không có
Chất khoáng hòa tan Thay đổi theo chất lượng
đất, lượng mưa
Fe và Mn hóa trị II (ở trạng Rất thấp, thường ở dưới đáy Ít thay đổi, cao hơn nước mặt
GVHD: Th.s Võ Hồng Thi 9 SVTH: Nguyễn Minh Vương
Thiết Kế Hệ Thống Xử Lý Nước Cấp Phục Vụ Cụm Dân Cư Khu Đô Thị Đại Phú
thái hòa tan) hồ ở cùng một vùng
Khí CO
2
hòa tan Thường rất thấp hay gần
bằng không
Thường xuyên có
NH
4
+
Thường gần bảo hòa Thường xuất hiện ở nồng độ
cao
SiO
2
Xuất hiện có các nguồn
nhiễm bẩn
Thường có ở nồng độcao do
phân hóa học
Nitrat Thường có nồng độ trung
bình thấp
Các vi sinh vật Vi trùng (nhiều loại gây
bệnh) virut các loại tảo
Các vi khuẩn do sắc gây ra
thường xuất hiện
2.4 CÁC THÔNG SỐ ĐẶC TRƯNG CHO CHẤT LƯỢNG NƯỚC
2.4.1 Các thông số vật lý
2.4.1.1 Nhiệt độ nước(
0
C,
0
K)
Nhiệt độ của nguồn nước là một đại lượng phụ thuộc vào điều kiện môi trường
và khí hậu. Đây là yếu tố không nhỏ ảnh hưởng đến quá trình xử lý nước. Nước sông
hồ, nước ngầm mạch sâu có nhiệt độ ổn định gần như không thay đổi theo mùa.
2.4.1.2 Độ màu
Độ màu của nước thiên nhiên thể hiện sự tồn tại của các hợp chất humi (mùn)
và các chất bẩn ở trong nước tạo nên. Các hợp chất sắt không hòa tan làm cho nước
có màu đỏ. Các chất mùn gây ra màu vàng. Các loại thủy sinh tạo cho nước có màu
xang lá cây. Nước sinh hoạt và công nghiệp thường tạo ra màu xám hay đen cho
nguồn nước.
Đơn vị đo màu là độ Pt/Co.
2.4.1.3 Độ đục
Độ đục của nước đặc trưng cho các tạp chất phân tán dạng hữu cơ hay vô cơ
không hòa tan hay keo có nguồn gốc khác nhau. Nguyên nhân gây ra nước bị đục là
sự tồn tại các loại bùn, axit silic, hydroxit sắt, hydroxit nhôm,các loại keo hữu cơ vi
sinh vật và phù du thục vật có trong đó. Trong nước ngầm, độ đục đặc trưng cho sự
tồn tại các khoáng chất không hòa tan hay các hợp chất hữu cơ trong nước thải xâm
nhập vào đất.
Đơn vị của độ đục là NTU (Nephelometer Turbidity Unit).
2.4.1.4 Mùi vị
GVHD: Th.s Võ Hồng Thi 10 SVTH: Nguyễn Minh Vương
Thiết Kế Hệ Thống Xử Lý Nước Cấp Phục Vụ Cụm Dân Cư Khu Đô Thị Đại Phú
Một số chất khí và một số chất hòa tan làm cho nước có mùi. Nước thiên nhiên
thường có thể có mùi đất, mùi đặc trưng hóa học như mùi Amoniac, mùi Clophenol.
Nước có thể có vị mặn, chát trùy theo hàm lượng các chất khoáng hòa tan.
2.4.1.5 Độ dẫn điện
Nước là một chất dẫn điện yếu. Độ dẫn điện của nước tinh khiết có thể đạt tới
4,2µs/m ở 20
o
C. Độ dẫn điện tăng khi trong nước có các muối hòa tan và thay đổi
phụ thuộc vào nhiệt độ.
2.4.1.6 Tính phóng xạ
Tính phóng xạ của nước là do sự phân hủy các chất phóng xạ có trong nước tạo
nên. Nước ngầm thường nhiễm các chất phóng xạ tự nhiên, các chất này có thời gian
bán phân hủy rất nhỏ nên nước thường vô hại. Trong một số trường hợp còn sử dụng
để chữa bệnh. Ngược lại, tính phóng xạ của nước do sự nhiễm bẩn chất phóng xạ trừ
chất thải công nghiệp khi vượt quá giới hạn cho phép lại nguy hiểm. Phóng xạ gây
nguy hại cho cuộc sống nên độ phóng xạ trong nước thường được xem là một chỉ tiêu
quan trọng để đánh giá chất lượng nước.
2.4.1.7 Hàm lượng chất rắn trong nước
Hàm lượng chất rắn trong nước gồm có chất rắn vô cơ (các muối hòa tan, chất
rắn không tan như: huyền phù, đất cát…), chất rắn hữu cơ (gồm các vi sinh vật, vi
sinh vật, động vật,nguyên sinh, chất thải sinh hoạt, công nghiệp). Trong xử lý nước,
hàm lượng chất rắn được phân chia thành:
- Tổng hàm lượng cặn TS (Total Solid) là trọng lượng của phần còn lại sau khi
cho bay hơi 1 lít mẫu ở 105
o
C tới khi có trọng lượng không đổi, đơn vị là (mg/l).
- Cặn lơ lửng SS (Suspended Solids), phần trọng lượng của phần còn lại trên
giấy khi lọc 1 lít nước qua giấy lọc rồi sấy khô ở 105
o
C tới khi có trọng lượng không
đổi, đơn vị là (mg/l).
- Chất rắn hòa tan DS (Dissolved Solids) bằng hiệu giữa tổng lượng cặn TS và
cặn lơ lửng SS:
DS=TS-SS
- Chất rắn hóa hơi VS (Volatile Solids) là phần mất đi khi nung ở 550
o
C trong
một thời gian nhất định.
2.4.2 Các chỉ tiêu hóa học
GVHD: Th.s Võ Hồng Thi 11 SVTH: Nguyễn Minh Vương
Thiết Kế Hệ Thống Xử Lý Nước Cấp Phục Vụ Cụm Dân Cư Khu Đô Thị Đại Phú
2.4.2.1 Độ pH
pH là chỉ số đặc trưng cho nồng ion H
+
có trong dung dịch. Thường biểu thị cho
tính acid hay tính kiềm của nước.
Tính chất của nước xác định theo các giá trị khác nhau của pH
Khi: pH = 7 nước có tính trung tính
pH < 7 nước có tính axít
pH > 7 nước có tính kiềm
Độ pH có liên quan đến sự hiện diện của một số kim loại và khí hòa tan trong
nước. Ở pH < 5, tùy thuộc vào địa chất, trong một số nguồn nước có thể chứa sắt,
mangan, nhôm ở dạng hòa tan, và một số khí như CO
2
, H
2
S tồn tại ở dạng tự do trong
nước.
Độ pH trong nước có ý nghĩa quan trọng trong các quá trình lý, hóa khi xử lý
bằng hóa chất. Quá trình chỉ có hiệu quả tối ưu khi ở một khoảng pH ấn định trong
những điều kiện nhất định.
2.4.2.2 Độ kiềm của nước
Độ kiềm toàn phần là tổng hàm lượng của các ion bicacbonat, cacbonat, hydroxyt
và các muối của các axit yếu. Do hàm lượng các muối này có trong nước rất nhỏ nên
độ kiềm toàn phần được đặc trưng bằng tổng hàm lượng các ion sau:
K
t
= [OH
-
] + [CO
3
2-
] + [HCO
3
-
].
Ở nhiệt độ nhất định, độ kiềm phụ thuộc vào độ pH và hàm lượng khí CO
2
tự do
trong nước.
Độ kiềm bicacbonat và cacbonat góp phần tạo nên tính đệm cho dung dịch nước.
Nguồn nước có tính đệm cao, nếu trong quá trình xử lý có dùng thêm các hoá chất
như phèn, thì độ pH của nước cũng ít thay đổi nên sẽ tiết kiệm được các hoá chất
dùng để điều chỉnh pH.
2.4.2.3 Độ cứng của nước
GVHD: Th.s Võ Hồng Thi 12 SVTH: Nguyễn Minh Vương
Thiết Kế Hệ Thống Xử Lý Nước Cấp Phục Vụ Cụm Dân Cư Khu Đô Thị Đại Phú
Độ cứng của nước là đại lượng biểu thị hàm lượng các ion canxi và magiê có
trong nước. Trong kỹ thuật xử lý nước sử dụng ba loại khái niệm độ cứng.
+ Độ cứng toàn phần biểu thị tổng hàm lượng các iôn canxi và magiê có trong
nước.
+ Độ cứng tạm thời biểu thị tổng hàm lượng các muối cacbonat và bicacbonat
của canxi và magiê có trong nước.
+ Độ cứng vĩnh cửu biểu thị tổng hàm lượng các muối còn lại của canxi và
magiê có trong nước. (các muối của Ca & Mg với Clo, Sunfat, Nitrat)
Dùng nước có độ cứng cao trong sinh hoạt sẽ gây lãng phí xà phòng do canxi và
magiê phản ứng với các axit béo tạo thành các hợp chất khó tan. Trong sản xuất, nước
cứng có thể tạo lớp cặn trong các lò hơi hoặc gây kết tủa ảnh hưởng đến chất lượng
sản phẩm.
Có nhiều đơn vị đo độ cứng khác nhau. Theo TCVN, đơn vị đo độ cứng sử dụng là
MgCaCO
3
/l.
2.4.2.4 Oxy hòa tan DO (Dissolved Oxygen)
Oxy hoà tan trong nước phụ thuộc vào các yếu tố áp suất, nhiệt độ, thành phần
hoá học, vi sinh, thuỷ sinh của nước. Oxy hoà tan trong nước không tác dụng với
nước về mặt hoá học. Các nguồn nước mặt có bề mặt thoáng tiếp xúc trực tiếp với
không khí nên thường có hàm lượng oxy hoà tan cao. Nước ngầm thường có hàm
lượng oxy hoà tan thấp do các phản ứng oxy hoá khử xẩy ra trong lòng đất đã tiêu thụ
một phần oxy.
2.4.2.5 Các hợp chất chứa Nitơ
Quá trình phân hủy các chất hữu cơ tạo ra amoniac, nitrit và nitrat trong tự nhiên,
trong các chất thải,trong các nguồn phân bón mà con người trực tiếp hay gián tiếp
đưa vào nguồn nước. Do đó các hợp chất này thường được xem là các chất chỉ thị
dùng để nhận biết mức độ nhiễm bẩn của nguồn nước. Khi mới bị nhiễm bẩn, ngoài
các chỉ tiêu có giá trị cao như độ oxy hóa, amoniac, trong nước còn có một ít nitrit và
nitrat. Sau một thời gian amoniac, nitrit bị ô oxy hóa thành nitrat.
Tuỳ theo mức độ có mặt của từng loại hợp chất nitơ mà ta có thể biết được mức
độ và thời gian nguồn nước bị ô nhiễm.
GVHD: Th.s Võ Hồng Thi 13 SVTH: Nguyễn Minh Vương
Thiết Kế Hệ Thống Xử Lý Nước Cấp Phục Vụ Cụm Dân Cư Khu Đô Thị Đại Phú
Khi nước bị ô nhiễm do phân bón hay nước thải, trong nguồc gây ô nhiễm củ yếu
là NH
4
( nước nguy hiểm)
Nước chứa chủ yếu là NO
2
-
thì nguồn nước bị ô nhiễm một thời gian dài
hơn( nước ít ô nhiễm hơn).
Nước chứa chủ yếu NO
3
-
thì quá trình oxy hoá đã kết thúc( nước ít nguy hiểm).
Nồng độ nitrat cao là môi trường rất tốt cho tảo, rong phát triển gây ảnh hưởng
đến chất lượng nước dùng cho sinh hoạt. Nếu dùng nước uống có hàm lượng nitrat
cao ảnh hưởng đến sức khoẻ, thường gây bệnh xanh xao ở trẻ và có thể dẫn tới tử
vong.
2.4.2.6 Các hợp chất chứa Photpho
Trong nước tự nhiên các hợp chất ít gặp nhất là photphat, khi nguồn nước bị
nhiễm bẩn bởi rác và các chất hữu cơ trong quá trình phân huỷ, giải phóng ion PO
4
3
có thể tồn tại dưới dạng H
2
PO
4
-
, HPO
4
2-
, PO
4
3-
.
Nguồn Photphat đưa vào môi trường nước là từ nước thải sinh hoạt, nước thải của
một số ngành công nghiệp, phân bón dùng trong đồng ruộng.
Cũng như Nitrat, photphat là chất dinh dưỡng của rong, tảo. Photphat thuộc loại
không độc hại với con người. Tác hại chủ yếu của phosphate là gây phú dưỡng hóa
nguồn nước trầm trọng, ngay cả khi ở nồng độ thấp.
2.4.2.7 Các hợp chất Sắt, Mangan
Trong nước mặt thường chứa Sắt (III) tồn tại ở dạng keo hữu cơ hay cặn huyền
phù với hàm lượng không lớn.
Trong nước ngầm, Sắt tồn tại ở dạng hóa trị (II) kết hợp với các gốc
hydrocacbonat, sunfat, clorua ( Fe(HCO
3
)
2
; FeSO
4
; FeCl
2
). Đôi khi tồn tại dưới dạng
keo của axít humic, hay keo silic, keo lưu huỳnh. Sự tồn tại của các dạng sắt trong
nước phụ thuộc vào pH và điện thế oxy hóa khử của nước. Cũng như sắt, mangan
thường có trong nước ngầm. Nhưng có hàm lượng nhỏ hơn 0,5mg/l là nguyên nhân
gây cho nước có mùi tanh kim loại.
2.4.2.8 Các chất khí hòa tan
GVHD: Th.s Võ Hồng Thi 14 SVTH: Nguyễn Minh Vương
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét