Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

Hiệu quả sử dụng vốn và một số biện pháp tài chính nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần Cảng Đoạn Xá

Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
đem ra sử dụng và sử dụng lại phải đảm bảo có hiệu quả để vốn sinh sôi không
ngừng.
Vốn phải đợc tập trung và tích tụ đến một lợng nhất định mới có thể
phát huy tác dụng. Tức là vốn có yêu cầu nhất định về lợng và khi đạt đợc yêu
cầu đó thì mới có thể dùng vốn đợc. Do đó mà để có đợc lợng vốn theo yêu cầu
cần phải huy động vốn từ các nguồn khác nhau một cách có hiệu quả.
Vốn có giá trị về mặt thời gian. Thời gian làm ảnh hởng tới giá trị của
đồng vốn. Nhất là trong nền kinh tế thị trờng có rất nhiều yếu tố ảnh hởng đến
giá trị thời gian của tiền và nếu không xem xét đến điều này thì sẽ có nhiều
thiệt hại với việc sử dụng đồng tiền.
Vốn gắn liền với chủ sở hữu và do đó không có vốn vô chủ và không
có ai quản lý.
Vốn đợc quan niệm là hàng hoá đặc biệt bởi trong nền kinh tế thị tr-
ờng những ngời sở hữu vốn nhàn rỗi tới thị trờng và những ngời cần vốn thì tới
đây để có đợc quyền sử dụng. Vậy là những ngời chủ sở hữu đã chuyển nhợng
quyền sử dụng cho ngời khác trong một thời gian thoả thuận và những ngời thuê
thì đợc sử dụng sau đó thu lợi nhuận và trích từ trong đó ra một khoản để trả
cho ngời sở hữu.
3. Phân loại vốn
Vốn đợc phân chia thành nhiều loại khác nhau tuỳ theo mục đích của ng-
ời quản lý vốn.
3.1. Theo nguồn hình thành
Vốn Ngân sách Nhà nớc cấp: Là vốn do Nhà nớc cấp cho doanh
nghiệp đợc xác nhận trên cơ sở biên bản giao nhận vốn mà doanh nghiệp phải
có trách nhiệm bảo toàn và phát triển. Vốn do Nhà nớc cấp có hai loại là vốn
cấp ban đầu và vốn cấp bổ sung trong quá trình kinh doanh. Doanh nghiệp sử
dụng vốn này phải nộp ngân sách một tỷ lệ phần trăm trên vốn cấp, gọi là Thu
sử dụng vốn ngân sách.
Nguyễn Thị Minh Trang Tài chính doanh nghiệp 41B
5
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
Vốn tự bổ sung: là vốn nội bộ doanh nghiệp bao gồm vốn khấu hao cơ
bản, lợi nhuận để lại, vốn cổ phần
Vốn liên doanh, liên kết: là vốn mà doanh nghiệp liên kết với các
doanh nghiệp khác có thể trong nớc hoặc ngoài nớc. Do nhiều yếu tố phức tạp
nên việc góp vốn này cần có những điều khoản ký kết chặt chẽ giữa hai bên để
thoả thuận về quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi bên.
Vốn vay: là vốn mà doanh nghiệp có thể vay từ ngân hàng, các tổ
chức tín dụng, các công ty tài chính, các công ty bảo hiểm hoặc có thể vay từ
các cán bộ công nhân viên hoặc phát hành trái phiếu trên thị trờng chứng khoán
để huy động thêm vốn cho doanh nghiệp.
3.2. Theo tính chất sở hữu
a. Nợ phải trả :
Nợ phải trả gồm có Nợ ngắn hạn và Nợ dài hạn
Nợ ngắn hạn: gồm những khoản tín dụng ngắn hạn là tín dụng th-
ơng mại và tín dụng ngân hàng, đó là những khoản nợ có hạn thanh toán trong
khoảng một năm.
+ Tín dụng thơng mại: hay còn gọi là tín dụng của ngời cung cấp là
nguồn vốn mà doanh nghiệp hay khai thác. Nguồn vốn này hình thành một cách
tự nhiên trong quan hệ mua bán chịu, mua bán trả chậm hay trả góp. Nguồn vốn
này có ảnh hởng hết sức to lớn không chỉ với các doanh nghiệp mà còn với toàn
bộ nền kinh tế, bởi đây là hình thức tài trợ rẻ, tiện dụng và linh hoạt trong kinh
doanh và còn tạo khả năng mở rộng các quan hệ hợp tác kinh doanh một cách
lâu bền. Các điều kiện cụ thể có thể đợc ấn định khi hai bên ký kết hợp đồng
mua bán hay hợp đồng kinh tế nói chung. Tuy nhiên khi quy mô tài trợ của
nguồn vốn này mà quá lớn thì rủi ro cũng càng cao.
+ Tín dụng ngắn hạn ngân hàng: Vốn vay là một trong những nguồn vốn
quan trọng nhất, không chỉ đối với sự phát triển của bản thân các doanh nghiệp
mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Sự hoạt động và phát triển của các
doanh nghiệp đều gắn liền với các dịch vụ tài chính do các ngân hàng thơng mại
và các tổ chức tín dụng khác cung cấp trong đó có việc cung ứng các nguồn
Nguyễn Thị Minh Trang Tài chính doanh nghiệp 41B
6
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
vốn. Trong quá trình kinh doanh của mình, các doanh nghiệp thờng vay ngắn
hạn để đảm bảo nguồn tài chính cho các hoạt động kinh doanh nhất là đối với
các dự án mở rộng hoặc đầu t chiều sâu của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể
đáp ứng nhu cầu vốn nhanh chóng do ngân hàng tài trợ với thời hạn tơng đối
ngắn (từ vài ngày đến dới một năm) với số vốn nhất định nào đó. Thông thờng
doanh nghiệp vay ngắn hạn khi thiếu vốn lu động.
Nợ dài hạn: bao gồm các khoản tín dụng dài hạn đó là các khoản
nợ đợc thanh toán từ một năm trở lên. Nợ dài hạn của doanh nghiệp bao gồm:
các khoản vay nợ và phát hành trái phiếu trên thị trờng chứng khoán.
+ Khoản vay nợ: là các khoản vay ngân hàng dài hạn, vay bạn hàng hoặc
vay cán bộ công nhân viên
+ Phát hành trái phiếu: là hình thức huy động vốn khi mà doanh nghiệp
có danh tiếng và uy tín trên thị trờng thu hút vốn từ những ngời có vốn nhàn rỗi.
Không giống nh cổ phiếu những ngời mua trái phiếu là chủ nợ của doanh
nghiệp và do đó doanh nghiệp có trách nhiệm phải trả một số tiền trong một
khoảng thời gian đã đợc ghi trên trái phiếu. Các loại trái phiếu hiện nay đang lu
hành trên thị trờng tài chính là trái phiếu có lãi suất cố định, trái phiếu có lãi
suất thay đổi, trái phiếu có thể thu hồi, và chứng khoán có thể chuyển đổi.
b. Vốn chủ sở hữu :
Vốn chủ sở hữu gồm các bộ phận chủ yếu là Vốn góp ban đầu, Lợi nhuận
không chia, Phần vốn tăng bằng phát hành cổ phiếu mới. Ngoài ra Vốn chủ sở
hữu của doanh nghiệp có thể đợc bổ sung từ phần chênh lệch đánh giá lại tài
sản cố định, chênh lệch tỷ giá Ta sẽ xem xét các bộ phận chủ yếu của vốn chủ
sở hữu.
Vốn góp ban đầu : Khi doanh nghiệp đợc thành lập bao giờ chủ
doanh nghiệp cũng có vốn ban đầu nhất định, tuy nhiên tuỳ theo hình thức sở
hữu của doanh nghiệp mà tính chất và hình thức tạo vốn của các doanh nghiệp
là khác nhau.
Đối với doanh nghiệp Nhà nớc, vốn góp ban đầu chính là vốn đầu t của
Nhà nớc. Chủ sở hữu của các doanh nghiệp Nhà nớc chính là Nhà nớc.
Nguyễn Thị Minh Trang Tài chính doanh nghiệp 41B
7
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
Đối với doanh nghiệp theo luật Doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp phải có
một số vốn ban đầu cần thiết để xin đăng ký thành lập doanh nghiệp.
Xét với công ty cổ phần, vốn do cổ đông đóng góp là yếu tố quyết định
để hình thành công ty. Mỗi cổ đông là một chủ sở hữu của công ty và chỉ chịu
trách nhiệm hữu hạn trên giá trị số cổ phần mà họ đang nắm giữ.
Lợi nhuận không chia : nguồn vốn tích luỹ từ lợi nhuận không chia
là bộ phận lợi nhuận đợc sử dụng tái đầu t, mở rộng sản xuất-kinh doanh của
doanh nghiệp. Đây là phơng thức giúp doanh nghiệp giảm đợc chi phí, giảm bớt
sự phụ thuộc vào bên ngoài, do đó nhiều doanh nghiệp coi trọng và họ đặt ra
mục tiêu cho doanh nghiệp là phải có một lợng lợi nhuận không chia đủ lớn để
đáp ứng lại nhu cầu vốn ngày càng tăng của họ.
Phát hành cổ phiếu : trong hoạt động sản xuất-kinh doanh, doanh
nghiệp có thể tăng vốn chủ sở hữu bằng cách phát hành cổ phiếu mới đây là
hoạt động tài trợ dài hạn của doanh nghiệp. Các loại cổ phiếu đợc phát hành là
cổ phiếu thờng, cổ phiếu u tiên. Trong đó cổ phiếu thờng là loại cổ phiếu thông
dụng nhất và cổ phiếu u tiên chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng số cổ phiếu
đợc phát hành. Tuỳ thuộc vào tỷ lệ nợ mà các hãng chọn cách phát hành trái
phiếu hay cổ phiếu.
3.3. Theo phơng thức chu chuyển vốn
Theo phơng thức chu chuyển vốn của doanh nghiệp thì vốn gồm vốn cố
định, vốn lu động.
a. Vốn cố định:
Sự vận động của vốn cố định trong hoạt động kinh doanh đợc gắn liền với
hình thái biểu hiện vật chất của nó là tài sản cố định (TSCĐ).
Trong một doanh nghiệp có nhiều loại t liệu lao động khác nhau, để
thuận tiện cho công tác quản lý ngời ta phân chia chúng theo các tiêu thức về
mặt giá trị và thời gian. Trong đó tài sản cố định phải có đủ hai tiêu chuẩn sau:
+ Có thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên.
Nguyễn Thị Minh Trang Tài chính doanh nghiệp 41B
8
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
+ Phải có giá trị tối thiểu ở mức nhất định theo quy định, mức này đợc
Nhà nớc quy định phù hợp với tình hình kinh tế của mỗi thời kỳ (vào khoảng 5
triệu trở lên).
Tài sản cố định tham gia một cách trực tiếp hay gián tiếp vào nhiều chu
kỳ sản xuất. Trong quá trình đó, tài sản cố định bị hao mòn nhng vẫn giữ đợc
hình thái vật chất ban đầu và giá trị của tài sản đợc chuyển dịch dần vào từng
phần giá trị mới tạo ra của sản phẩm. Giá trị này đợc thu hồi khi sản phẩm đợc
bán trên thị trờng.
Tuỳ theo những tiêu thức khác nhau mà ngời ta phân loại tài sản cố định
thành những loại khác nhau để có thể quản lý đợc chặt chẽ và hiệu quả.
Theo hình thái biểu hiện và công dụng kinh tế:
+ Tài sản cố định hữu hình: những tài sản cố định có hình thái vật chất,tài
sản thuộc loại này chia thành nhà cửa vật chất, máy móc thiết bị, phơng tiện vận
tải thiết bị truyền dẫn, thiết bị dụng cụ quản lý, vờn cây lâu năm, súc vật làm
việc hoặc cho sản phẩm và các tài sản cố định hữu hình khác.
+ Tài sản cố định vô hình: những tài sản không có hình thái vật chất, thể
hiện một lợng giá trị lớn đã đợc đầu t có liên quan trực tiếp đến nhiều chu kỳ
kinh doanh của doanh nghiệp. Thông thờng tài sản cố định vô hình gồm các loại
nh quyền sử dụng đất, chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí về bằng phát
minh sáng chế, chi phí nghiên cứu phát triển, chi phí về lợi thế thơng mại, và
các tài sản cố định vô hình khác.
Theo tình hình sử dụng: thì tài sản cố định đợc chia thành các loại
sau :
+ Tài sản cố định đang dùng.
+ Tài sản cố định cha dùng.
+ Tài sản cố định không cần dùng và chờ thanh lý.
Ngoài ra ngời ta còn phân chia theo mục đích sử dụng, theo quyền sở
hữu để đáp ứng những yêu cầu nhất định của công tác quản lý.
Nguyễn Thị Minh Trang Tài chính doanh nghiệp 41B
9
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
Số vốn doanh nghiệp ứng ra để hình thành nên tài sản cố định đợc gọi là
vốn cố định của doanh nghiệp. Trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh
doanh, vốn cố định thực hiện chu chuyển giá trị của nó, và sự chu chuyển này
chịu sự chi phối rất lớn bởi đặc điểm kinh tế kỹ thuật của tài sản cố định.
Trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh, giá trị của tài sản cố định
chuyển dần dần vào từng phần giá trị mới tạo ra của sản phẩm và giá trị này đợc
thu hồi khi sản phẩm đợc bán trên thị trờng. Nh vậy vốn cố định cũng luân
chuyển từng phần và đợc thu hồi dần, trong khi một bộ phận vốn cố định tiếp
tục nằm trong quá trình sản xuất dới hình thái tài sản cố định đang sử dụng (giá
trị còn lại của tài sản cố định) thì một bộ phận vốn khác đã gia nhập vào giá
thành sản phẩm và trở thành hình thái tiền tệ ban đầu trong tiền bán sản phẩm.
Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh mới và chỉ hoàn thành một
vòng chu chuyển khi tái sản xuất đợc tài sản cố định về mặt giá trị hoặc đơn
giản hơn là thu hồi tiền khấu hao tài sản cố định (bao gồm cả giá trị đợc bảo
toàn). Hiện nay, Nhà nớc ta đang khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện
khấu hao nhanh để có thu hồi vốn và nhanh chóng đổi mới công nghệ.
Do đó ta có thể nói: Vốn cố định của doanh nghiệp là bộ phận của vốn
đầu t ứng trớc về tài sản cố định, đặc điểm của nó là chu chuyển giá trị dần dần
từng phần trong nhiều chu kỳ kinh doanh và hoàn thành một vòng chu chuyển
khi tái sản xuất đợc tài sản cố định về mặt giá trị.
b. Vốn l u động:
Tài sản lu động của doanh nghiệp thờng gồm hai bộ phận: tài sản lu động
trong sản xuất và tài sản lu động trong lu thông. Tài sản lu động trong sản xuất
gồm một bộ phận là những vật t dự trữ để đảm bảo cho quá trình sản xuất đợc
liên tục nh nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu và một bộ phận những sản phẩm
dở dang trong quá trình sản xuất. Tài sản lu động trong lu thông bao gồm: sản
phẩm hàng hoá chờ tiêu thụ, vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán (nợ phải thu).
Để đảm bảo cho quá trình kinh doanh đợc tiến hành thờng xuyên, liên
tục đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lợng tài sản lu động nhất định. Do vậy, để
hình thành nên tài sản lu động, doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn đầu t vào
loại tài sản này, số vốn đó đợc gọi là tài sản lu động.
Nguyễn Thị Minh Trang Tài chính doanh nghiệp 41B
10
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
Vốn lu động của doanh nghiệp thờng xuyên vận động và chuyển hoá qua
nhiều hình thái khác nhau.
Đối với doanh nghiệp sản xuất, vốn lu động từ hình thái ban đầu là tiền
đợc chuyển hoá sang hình thái vật t dự trữ và tiếp tục chuyển sang hình thái sản
phẩm dở dang, thành phẩm hàng hoá và khi kết thúc quá trình tiêu thụ thì lại trở
về hình thái ban đầu là tiền. Ta có mô hình :
TLLĐ
T H SX H' T'
ĐTLĐ
Còn đối với doanh nghiệp thơng mại thì sự vận động của vốn lu động
nhanh hơn từ hình thái tiền chuyển hoá sang hình thái hàng hoá và lại chuyển
hoá về hình thái tiền. Ta có mô hình:
T H T'
Trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh, vốn lu động chuyển
toàn bộ giá trị ngay trong một lần và đợc hoàn lại toàn bộ sau khi doanh nghiệp
tiêu thụ đợc sản phẩm thu đợc tiền. Nh vậy là vốn lu động hoàn thành một vòng
tuần hoàn sau một chu kỳ kinh doanh. Trong quá trình này tài sản lu động thay
đổi hình thái không ngừng, do đó, tại một thời điểm nhất định vốn lu động cùng
tồn tại dới các hình thái khác nhau trong các giai đoạn mà vốn đi qua.
Tuỳ theo những tiêu thức khác nhau có thể chia vốn lu động thành các
loại khác nhau và cũng nhờ đó để phân tích đánh giá về vốn lu động và đa ra
các biện pháp tổ chức quản lý phù hợp.
Theo hình thái biểu hiện của vốn (giúp ta xem xét khả năng thanh
toán của doanh nghiệp):
+ Vốn bằng tiền và các khoản phải thu:
Vốn bằng tiền gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng và tiền đang
chuyển
Nguyễn Thị Minh Trang Tài chính doanh nghiệp 41B
11
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
Các khoản phải thu, trong đó chủ yếu là khoản phải thu từ khách hàng,
ngoài ra trong một số trờng hợp mua sắm vật t doanh nghiệp còn phải ứng tr-
ớc tiền cho ngời cung ứng từ đó hình thành khoản tạm ứng.
+ Vốn vật t, hàng hoá: gồm nguyên liệu, vật liệu, công cụ và dụng cụ;
sản phẩm dở dang, thành phẩm, chi phí trả trớc.
+ Vốn lu động khác.
Theo vai trò của vốn lu động đối với quá trình kinh doanh của
doanh nghiệp (giúp ta đánh giá tình hình phân bố vốn lu động trong các khâu
của quá trình chu chuyển vốn) :
+ Vốn lu động trong khâu dự trữ sản xuất.
+ Vốn lu động trong khâu sản xuất.
+ Vốn lu động trong khâu lu thông.
Do đó Vốn lu động của doanh nghiệp là toàn bộ số vốn ứng ra để hình
thành nên tài sản lu động nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh
nghiệp đợc thực hiện thờng xuyên, liên tục. Vốn lu động chuyển toàn bộ giá trị
của chúng vào lu thông và từ trong lu thông toàn bộ giá trị của chúng đợc hoàn
lại một lần sau một chu kỳ kinh doanh.
4. Vốn của công ty cổ phần
Công ty cổ phần là một hình thức tổ chức kinh doanh có t cách pháp nhân
và các cổ đông chỉ có trách nhiệm pháp lý hữu hạn trong phần vốn góp của
mình. Điều này cho phép công ty có t cách pháp lý đầy đủ để huy động những l-
ợng vốn lớn nằm rải rác thuộc nhiều cá nhân trong xã hội. Công ty cổ phần có
nhiều dạng tơng đối khác nhau vì thế cách thức huy động vốn khác nhau. Vốn
của công ty đợc chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là các cổ phần. Giá trị ghi
trên mặt của mỗi cổ phiếu là mệnh giá của cổ phiếu, giá cả của cổ phiếu trên thị
trờng gọi là thị giá, còn giá trị đợc phản ánh trong sổ sách kế toán của công ty
gọi là giá trị ghi sổ _ chính là mệnh giá của các cổ phiếu đã phát hành.
Cổ phiếu là một thứ chứng khoán có giá, ghi nhận quyền sở hữu cổ phần,
đồng thời đảm bảo cho ngời chủ sở hữu có quyền lĩnh một phần thu nhập của
Nguyễn Thị Minh Trang Tài chính doanh nghiệp 41B
12
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
công ty tơng ứng với số cổ phần ngời đó nắm giữ. Cổ phiếu chứng minh t cách
thành viên của những ngời góp vốn vào công ty cổ phần, những ngời này gọi là
cổ đông công ty. Cổ đông công ty có quyền tham gia kiểm soát và điều khiển
các công việc của công ty, và họ có quyền trớc hết đối với tài sản và sự phân
chia tài sản hoặc thu nhập công ty. Cổ phiếu có thể ghi tên hoặc không ghi tên
nhng cổ phiếu của sáng lập viên, của thành viên Hội đồng quản trị thì phải ghi
tên. Cổ phiếu ghi tên chỉ đợc chuyển nhợng nếu đợc sự đồng ý của Hội đồng
quản trị trừ một số trờng hợp đợc quy định rõ còn cổ phiếu không ghi tên đợc
tự do chuyển nhợng.
Uỷ ban chứng khoán Nhà nớc quy định lợng cổ phiếu tối đa mà công ty
đợc quyền phát hành gọi là vốn cổ phiếu đợc cấp phép để quản lý và kiểm soát
chặt chẽ các hoạt động phát hành và giao dịch chứng khoán. Thông thờng một
công ty có thể phát hành một lần hoặc số lần trong giới hạn số cổ phiếu đã đợc
cấp phép phát hành. Công ty có thể phát hành cổ phiếu thờng _ loại cổ phiếu
thông dụng nhất vì nó có những u thế trong việc phát hành ra công chúng và
trong quá trình lu hành trên thị trờng chứng khoán. Khi cổ phiếu trong tay các
cổ đông thì gọi là các cổ phiếu đang lu hành, và khi công ty phát hành mua lại
một số cổ phiếu của mình và giữ chúng nhằm mục đích nào đó thì gọi là cổ
phiếu ngân quỹ và đợc coi tạm thời không lu hành. Công ty có thể phát hành cổ
phiếu u tiên _ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số cổ phiếu đợc phát hành, tuy
nhiên dùng loại này trong một số trờng hợp là thích hợp. Cổ phiếu u tiên có đặc
điểm là nó thờng có cổ tức cố định, ngời chủ của cổ phiếu này có quyền đợc
thanh toán lãi trớc các cổ đông thờng. Loại cổ phiếu này có thể đợc chính công
ty phát hành thu hồi lại khi công ty thấy cần thiết. Do đó mỗi công ty cổ phần
đều quy định rõ những điểm về trờng hợp nào thì mua lại cổ phiếu với giá bao
nhiêu và thời hạn tối thiểu không đợc phép mua lại cổ phiếu. Vậy nên cổ đông
thờng phải chịu sự mạo hiểm rất cao khi công ty thua lỗ nhng cổ đông u tiên thì
có thể yên tâm khi họ chắc chắn sẽ nhận đợc cổ tức cố định. Nhng khi công ty
thành đạt trong kinh doanh thì cổ đông thờng lại có lợi hơn cổ đông u đãi nhờ
sự mạo hiểm.
Công ty cổ phần có thể để lại một phần lợi nhuận trong năm cho tái đầu
t tức là không dùng số lợi nhuận đó để chia lãi cổ phần, các cổ đông sẽ không
đợc nhận lãi cổ phần nữa nhng bù lại điều đó họ lại có quyền sở hữu số vốn cổ
Nguyễn Thị Minh Trang Tài chính doanh nghiệp 41B
13
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
phần tăng lên của công ty. Giá trị ghi sổ của các cổ phiếu sẽ tăng lên, tuy có thể
giá cổ phiếu sẽ bị giảm sút nếu tỷ lệ chi trả cổ tức thấp, hoặc số lãi ròng không
đủ hấp dẫn.
Công ty có thể đi vay nợ rồi trả lãi theo tỷ lệ thoả thuận, có thể phát
hành, trái phiếu và các giấy nợ khác.
5. Vai trò của vốn
Khi một doanh nghiệp thành lập pháp luật đòi hỏi doanh nghiệp phải có
một số vốn nhất định tối thiểu vốn đó đợc gọi là vốn pháp định. Để có thể bắt
đầu cho công việc kinh doanh doanh nghiệp cần chi trả cho chi phí thành lập
doanh nghiệp, doanh nghiệp phải mua sắm trang thiết bị máy móc nhà xởng,
mua nguyên vật liệu, tạo quan hệ kinh doanh Vậy doanh nghiệp rất cần số
vốn ban đầu để bắt đầu cho công việc kinh doanh của doanh nghiệp. Thiếu vốn
doanh nghiệp không đủ điều kiện để trở thành một doanh nghiệp hợp pháp.
Tiếp theo là quá trình kinh doanh của doanh nghiệp, không có vốn doanh
nghiệp không thể đầu t vào các giai đoạn khác nhau của quá trình kinh doanh
của mình. Không có vốn để đầu t thì doanh nghiệp cũng không thể thu lợi
nhuận đợc do đó không thể bù vào các chi phí phát sinh trong quá trình kinh
doanh của doanh nghiệp, không đủ chi trả cho các khoản trả cổ tức cho doanh
nghiệp Thiếu vốn đầu t doanh nghiệp không thể mở rộng đầu t hay tiếp tục đổi
mới trang thiết bị hiện đại thay cho các trang thiết bị đã lỗi thời và lạc hậu, đổi
mới quy trình công nghệ, nghiên cứu về đổi mới sản phẩm, phơng thức hoạt
động của doanh nghiệp hay chống đỡ những rủi ro trong quá trình kinh doanh.
Doanh nghiệp luôn luôn cần có một lợng vốn đủ lớn để tài trợ cho mọi hoạt
động kinh doanh phát sinh của mình. Cũng nh thiếu vốn thì hoạt động của
doanh nghiệp sẽ bị ngng trệ sau đó là các tác động tiêu cực khác tới doanh
nghiệp và các thành viên trong đó Doanh nghiệp sẽ đi xuống và sẽ đứng trên
bờ vực của sự phá sản, giải thể.
Thị trờng hiện nay luôn đa ra những yêu cầu cao không ngừng với mọi
doanh nghiệp và thị trờng lại luôn biến động tuỳ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác
nhau. Thành viên nào đáp ứng đợc những yêu cầu luôn luôn thay đổi để phù hợp
với yêu cầu của những ngời tiêu dùng, doanh nghiệp đó sẽ thắng. Nhng cha phải
đã dừng ở đó, các doanh nghiệp lại còn phải củng cố vị trí của mình sao cho
Nguyễn Thị Minh Trang Tài chính doanh nghiệp 41B
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét