Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

Qúa trình xây dựng tổ chức đảng các cấp từ trung ương đến địa phương,


Bộ GIáO DụC V ĐO TạO

Học viện Chính trị - Hnh chính
quốc gia Hồ Chí Minh




trần trọng thơ




quá trình xây dựng tổ chức đảNG CáC Cấp Từ
TRUNG ƯƠNG, Xứ Uỷ ĐếN LIÊN TỉNH Uỷ thời kỳ
1930-1945



Chuyên ngành : Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam
M số : 62 22 56 01




Tóm tắt luận án tiến sĩ lịch sử




H Nội - 2008
Công trình đợc hoàn thành
tại Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh


Ngời hớng dẫn khoa học: GS,TS. Trịnh Nhu


Phản biện 1: PGS,TS. Đoàn Ngọc Hải

Phản biện 2: PGS,TS Phạm Xanh

Phản biện 3: Đinh Thị Thu Cúc



Luận án đợc bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nớc,
họp tại Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh,
Hội trờng số 106, nhà A14
Vào hồi 14 giờ, ngày 16 tháng 5 năm 2008





Có thể tìm hiểu luận án tại Th viện Quốc gia
và Th viện Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

Những công trình khoa học của tác giả đ
công bố có liên quan đến luận án

1. Trần Trọng Thơ (1995), Quá trình khôi phục, củng cố, kiện toàn
tổ chức Đảng ở Trung Kỳ (1939-1945), Tạp chí Lịch sử
Đảng, 63 (5), tr.52-54.
2. Trần Trọng Thơ (1996), Quá trình khôi phục tổ chức Đảng ở Nam
Kỳ (1940-1945), Tạp chí Lịch sử Đảng, 69 (5), tr.17- 19.
3. Trần Trọng Thơ (1997), Quá trình khội phục, củng cố và phát
triển tổ chức Đảng ở Bắc Kỳ (1939-1945), Tạp chí Lịch sử
Đảng, 81 (8), tr.17-19.
4. Trần Trọng Thơ (2005), Đồng chí Phùng Chí Kiên đã hy sinh
nh thế nào, Tạp chí Xa & Nay, 244 (9), tr.15-17.
5. Trần Trọng Thơ (2005), Phơng thức xây dựng hệ thống tổ chức
Đảng trong cuộc vận động Cách mạng tháng Tám, Tạp chí
Lịch sử Đảng, 177 (8), tr.26 -29.
6. Trần Trọng Thơ (2006), Về sự hình thành Ban Chấp hành
Trung ơng Đảng năm1930 Tạp chí Lịch sử Đảng, 188
(7), tr.53-56.




1
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Trong lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng Cộng sản Việt
Nam, thời kỳ 1930 - 1945 thể hiện đậm nét bản lĩnh cách mạng kiên
cờng, sức sống mãnh liệt, trí tuệ sáng tạo, sự trởng thành vợt bậc
của Đảng về t duy chính trị, năng lực xác định đờng lối cách mạng
gắn kết với phơng pháp chỉ đạo thực tiễn sát hợp điều kiện cụ thể
của Việt Nam và xây dựng hệ thống tổ chức. Nhờ vậy, Đảng đã lãnh
đạo nhân dân ta từng bớc trải nghiệm các cao trào đấu tranh cách
mạng, tiến tới đập tan xiềng xích thực dân, phát xít, lật đổ nền quân
chủ thối nát, giành độc lập, tự do, mở đờng phát triển cho dân tộc
trong thời đại mới.
Hoạt động của Đảng trong 15 năm đấu tranh giành chính quyền
(1930-1945) rất phong phú, có ý nghĩa hết sức to lớn về lý luận và
thực tiễn đã thu hút nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, song đến nay,
vẫn còn nhiều vấn đề, nhất là công tác xây dựng tổ chức cấp Trung
ơng, xứ uỷ, liên tỉnh uỷ cha đợc làm sáng tỏ hoặc cha đợc luận
giải thấu đáo.
1.2. Trong điều kiện hoạt động bí mật, cha nắm chính quyền,
phải đối phó với sự đánh phá ác liệt của đối phơng, việc xây dựng tổ
chức Đảng cấp Trung ơng, xứ uỷ và liên tỉnh uỷ có một vị trí đặc
biệt quan trọng đối với năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của toàn
Đảng và sự thành bại của cách mạng. Nhờ xây dựng tổ chức cấp
Trung ơng, xứ uỷ, liên tỉnh uỷ, Đảng đã tạo dựng đợc hệ thống tổ
chức, cơ sở Đảng rộng khắp trên mọi địa bàn, gắn chặt với quần
chúng, khi thời cơ đến, kịp thời phát động Tổng khởi nghĩa giành
chính quyền thành công, lập nên nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
1.3. Xây dựng Đảng về tổ chức là điều kiện không thể thiếu bảo
đảm cho Đảng thống nhất ý chí và hành động, là nhân tố bảo đảm các
mặt lãnh đạo của Đảng. Trong công cuộc đổi mới đất nớc, Đảng ta
xác định nhiệm vụ xây dựng Đảng về chính trị, t tởng và tổ chức là
nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và sự nghiệp
cách mạng của nhân dân ta. Để thực hiện tốt nhiệm vụ nâng cao năng
lực, sức chiến đấu của Đảng, cần thiết phải nghiên cứu, đúc kết, vận

2
dụng những kinh nghiệm lịch sử về xây dựng Đảng nói chung, về xây
dựng tổ chức và cán bộ, trong đó có những kinh nghiệm về xây dựng
các cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng thời kỳ 1930- 1945.
Nghiên cứu Quá trình xây dựng tổ chức Đảng các cấp từ
Trung ơng, xứ uỷ đến các liên tỉnh uỷ thời kỳ 1930-1945 để phản
ánh hiện thực xây dựng tổ chức, nhân sự các cấp uỷ đó, soi tỏ thêm
đặc điểm, tổ chức, hoạt động của các cấp bộ Đảng, của các nhân vật
lịch sử của Đảng trong quá trình vận động cách mạng trớc khi trở
thành một đảng cầm quyền; đúc kết kinh nghiệm xây dựng, bảo vệ tổ
chức Đảng để cung cấp thêm những luận cứ khoa học cho công tác
xây dựng tổ chức Đảng hiện nay; bác bỏ những luận điệu xuyên tạc,
hiệu chỉnh những nhận định sai lạc, thiên kiến về vai trò lãnh đạo của
Đảng thời kỳ 1930 - 1945.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1. Ngay từ thập kỷ 30 thế kỷ XX, nhiều nhà lãnh đạo của Đảng
đã công bố nhiều bài viết trên báo chí của Quốc tế Cộng sản, của
Đảng Cộng sản Đông Dơngphản ánh truyền thống đấu tranh và
các cơ quan lãnh đạo của Đảng. Từ năm 1960, thực hiện chủ trơng
tăng cờng công tác tổng kết kinh nghiệm và viết Lịch sử Đảng của
Đại hội Đảng lần thứ III (9-1960), nhiều công trình nghiên cứu về
Lịch sử Đảng đợc tiến hành. Những công trình nghiên cứu của Ban
nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ơng (nay là Viện Lịch sử Đảng),
đặc biệt là tác phẩm Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (Sơ thảo), Tập
I (1920-1954), Nxb Sự thật, Hà Nội, 1981, khi đề cập đến vấn đề tổ
chức Đảng đã nêu lên chủ trơng chỉ đạo của Đảng và nhân sự ở một
vài hội nghị Trung ơng.
Một số chuyên khảo về công tác tổ chức của Đảng, nh Trung
tâm nghiên cứu về tổ chức, Lịch sử công tác tổ chức của Đảng Cộng
sản Việt Nam (1930- 2000), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005
trong khi trình bày quá trình lãnh đạo của Đảng về công tác tổ chức
qua các thời kỳ đã đề cập đến việc xây dựng các cấp uỷ Đảng, tuy
nhiên cha đi sâu nghiên cứu về tổ chức Đảng cấp Trung ơng, xứ uỷ
và liên tỉnh uỷ thời kỳ 1930-1945.
2.2. Đến nay, hầu hết các tỉnh, thành phố trong cả nớc đã biên
soạn và xuất bản lịch sử đảng bộ địa phơng. Những công trình này

3
đã đề cập một số nét về tổ chức Đảng cấp xứ uỷ, liên tỉnh uỷ thời kỳ
1930-1945, song còn tản mạn.
2.3. Một số công trình nghiên cứu lịch sử dân tộc, nh Viện Lịch
sử Đảng, Lịch sử Cách mạng tháng Tám 1945, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 1995 ; một số chuyên khảo về đấu tranh cách mạng
trong các nhà tù đế quốc, nh Sơn La, Hỏa Lò, Buôn Ma Thuột, Côn
Đảo đã phản ánh ở những mức độ khác nhau về nhân sự, tổ chức
Đảng cấp Trung ơng, xứ uỷ thời kỳ 1930-1945.
2.4. Các công trình nghiên cứu, kỷ yếu hội thảo khoa học về các
lãnh tụ của Đảng, hồi ký của nhiều đồng chí lão thành cách mạng
cũng phản ánh một số khía cạnh về bộ máy tổ chức của Đảng ở cấp
Trung ơng và cấp xứ trong thời kỳ 1930-1945, nh Ban Nghiên cứu
Lịch sử Đảng Trung ơng, Chủ tịch Hồ Chí Minh- Tiểu sử và Sự
nghiệp, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1980; Trần Phú, Tổng Bí th đầu tiên
của Đảng, một tấm gơng bất diệt (Hồi ký), Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2004; Lê Hồng Phong, ngời cộng sản kiên cờng (Hồi ký),
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002; Nguyễn Văn Cừ, nhà lãnh đạo
xuất sắc của Đảng và cách mạng Việt Nam (Hồi ký), Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2002; Trờng Chinh, một nhân cách lớn, một nhà
lãnh đạo kiệt xuất của cách mạng Việt Nam (Hồi ký), Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2002
2.5.

Một số công trình do các cơ quan nghiên cứu nớc ngoài
tiến hành, nh Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Nhân dân Cách mạng
Campuchia, Lịch sử Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia, biên
soạn, 1990; Ban Chỉ đạo nghiên cứu lý luận và thực tiễn Trung ơng
Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Lịch sử Đảng Nhân dân Cách mạng
Lào, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005đã bớc đầu phản ánh
về công tác tổ chức của hai xứ Đảng bộ Cao Miên và Ai Lao thời kỳ
1930-1945, song cha đi sâu nghiên cứu và luận giải thấu đáo về cơ
quan lãnh đạo cấp xứ của 2 Đảng bộ thời kỳ này.


Một số cơ quan trấn áp của chính quyền thuộc địa, khi tìm kiếm
kế sách đàn áp phong trào cộng sản Đông Dơng đã tìm hiểu lịch sử
hình thành và cấu tạo của tổ chức Đảng Cộng sản Đông Dơng. Đáng
chú ý là tài liệu Contribution à lhistoire des mouvements politiques
de lIndochine Franỗaise, 1925-1933, do Chánh mật thám Đông

4
Dơng L. Marty tổ chức biên soạn năm 1933. Một số công trình của
các nhà nghiên cứu, sử học trên thế giới, nh Révolutionaires
Vietnamiens et Pouvoir colonial en Indochine của Daniel Hémery,
Nxb Franỗois Maspero, Paris, 1975; có đề cập về các cơ quan lãnh
đạo của Đảng thời kỳ 1930-1945. Những công trình trên không đi sâu
khảo cứu về quá trình hình thành, cơ cấu tổ chức Đảng cấp Trung
ơng, xứ uỷ và liên tỉnh uỷ thời kỳ 1930-1945; chứa đựng nhiều nội
dung xuyên tạc, nhiều nhận định sai lệch với thực tiễn lịch sử.
Nhìn chung, đến nay, nhiều công trình khoa học bớc đầu phản
ánh và thống nhất khẳng định tính đúng đắn trong quan điểm, trong
chủ trơng, trong chỉ đạo của Đảng về xây dựng tổ chức Đảng thời kỳ
1930-1945, tuy nhiên cha có một công trình nào nghiên cứu một
cách toàn diện về quá trình xây dựng tổ chức Đảng các cấp từ Trung
ơng, xứ uỷ, đến liên tỉnh uỷ thời kỳ 1930-1945. Nhiều vấn đề lịch
sử, nhiều sự kiện và nhân vật lịch sử liên quan đến tổ chức của Đảng
cha đợc phản ánh, hoặc nhìn nhận cha xác đáng.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
3.1. Mục đích
Nghiên cứu quá trình xây dựng tổ chức Đảng các cấp từ Trung
ơng, xứ uỷ đến liên tỉnh uỷ thời kỳ 1930 - 1945 góp phần phát triển
công tác nghiên cứu, giảng dạy Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam,
cung cấp thêm một số luận cứ khoa học cho công tác xây dựng Đảng
về tổ chức hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
Xem xét, đánh giá những quan điểm, chủ trơng và biện pháp
xây dựng, khôi phục và phát triển tổ chức Đảng các cấp từ Trung
ơng, xứ uỷ đến liên tỉnh uỷ thời kỳ 1930-1945.
Tái hiện, luận giải quá trình xây dựng khôi phục và phát triển tổ
chức Đảng các cấp từ Trung ơng, xứ uỷ đến liên tỉnh uỷ thời kỳ
1930 - 1945.
Phân tích một cách khoa học những đặc điểm, cách tổ chức, u
điểm và hạn chế của quá trình xây dựng, khôi phục và phát triển của tổ
chức Đảng các cấp từ Trung ơng, xứ uỷ đến liên tỉnh uỷ thời kỳ 1930 -
1945; đúc kết những kinh nghiệm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.

5
4. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
4.1. Đối tợng nghiên cứu của luận án
Luận án nghiên cứu các quan điểm, chủ trơng, biện pháp của
Đảng, Quốc tế Cộng sản và Nguyễn Aí Quốc về xây dựng tổ chức
Đảng các cấp từ Trung ơng, xứ uỷ đến liên tỉnh uỷ; sự thành lập,
khôi phục, phát triển cơ cấu tổ chức của Ban Chấp hành Trung ơng
Đảng, Ban Chỉ huy ở ngoài, các xứ uỷ, các liên tỉnh uỷ ở Bắc Kỳ,
Trung Kỳ, Nam Kỳ, Ai Lao và tổ chức Đảng ở Cao Miên.
4.2. Phạm vi nghiên cứu của luận án
Luận án nghiên cứu quá trình xây dựng tổ chức Đảng các cấp từ
Trung ơng, xứ uỷ đến liên tỉnh uỷ trên phạm vi Đông Dơng (Bắc
Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Ai Lao, Cao Miên), từ 1930 đến 1945.
5. Cơ sở lý luận, nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Tác giả luận án vận dụng chủ nghĩa duy vật lịch sử và phép biện
chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, các nguyên tắc xây dựng tổ chức
Đảng kiểu mới của Lênin, t tởng Hồ Chí Minh và những quan điểm
của Đảng về xây dựng đảng làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu.
5.2. Nguồn tài liệu
Thực hiện luận án, tác giả chủ yếu sử dụng những nguồn t liệu
sau: các nghị quyết, chỉ thị, báo cáo của Trung ơng, của các xứ uỷ
đã đợc công bố trong Văn kiện Đảng Toàn tập.
Nguồn tài liệu gồm: nghị quyết, chỉ thị, báo cáo, biên bản của
Trung ơng, của các xứ uỷ; các biên bản toạ đàm về vấn đề tổ chức
thời kỳ 1930 - 1945 của các nhân chứng lịch sử; những công văn, chỉ
thị, báo cáo của các cơ quan trấn áp của Chính quyền thuộc địa có
liên quan đến tổ chức Đảng lu tại Cục lu trữ Văn phòng Trung
ơng Đảng; Phòng t liệu Viện Lịch sử Đảng; Ban Tuyên giáo, Ban
T tởng - Văn hoá: Hà Nội, Hồ Chí Minh, Nghệ An,Tác giả cũng
tham khảo những bài nghiên cứu, những hồi ký có liên quan đến đề
tài đã đợc công bố trong các cuốn sách, các kỷ yếu hội thảo khoa
học, trong các tạp chí.

6
5.3. Phơng pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phơng pháp lịch sử, lôgíc, thống kê, so
sánh; chú trọng áp dụng các phơng pháp phê phán sử liệu và phơng
pháp nghiên cứu đặc thù của khoa học Lịch sử Đảng là lấy các văn
bản nghị quyết, chỉ thị gốc của Đảng làm cơ sở đối chiếu với sự kiện,
nhân vật lịch sử trong thực tiễn để phân tích, đánh giá, qua đó tái
hiện quá trình xây dựng tổ chức Đảng các cấp từ Trung ơng, xứ uỷ
đến liên tỉnh uỷ thời kỳ 1930 - 1945.
6. Đóng góp của luận án
6.1. Về t liệu
Su tầm, hệ thống hoá sử liệu thuộc lĩnh vực quan điểm và thực
tiễn xây dựng Đảng về tổ chức thời kỳ 1930 - 1945, trong đó có những
sử liệu mới.
6.2. Về nội dung
Dựng lại quá trình xây dựng, khôi phục và phát triển tổ chức Đảng
các cấp từ Trung ơng, xứ uỷ đến liên tỉnh uỷ thời kỳ 1930 - 1945.
Phân tích phơng pháp xây dựng tổ chức Đảng các cấp từ Trung
ơng, xứ uỷ đến liên tỉnh thời kỳ 1930 - 1945 .
Đa ra một số nhận định chung về tổ chức Đảng các cấp từ
Trung ơng, xứ uỷ đến liên tỉnh uỷ thời kỳ 1930-1945; nhấn mạnh
tính tích cực, chủ động, linh hoạt của các cấp bộ Đảng, vai trò của
đồng chí Nguyễn ái Quốc; đồng thời, bớc đầu đúc kết một số
kinh nghiệm của công tác xây dựng cơ quan lãnh đạo của Đảng
thời kỳ này.
7. ý nghĩa thực tiễn của luận án
7.1. Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần vào việc nghiên
cứu, giảng dạy Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam thêm toàn diện và
sâu sắc hơn.
7.2. Kết quả nghiên cứu của luận án cũng cung cấp thêm luận cứ
khoa học, gợi mở những suy nghĩ có thể vận dụng trong công tác xây
dựng Đảng hiện nay.
8. Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và
phần phụ lục, nội dung luận án gồm 4 chơng, 12 tiết.

7
Nội dung cơ bản của luận án
Chơng 1
thnh lập v đấu tranh khôi phục tổ chức
Đảng cấp trung ơng, xứ uỷ, liên tỉnh uỷ
giai đoạn 1930 - 1935
1.1. Những điều kiện và nhân tố tác động đến quá trình
thành lập và khôi phục tổ chức Đảng cấp Trung ơng, xứ uỷ, liên
tỉnh uỷ giai đoạn 1930 - 1935
1.1.1. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, các luận điểm của Nguyễn
ái Quốc và các qui định về xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng
Trớc sự bế tắc về lý luận, khủng hoảng về đờng lối cứu nớc
và lực lợng lãnh đạo, Nguyễn Aí Quốc ra đi tìm đờng cứu nớc và
sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự ra đời của Đảng và các bản
Điều lệ đợc ban hành trong giai đoạn này là những điều kiện quan
trọng hàng đầu quyết định sự hình thành các cấp uỷ Đảng.
1.1.2. Tổ chức Đảng ở các địa phơng đợc thành lập và liên
tục đợc khôi phục. Phong trào đấu tranh của nhân dân dới sự
lnh đạo của Đảng
Hệ thống tổ chức Đảng ở các địa phơng đợc gây dựng và
khôi phục giai đoạn 1930 -1935 cùng với phong trào đấu tranh của
nhân dân có vai trò quan trọng đối với việc xây dựng cơ quan lãnh
đạo cấp Trung ơng, xứ uỷ và liên tỉnh uỷ thời kỳ này.
1.1.3. Quốc tế Cộng sản chỉ đạo, giúp đỡ Đảng. ảnh hởng
của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế
Quốc tế Cộng sản và phong trào cộng sản quốc tế có những chỉ
đạo, giúp đỡ quan trọng đối với công tác xây dựng cơ quan lãnh đạo
Đảng các cấp. Tuy nhiên, sự chỉ đạo nặng về tập trung và quan điểm
tả khuynh của Quốc tế Cộng sản có những ảnh hởng không tích
cực đến công tác tổ chức của Đảng.
1.1.4. Chính sách khủng bố của chính quyền thuộc địa
Ngay từ khi ra đời, Đảng đã phải đơng đầu với sự khủng bố
ngày càng tăng của thực dân Pháp và tay sai. Chính sách đàn áp của
thực dân Pháp gây cho Đảng nhiều tổn thất nghiêm trọng, gây khó
khăn cho công tác xây dựng tổ chức Đảng.

8
1.2. Thành lập và khôi phục tổ chức Đảng cấp Trung ơng giai
đoạn 1930 -1935
1.2.1. Hình thành Ban Chấp hành Trung ơng lâm thời Đảng
Cộng sản Việt Nam (2-1930- 9-1930)
Dới sự chỉ đạo của Nguyễn Aí Quốc, Ban Chấp hành Trung
lâm thời Đảng Cộng sản Việt Nam hình thành, gồm 7 đồng chí, do
đồng chí Trịnh Đình Cửu phụ trách chung. Phơng pháp thành lập
Ban Chấp hành Trung ơng lâm thời Đảng Cộng sản Việt Nam
không giống với kịch bản của Quốc tế Cộng sản. Trong khi
chuẩn bị Hội nghị lập Trung ơng chính thức, từ tháng 5 đến tháng
9-1930, nhân sự Trung ơng lâm thời có biến đổi, bổ sung một số
uỷ viên thay cho những uỷ viên bị bắt hoặc chuyển công tác.
1.2.2. Hội nghị tháng 10-1930 thành lập Ban Chấp hành
Trung ơng Đảng Cộng sản Đông Dơng
Hội nghị Trung ơng (10-1930) quyết định lấy tên Đảng là
Đông Dơng Cộng sản Đảng; chủ trơng tổ chức các xứ uỷ để chỉ
huy công việc trong mỗi xứ. Hội nghị cử ra Ban Chấp hành Trung
ơng chính thức gồm 7 đồng chí, do Trần Phú làm Tổng Bí th.
Tháng 3 -1931, Ban Chấp hành Trung ơng tổ chức Hội nghị lần
thứ 2 đặt nhiệm vụ chỉnh đốn sức chỉ huy vào hàng cần kíp.
1.2.3. Ban Chấp hành Trung ơng tan vỡ. Quốc tế Cộng sản
thành lập Ban Chỉ huy ở ngoài thực hiện nhiệm vụ của Ban Chấp
hành Trung ơng (1931-1935)
Hoảng sợ trớc cao trào cách mạng 1930-1931, chính quyền
thuộc địa thẳng tay đàn áp. Đảng chịu những thất bại nặng nề, các uỷ
viên Trung ơng lần lợt bị bắt. Đến tháng 4-1931, Ban Chấp hành
Trung ơng không còn.
Thực hiện chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản, Ban Chỉ huy ở ngoài
của Đảng Cộng sản Đông Dơng đợc thành lập vào tháng 3 -1934,
gồm 3 ngời do Lê Hồng Phong làm Th ký. Sau khi thành lập, Ban
Chỉ huy ở ngoài đã xúc tiến các công tác liên lạc với các nơi trong
xứ, chủ trơng khôi phục các xứ uỷ, chuẩn bị Đại hội Đảng.

9
1.2.4. Đại hội Đảng Cộng sản Đông Dơng lần thứ nhất (3-
1935). Ban Chấp hành Trung ơng đợc tái lập, tồn tại song song
với Ban Chỉ huy ở ngoài
Đại hội lần thứ nhất của Đảng đề ra nhiệm vụ củng cố và phát
triển Đảng, thông qua Điều lệ mới của Đảng; bầu Ban Trung ơng gồm
13 ngời. Đồng chí Lê Hồng Phong đợc bầu làm Tổng Bí th. Đại
hội Đảng lần thứ nhất đánh dấu sự phục hồi về mặt tổ chức của Đảng.
Tuy nhiên, sau Đại hội, các uỷ viên Trung ơng lần lợt sa lới mật
thám Pháp, nên đến tháng 9 -1935 Ban Trung ơng không còn.
1.3. Xây dựng và tái lập các xứ uỷ, liên tỉnh uỷ giai đoạn 1930 -1935
1.3.1. Thành lập và khôi phục Xứ uỷ Bắc Kỳ (1930 1935)
Tháng 12-1930, Xứ uỷ lâm thời Bắc Kỳ thành lập. Hoạt động
đến cuối tháng 5 - 1931, Xứ uỷ bị vỡ. Những đồng chí còn lại khôi
phục Xứ uỷ, nhng do địch khủng bố, Xứ uỷ hoạt động đến đầu 1932
thì bị tan vỡ. Giữa năm 1933, Đặc biệt Chấp uỷ Bắc Bắc kỳ đợc
hành lập để lãnh đạo các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn và các tỉnh duyên
hải Bắc Kỳ, nằm dới sự chỉ huy trực tiếp của Ban Chỉ huy ở ngoài.
Đến đầu 1936, thì đầu mối này kết thúc.
1.3.2. Thành lập Xứ uỷ và liên tỉnh uỷ ở Trung Kỳ (1930-1935)
Tháng 12-1930, Xứ uỷ Trung Kỳ đợc thành lập. Tháng 5-1931,
Xứ uỷ Trung Kỳ bị địch khủng bố. Xứ uỷ đợc củng cố lại nhng tồn
tại đến đầu 1932 thì bị đánh phá. Đầu năm 1934, Ban Địa phơng
Chấp uỷ Trung Trung Kỳ đợc thành lập. Tháng 4-1935, Ban Cán sự
Trung Nam đợc thành lập phụ trách các đảng bộ ở Trung và Nam
Trung Kỳ, hoạt động đợc vài ngày, bị địch khủng bố và tan vỡ.
1.3.3. Thành lập và khôi phục Xứ uỷ và các liên tỉnh uỷ ở Nam
Kỳ (1930-1935)
Tháng 2-1930, Ban lâm thời Chấp uỷ Đảng Cộng sản Việt Nam
tại Nam Kỳ đợc thành lập làm nhiệm vụ hợp nhất các tổ chức Đảng
ở Nam Kỳ. Một số liên tỉnh uỷ, đặc uỷ ra đời. Đầu tháng 12-1930, Xứ
uỷ Nam Kỳ đợc thành lập, hoạt động đến giữa năm 1931 thì bị vỡ.
Tháng 4-1932, Xứ uỷ Nam Kỳ đợc lập lại, hoạt động đến tháng 10-
1932, lại bị địch đánh phá. Đầu 1932, Đặc uỷ Long - Châu - Rạch -

10
Hà đợc thành lập, một thời gian sau, bị khủng bố. Đầu 1933, Đặc uỷ
đợc lập lại. Tháng 3-1933, Xứ uỷ lâm thời Nam Kỳ đợc tái lập. Cuối
năm 1933, 2 Địa phơng chấp uỷ miền Đông và miền Tây lần lợt
đợc thành lập. Đến tháng 12-1933, Xứ uỷ Nam Kỳ bị đánh phá.
Tháng 2-1934, Liên địa phơng Chấp uỷ miền Nam Đông
Dơng thành lập lãnh đạo Đảng bộ Nam Kỳ, 4 tỉnh Nam Trung Kỳ
và Cao Miên. Tháng 4-1935, Liên địa phơng Chấp uỷ miền Nam
Đông Dơng giải thể, Xứ uỷ Nam Kỳ đợc lập lại. Cuối tháng 4, đầu
tháng 5-1935, sảy ra vụ Deschamps, Xứ uỷ Nam Kỳ một lần nữa
lại bị tan vỡ. Đến tháng 11-1935, Xứ uỷ Nam Kỳ đợc khôi phục.
1.3.4. Thành lập và khôi phục Xứ uỷ Ai Lao (1930-1935)
Tháng 9-1934, Xứ uỷ lâm thời Ai Lao đợc thành lập. Ra đời
cha đợc bao lâu, Xứ uỷ bị địch khủng bố. Cuối năm 1934, Xứ uỷ
đợc củng cố lại, hoạt động đến tháng 5 - 1935 thì bị đánh phá. Xứ
uỷ Ai Lao đợc tái lập vào tháng 9 -1935.
1.3.5. Xây dựng tỏ chức Đảng ở Cao Miên (1930-1935)
Đầu năm 1931, một chi bộ Đảng đợc tổ chức tại Phnôm Pênh.
Hoạt động đến đầu 1933, chi bộ bị đánh phá. Đầu năm 1934, Đặc uỷ
Hậu Giang cử cán bộ sang Cao Miên tổ chức chi bộ Đảng ở Phnôm
Pênh nhng đến tháng 5-1935, mất liên lạc và tan vỡ.
***
Xây dựng tổ chức Đảng các cấp từ Trung ơng, xứ uỷ đến liên
tỉnh uỷ giai đoạn này là một chặng đờng đấu tranh rất khó khăn và
nhiều tổn thất. Sự ra đời của Ban Chấp hành Trung ơng lâm thời đầu
tiên có vai trò quyết định của Nguyễn Aí Quốc. Quá trình xây dựng
các cơ quan lãnh đạo trên đây hầu nh đợc đặt dới sự chỉ đạo và sự
giúp đỡ to lớn của Quốc tế Cộng sản. Công tác xây dựng các cơ quan
lãnh đạo của Đảng giai đoạn này cũng bộc lộ nhiều hạn chế: lệ thuộc
nhiều vào Quốc tế, thiếu vững chắc; nhân sự nặng về thành phần

11
Chơng 2
KhÔi phục v củng cố tổ chức Đảng cấp
TRUNG ƯƠNG, Xứ Uỷ, LIÊN TỉNH Uỷ GIAI ĐOạN 1936 - 1939

2.1. Những chuyển biến mới của tình hình cách mạng thế giới và
Đông Dơng tác động tới nhiệm vụ khôi phục, củng cố cơ quan lãnh
đạo cấp Trung ơng, xứ uỷ, liên tỉnh uỷ giai đoạn 1936 - 1939
2.1.1. Quốc tế Cộng sản chuyển hớng đấu tranh chống chủ
nghĩa phát xít và nguy cơ chiến tranh. Mặt trận nhân dân lên cầm
quyền ở Pháp
Những chuyển biến của tình hình thế giới, thắng lợi của Mặt trận
nhân dân Pháp, đặc biệt là sự chuyển hớng đấu tranh của Quốc tế
Cộng sản đã tạo những điều kiện thuận lợi cho công tác xây dựng và
phát triển các cơ quan lãnh đạo cấp Trung ơng, xứ uỷ, liên tỉnh uỷ.
2.1.2. Đảng Cộng sản Đông Dơng chuyển hớng đấu tranh
thực hiện mục tiêu dân sinh, dân chủ
Đảng chuyển hớng đấu tranh đòi các quyền tự do, dân chủ. Chủ
trơng của Đảng đã mở ra cao trào đấu tranh rộng khắp. Sự phát triển
của phong trào cách mạng tạo điều kiện, đồng thời đặt ra yêu cầu mới
về việc kiện toàn và phát triển cơ quan lãnh đạo Đảng các cấp.
2.1.3. Một số lợng lớn đảng viên thoát khỏi nhà tù. Tổ chức
Đảng ở các địa phơng đợc khôi phục và phát triển
Đến tháng 10-1937, có 1.532 tù chính trị, phần lớn là chiến sĩ
cộng sản đợc trả tự do, bổ sung vào đội ngũ lãnh đạo của Đảng các
cấp. Đến trớc khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, hệ thống tổ
chức Đảng đã đợc xây dựng ở 52 tỉnh, thành phố, là cơ sở quan
trọng cho công tác khôi phục, củng cố cơ quan lãnh đạo cấp Trung
ơng, xứ uỷ và liên tỉnh uỷ.
2.2. Tái lập và củng cố Ban Chấp hành Trung ơng. Mối
quan hệ giữa Ban Chấp hành Trung ơng và Ban Chỉ huy ở
ngoài giai đoạn 1936-1939
2.2.1. Ban Chỉ huy ở ngoài làm nhiệm vụ của Ban Chấp hành
Trung ơng (9 -1935 10 -1936)
Do Ban Chấp hành Trung ơng tan vỡ, từ tháng 9-1935, Ban Chỉ
huy ở ngoài thực hiện chức năng của Ban Trung ơng. Ban Chỉ huy ở

12
ngoài gặp rất nhiều khó khăn trong công tác, phạm vi lãnh đạo chỉ bó
hẹp trong khu vực miền núi phía Bắc Bắc Kỳ.
2.2.2. Lập lại và củng cố Ban Chấp hành Trung ơng
(10-1936- 8-1939)
Ngày 26 -7- 1936, các đồng chí Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập,
Phùng Chí Kiên họp hội nghị quyết định phân công đồng chí Hà Huy
Tập về Sài Gòn tổ chức Ban Trung ơng. Ngày 12 - 10 - 1936, Ban
Trung ơng đợc tổ chức ở Nam Kỳ do Hà Huy Tập làm Tổng Bí th.
Tháng 3 - 1937, Ban Chấp hành Trung ơng họp hội nghị mở rộng.
Hội nghị chú trọng công tác xây dựng Đảng về tổ chức. Từ 25 - 8 đến
4 - 9 - 1937, Ban Chấp hành Trung ơng họp hội nghị mở rộng, đặt
công tác xây dựng Đảng vào tầm quan trọng hàng đầu trong những
nhiệm vụ cần kíp của Đảng. Hội nghị củng cố Ban Trung ơng, gồm
11 ngời do đồng chí Hà Huy Tập làm Tổng Bí th. Trong các ngày
29, 30 - 3 - 1938, Ban Chấp hành Trung ơng tổ chức Hội nghị toàn
thể kiện toàn Ban Chấp hành Trung ơng Đảng, gồm 11 uỷ viên;
đồng chí Nguyễn Văn Cừ đợc cử làm Tổng Bí th. Từ giữa năm
1938, một số đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng bị bắt. Ban Chấp
hành Trung ơng đợc bổ sung một số đồng chí.
Tháng 9 -1938, đồng chí Nguyễn ái Quốc rời Liên Xô đến
Trung Quốc, vừa tham gia chỉ đạo phong trào cách mạng vừa chuẩn
bị về trong xứ hoạt động.
2.2.3. Mối quan hệ giữa Ban Chấp hành Trung ơng và Ban
Chỉ huy ở ngoài giai đoạn 1936-1939
Ban Chấp hành Trung ơng trong xứ và Ban Chỉ huy ở ngoài bất
đồng về quan điểm lãnh đạo các đoàn thể quần chúng, thể hiện trên 3
điểm về phơng pháp tổ chức, hình thức tổ chức và cách thức lãnh
đạo của Đảng với các đoàn thể quần chúng. Mâu thuẫn giữa 2 cơ
quan có nhiều nguyên nhân, nhng chủ yếu do Quốc tế Cộng sản áp
đặt và kéo dài vai trò của Ban Chỉ huy ở ngoài trong khi Ban Chấp
hành Trung ơng đã đợc lập lại. Hiện tợng 2 Trung ơng đã ảnh
hởng bất lợi đến sự đoàn kết, thống nhất và sự lãnh đạo cách mạng.
Sau khi đồng chí Lê Hồng Phong về trong xứ hoạt động, Ban Chỉ
huy ở ngoài tồn tại làm đầu mối liên lạc với quốc tế. Ngày 25-10-
1938, cơ quan Ban Chỉ huy ở ngoài Ban bị cảnh sát Hồng Kông phát

13
hiện và đánh phá. Đầu 1939, đồng chí Phùng Chí Kiên đến Côn Minh
lập ra Hải ngoại chỉ huy ban để tiếp tục nhiệm vụ của Ban Chỉ huy
ở ngoài. Hải ngoại chỉ huy ban là cơ sở để đồng chí Nguyễn ái
Quốc bắt liên lạc và chuẩn bị trở về nớc hoạt động.
2.3. Khôi phục và phát triển các xứ uỷ, liên tỉnh uỷ giai đoạn
1936-1939
2.3.1. Khôi phục và củng cố Xứ uỷ Bắc Kỳ (1936-1939)
Tháng 8-1936, "

y ban sáng kiến" đợc thành lập, làm nhiệm vụ
của Xứ uỷ lâm thời Bắc Kỳ. Tháng 5 - 1937, Xứ ủy Bắc Kỳ lâm thời
đợc lập lại. Tháng 9 năm 1937 Xứ ủy Bắc Kỳ chính thức đợc tổ
chức. Thực hiện chủ trơng của Trung ơng, cuối tháng 11-1937,
Liên Xứ uỷ Bắc Kỳ-Bắc Trung Kỳ đợc thành lập lãnh đạo các Đảng
bộ ở Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ. Tháng 4 -1938, Liên xứ uỷ Bắc Kỳ -
Bắc Trung Kỳ giải thể. Xứ uỷ Bắc Kỳ đợc lập lại.

2.3.2. Thành lập các liên tỉnh uỷ và khôi phục Xứ uỷ ở Trung
Kỳ (1936 - 1939)
Đầu năm 1936, một số đồng chí thoát khỏi nhà tù đế quốc trở về
trực tiếp lãnh đạo các tỉnh khu vực Trung Trung Kỳ. Cuối năm 1936,
Ban Cán sự liên tỉnh Ngãi - Bình - Phú đợc thành lập. Đầu tháng 4 -
1938, Xứ ủy Trung Kỳ đợc lập lại. Xứ uỷ thành lập các cơ quan để
lãnh đạo các tỉnh liền kề: Liên Tỉnh uỷ Thanh - Nghệ - Tĩnh (5-
1938); Ban Cán sự Nam Trung Kỳ (5 - 1939); Ban Cán sự liên tỉnh
Ngãi - Bình- Phú mở rộng thành Ban Cán sự Nam - Ngãi - Bình - Phú.
2.3.3. Củng cố Xứ uỷ và thành lập các liên tỉnh uỷ ở Nam Kỳ
(1936-1939)
Tháng 12- 1936, Xứ uỷ Nam Kỳ đợc củng cố lại. Từ đầu tháng
2- 1937, Đảng bộ Nam Kỳ tiến hành cơ cấu lại hệ thống tổ chức
Đảng trong xứ. Đến năm 1938, hệ thống của tổ chức Đảng bộ Nam
Kỳ gồm thành 4 Liên tỉnh bộ và 1 Khu bộ do 4 Liên tỉnh uỷ và 1 Khu
uỷ lãnh đạo.
2.3.4. Xây dựng cơ quan lnh đạo ở Ai Lao (1936-1939)
Đầu năm 1936, địch khủng bố, Xứ uỷ bị tan vỡ. Hội nghị Trung
ơng (3 - 1938) giao cho Xứ ủy Trung Kỳ khôi phục cơ quan lãnh

14
đạo ở Ai Lao, nhng do cơ sở Đảng ở Ai Lao bị đánh phá nên chủ
trơng trên không thực hiện đợc.
2.3.5. Gây dựng lại tổ chức Đảng Cao Miên (1936-1939)
Sau khi cơ sở Đảng ở Cao Miên bị vỡ, Trung ơng Đảng có chủ
trơng xây dựng tổ chức Đảng ở Cao Miên, song không đạt kết quả.
***
Tranh thủ những điều kiện thuận lợi, Đảng Cộng sản Đông
Dơng chuyển đổi một số phơng pháp hoạt động và tổ chức của
Đảng, chú trọng xây dựng các cơ quan lãnh đạo cấp Trung ơng, xứ
uỷ, liên tỉnh uỷ. Đảng chủ động hơn trong công tác xây dựng cơ quan
đầu não của Đảng. Công tác xây dựng tổ chức Đảng các cấp từ Trung
ơng, xứ uỷ đến liên tỉnh uỷ giai đoạn này cũng còn một số hạn chế:
sự tồn tại của 2 Trung ơng, có xu hớng thiên về hoạt động công
khai nên bộc lộ về tổ chức.


Chơng 3
Bảo vệ, Kiện ton tổ chức Đảng cấp TRUNG ƯƠNG,
Xứ Uỷ, LIÊN TỉNH Uỷ GIAI ĐOạN 1939 1945

3.1. Cục diện chính trị mới ở Đông Dơng và nhiệm vụ kiện
toàn các cấp uỷ Đảng từ Trung ơng, xứ uỷ đến liên tỉnh uỷ giai
đoạn 1939-1945
3.1.1. Đảng Cộng sản Đông Dơng đặt nhiệm vụ giải phóng
dân tộc lên hàng trớc tiên của cách mạng, xúc tiến chuẩn bị các
điều kiện khởi nghĩa giành chính quyền
Chủ trơng cứu nớc của Đảng đã khơi dậy cao trào cứu quốc sôi
động, tạo điều kiện và đặt ra yêu cầu phải bảo vệ, kiện toàn, nâng cao
sức chiến đấu và đòi hỏi các cơ quan lãnh đạo của Đảng xác lập một
phơng thức tổ chức sát hợp, đủ sức lãnh đạo nhiệm vụ giải phóng
dân tộc.

15
3.1.2. Chính sách và hành động đàn áp của chính quyền thuộc
địa gây ra những tổn thất lớn của Đảng
Sau khi Chiến tranh thế giới thứ II nổ ra, chính quyền thuộc địa
tập trung đánh phá Đảng. Sự khủng bố của kẻ thù gây nên những khó
khăn lớn trong xây dựng và bảo vệ các cơ quan lãnh đạo của Đảng.
3.1.3. Tổ chức Đảng ở các tỉnh, thành liên tục đợc khôi phục,
củng cố và phát triển
Tổ chức Đảng ở các địa phơng nhanh chóng đợc khôi phục và
phát triển. Đây là cơ sở quan trọng cho sự khôi phục, kiện toàn các cơ
quan lãnh đạo cấp Trung ơng, xứ uỷ, liên tỉnh uỷ giai đoạn này.
3.1.4. Liên lạc giữa Đảng Cộng sản Đông Dơng với Quốc tế
Cộng sản bị gián đoạn. Quốc tế Cộng sản giải tán
Do hoàn cảnh chiến tranh, liên hệ giữa Đảng Cộng sản Đông
Dơng với Quốc tế Cộng sản bị gián đoạn. Tháng 5 -1943, Quốc tế
Cộng sản giải tán.
3.2. Kiện toàn Ban Chấp hành Trung ơng giai đoạn 1939 - 1945
3.2.1. Ban Chấp hành Trung ơng chủ trơng rút vào hoạt
động bí mật. Lập lại Ban Chấp hành Trung ơng (1939-1941)
Sau khi chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, Trung ơng Đảng yêu
cầu các cấp bộ Đảng củng cố lực lợng, rút vào bí mật. Hội nghị
Trung ơng tháng 11- 1939 đặc biệt coi trọng công tác xây dựng
Đảng. Đầu năm 1940, 5 ủy viên Trung ơng, trong đó có Tổng Bí th
bị bắt. Ban Chấp hành Trung ơng tan vỡ. Tháng 11- 1940, Trung
ơng lâm thời đợc thành lập, đồng chí Trờng Chinh đợc uỷ
nhiệm làm Quyền Tổng Bí th.
Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ơng tháng 5 - 1941 đề
cao nhiệm vụ xây dựng tổ chức Đảng. Hội nghị bầu Ban Chấp hành
Trung ơng chính thức do đồng chí Trờng Chinh làm Tổng Bí th.
Các đồng chí trong Hải ngoại chỉ huy ban về nớc tham gia Ban
Trung ơng, nên cơ quan này không tồn tại nữa.
3.2.2. Bảo vệ và kiện toàn Ban Chấp hành Trung ơng (1941-1945)
Sau Hội nghị lần thứ 8, một số uỷ viên Trung ơng bị bắt hoặc hy
sinh. Ban Th
ờng vụ Trung ơng tổ chức ra An toàn khu để bảo vệ
Trung ơng. Đứng chân ở An toàn khu, Ban Thờng vụ Trung ơng
chỉ đạo khôi phục, phát triển hệ thống tổ chức của Đảng bộ Bắc Kỳ;

16
chắp mối liên lạc với Trung Kỳ, Nam Kỳ. Tháng 2 - 1943, Hội nghị
Ban Thờng vụ Trung ơng đặt công tác xây dựng Đảng vào tình thế
khẩn cấp, trong đó có nhiệm vụ đấu tranh chống A.B. Sau khi đồng
chí Hoàng Văn Thụ bị bắt (25- 8-1943), từ tháng 10 - 1943 đến đầu
năm 1945, một số đồng chí lần lợt tham gia Trung ơng.
Ngày 14 - 15 tháng 8 - 1945, Hội nghị toàn Đảng họp tại Tân
Trào bổ sung 4 uỷ viên Trung ơng. Ban Chấp hành Trung ơng gồm
10 đồng chí, do đồng chí Trờng Chinh làm Tổng Bí th.
3.3. Củng cố và tái lập các xứ uỷ, liên tỉnh uỷ giai đoạn 1939-1945
3.3.1. Củng cố Xứ uỷ và lập các liên tỉnh uỷ ở Bắc Kỳ (1939-1945)
Sau khi Chiến tranh thế giới thứ II nổ ra, Xứ uỷ Bắc Kỳ rút vào
hoạt động bí mật. Từ tháng 12-1939 đến tháng 9 -1940, các liên tỉnh
lần lợt đợc tổ chức. Tháng 12-1940, Xứ uỷ lâm thời đợc chỉ định.
Lúng túng trớc tình hình địch khủng bố, Xứ uỷ lâm thời đã đề ra
những chủ trơng đấu tranh manh động. Trung ơng kịp thời phê
bình và chấn chỉnh về mặt tổ chức. Đầu năm 1944, Liên Tỉnh uỷ Cao
- Bắc - Lạng đợc thành lập. Cuối tháng 3 - 1945, Liên Tỉnh uỷ Cao -
Bắc - Lạng kết thúc hoạt động.
Sau ngày 9 -3- 1945, Xứ uỷ Bắc Kỳ đợc phân công phụ trách 13
tỉnh, thành phố ở Bắc Kỳ và 3 tỉnh thuộc Đệ tam chiến khu.
3.3.2. Khôi phục Xứ uỷ và các liên tỉnh uỷ ở Trung Kỳ (1939 - 1945)
Sau khi Chiến tranh thế giới thứ II nổ ra, Xứ uỷ Trung Kỳ phân
tán. Tháng 2- 1940, Xứ uỷ đợc củng cố lại. Cuối 1940, Liên Tỉnh uỷ
Thanh - Nghệ - Tỉnh đợc khôi phục, tồn tại một thời gian rất ngắn
thì bị khủng bố. Đến tháng 9 - 1941, hầu hết các xứ uỷ viên sa vào tay
địch. Theo chỉ thị của Trung ơng, Xứ uỷ lâm thời Trung Kỳ đợc lập
lại ngay sau đó nhng hoạt động đến giữa năm 1942, bị đánh phá.
Sau ngày 9-3 -1945, Trung ơng Đảng chỉ định Uỷ ban thống
nhất Đảng Trung Kỳ để thống nhất Đảng bộ, nhng không đạt kết
quả. Trong tháng 6, 7 -1945, các tỉnh ở Trung và cực Nam Trung Kỳ
thành lập các ban liên lạc để thống nhất hoạt động. Theo chủ trơng
của Đảng, Xứ uỷ Trung Kỳ đợc lập lại vào 31- 8 - 1945.
3.3.3. Khôi phục Xứ uỷ và các liên tỉnh uỷ ở Nam Kỳ (1939-1945)
Sau thất bại của cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, Xứ uỷ bị tan vỡ.
Tháng 1- 1941, Xứ uỷ Nam Kỳ đợc lập lại. Tháng 3 - 1941, Liên

17
tỉnh Hậu Giang đợc tổ chức. Từ tháng 6 đến tháng 8, Xứ uỷ và Liên
tỉnh uỷ Hậu Giang bị vỡ. Liên tỉnh uỷ Hậu Giang sau đó đợc lập lại
nhng hoạt động không đạt nhiều kết quả. Vào đầu năm 1942, Liên
tỉnh uỷ miền Đông ra đời hoạt động đến cuối năm 1942 thì bị địch
đánh phá.
Đầu năm 1941, một số đồng chí bị giam ở căng Tà Lài vợt ngục
ra ngoài hoạt động. Tháng 10-1943, các đồng chí này cùng với một
số đồng chí ở Nam Kỳ họp hội nghị thành lập Xứ uỷ Nam Kỳ do Trần
Văn Giàu làm Bí th. Xứ uỷ ra báo Tiền phong để tuyên truyền
cách mạng. Giữa năm 1943, một nhóm các đồng chí tập hợp lại để
hoạt động ra báo Giải phóng làm cơ quan tuyên truyền Mặt trận
Việt Minh. Tháng 10 - 1943, nhóm Giải phóng thành lập Ban Cán
sự miền Đông. Tháng 10 - 1944, Ban Cán sự miền Đông bị địch đánh
phá. Cũng trong thời gian này, ở miền Tây Nam Kỳ Nam Kỳ hình
thành một nhóm đảng viên, gồm: Nguyễn Thị Thập, Tám Cảnh Sau
ngày Nhật đảo chính, nhóm Nguyễn Thị Thập tổ chức hội nghị lập
Xứ uỷ lâm thời Nam Kỳ vào 25 - 3 - 1945. Tháng 5 -1945, Xứ uỷ
lâm thời tổ chức hội nghị bầu lại Xứ uỷ. Xứ uỷ lấy báo Giải phóng
làm cơ quan tuyên truyền Mặt trận Việt Minh ở Nam Kỳ.
Hai Xứ uỷ đã liên hệ để bàn việc thống nhất, song không thành
mà nguyên nhân chủ yếu là sự hiểu lầm, nghi ngờ giữa 2 bên. Tháng
7- 1945, dới sự chỉ đạo của Trung ơng, Ban hành động chung đợc
thành lập, tuy nhiên Ban chỉ nặng về danh nghĩa. Tổng khởi nghĩa
tháng 8 -1945, ở Nam Kỳ có 2 xứ uỷ lãnh đạo.
3.3.4. Xây dựng Xứ uỷ lâm thời Ai Lao (1939-1945)
Cuối 1944, các đồng chí trung kiên trong Hội Việt kiều cứu quốc
đã thành lập Đội tiên phong, đến giữa năm 1945 chuyển thành Xứ uỷ
lâm thời Ai Lao.
3.3.5. Xây dựng cơ sở của Đảng cho Cao Miên (1939-1945)
Năm 1943, Ban Thờng vụ Trung ơng chủ trơng giao cho các
đồng chí Nam Kỳ giúp xây dựng cơ sở ở Cao Miên. Tuy nhiên, do
nhiều nguyên nhân, công tác xây dựng cơ sở Đảng ở Cao Miên không
thực hiện đợc.
***
Dới sự chỉ đạo trực tiếp của Nguyễn ái Quốc, Đảng Cộng sản
Đông Dơng thực hiện công cuộc khôi phục, bảo vệ, kiện toàn cơ

18
quan Trung ơng, các xứ uỷ và các liên tỉnh uỷ đáp ứng đòi hỏi cấp
bách ngày càng cao của cuộc vận động cứu quốc. Tính thống nhất
trong tổ chức và vai trò lãnh đạo của cấp Trung ơng đợc thể hiện rõ
nét. Công tác xây dựng các cơ quan lãnh đạo cấp Trung ơng, xứ uỷ,
liên tỉnh uỷ giai đoạn này có một số hạn chế, nhất là sự chia rẽ về mặt
tổ chức trong Đảng bộ Nam Kỳ và Đảng bộ Trung Kỳ.
Chơng 4
Đặc điểm, vai trò v một số kinh nghiệm
xây dựng tổ chức Đảng cấp Trung ơng, xứ uỷ,
liên tỉnh uỷ thời kỳ 1930 -1945
4.1. Đặc điểm xây dựng tổ chức Đảng các cấp từ Trung ơng,
xứ uỷ đến liên tỉnh uỷ thời kỳ 1930 - 1945
4.1.1. Xây dựng cơ quan lnh đạo các cấp của Đảng từ Trung
ơng, xứ uỷ đến liên tỉnh uỷ thời kỳ 1930 - 1945 là một quá trình đấu
tranh đầy mất mát, hy sinh, thành lập rồi khôi phục và bảo vệ, ngày
càng chủ động, sáng tạo và tiến bộ trong công tác tổ chức
Trong lịch sử ra đời và phát triển của Đảng, đây là thời kỳ các cơ
quan lãnh đạo bị tổn thất nhiều nhất. Xây dựng tổ chức Đảng cấp
Trung ơng, xứ uỷ, liên tỉnh uỷ là một quá trình đấu tranh thành lập
gắn liền với củng cố, khôi phục gắn liền với bảo vệ. Đây cũng là thời
kỳ công tác tổ chức, cán bộ của Đảng có nhiều tiến bộ, Đảng ngày
càng tự chủ hơn, độc lập hơn trong công tác tổ chức.
4.1.2. Phơng thức xây dựng các cơ quan lnh đạo đa dạng,
linh hoạt với cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, hoạt động bí mật là chính
Trong thời kỳ 1930 -1945, các cơ quan lãnh đạo cấp Trung ơng,
xứ uỷ, liên tỉnh uỷ đợc xây dựng theo những cách thức phong phú,
đa dạng; cơ cấu gọn nhẹ, hoạt động bí mật là chính, phù hợp với tình
hình hoàn cảnh bị địch thờng xuyên đánh phá.
4.1.3. Các cơ quan lnh đạo cấp Trung ơng, cấp xứ uỷ, liên
tỉnh uỷ không ổn định, thiếu thống nhất ở một số thời điểm
Do sự khủng bố của kẻ thù, cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng
không ổn định, luôn có những biến động về cơ cấu tổ chức và nhân

19
sự. Trong một số thời đoạn, xuất hiện hiện tợng thiếu thống nhất cơ
quan lãnh đạo.
4.1.4. Công cuộc xây dựng tổ chức Đảng các cấp từ Trung
ơng, xứ uỷ đến liên tỉnh uỷ thời kỳ 1930 - 1945 chịu sự chi phối và
những tác động nhiều chiều của Quốc tế Cộng sản
Quá trình xây dựng các cơ quan lãnh đạo của Đảng thời kỳ 1930-
1945, gắn chặt với sự chỉ đạo, giúp đỡ to lớn của Quốc tế Cộng sản.
Tuy nhiên, Đảng cũng bị chi phối bởi t tởng tả khuynh của Quốc
tế cộng sản, bị lệ thuộc về công tác tổ chức, cán bộ một thời gian.
4.1.5. Công cuộc xây dựng tổ chức Đảng các cấp từ Trung
ơng, xứ uỷ đến liên tỉnh uỷ thời kỳ 1930 - 1945 gắn liền với vai
trò, đóng góp to lớn của đồng chí Nguyễn ái Quốc và đội ngũ cán
bộ lnh đạo xả thân vì Đảng, vì dân tộc
Nguyễn ái Quốc sáng lập Đảng và trực tiếp chỉ đạo thành lập
Ban Chấp hành Trung ơng đầu tiên của Đảng. Thành công của quá
trình xây dựng cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng gắn liền với uy tín,
vai trò, những đóng góp to lớn của Ngời. Thời kỳ này cũng thể hiện
rõ vai trò và sự đóng góp của các Tổng Bí th.
4.2. Vai trò của tổ chức Đảng cấp Trung ơng, xứ uỷ, liên
tỉnh uỷ đối với công tác xây dựng Đảng thời kỳ 1930 - 1945
4.2.1. Cơ quan lnh đạo cấp Trung ơng, xứ uỷ, liên tỉnh uỷ
thời kỳ 1930-1945 là rờng cột bảo đảm cho hệ thống tổ chức của
Đảng thống nhất và phát triển, tiêu biểu cho năng lực và sức chiến
đấu của Đảng
Cơ quan lãnh đạo các cấp trên đây, nhất là cơ quan Trung ơng,
chỉ đạo thành lập nhiều cấp bộ Đảng, chỉ định nhiều cơ quan chỉ huy
của Đảng trong phạm vị phụ trách, trực tiếp giải quyết những vấn đề
nảy sinh trong công tác tổ chức, bảo đảm sự tính thống nhất và đoàn
kết của các cấp bộ Đảng.
4.2.2. Tổ chức Đảng cấp Trung ơng đóng vai trò quyết định
trong việc xác định và lnh đạo thực hiện đờng lối cách mạng của
Đảng, bảo đảm sự thống nhất t tởng và hành động của toàn Đảng
trên cơ sở đờng lối chính trị của Đảng
Trung ơng đóng vai trò quyết định trong việc xác đinh và lãnh
đạo thực hiện đờng lối cách mạng của Đảng, nhất là ở những thời

20
điểm có tính bớc ngoặt. Tổ chức Đảng cấp Trung ơng là nhân tố
chính bảo đảm sự thống nhất t tởng và hành động của toàn Đảng
trên cơ sở đờng lối chính trị của Đảng.
4.2.3. Các xứ uỷ, liên tỉnh uỷ đóng vai trò quan trọng trong
lnh đạo các cấp bộ Đảng trên địa bàn đợc phân công phụ trách
Các xứ uỷ, các liên tỉnh không chỉ thực hiện đờng lối của Đảng
mà còn đóng vai trò duy trì hệ thống tổ chức Đảng, đề ra và thực hiện
những quyết định có quan hệ đến vận mệnh Đảng, đến phong trào
cách mạng trong xứ, trong vùng.
4.2.4. Tổ chức Đảng các cấp từ cấp Trung ơng, xứ uỷ đến liên
tỉnh uỷ thời kỳ 1930 - 1945 trực tiếp tổ chức và lnh đạo các phong
trào đấu tranh của quần chúng, thực hiện thắng lợi đờng lối
chính trị của Đảng
Đảng hoạt động bí mật, cha nắm chính quyền, tổ chức Đảng cấp
Trung ơng, xứ uỷ thời kỳ này đã trực tiếp hoặc lãnh đạo các cấp bộ
trực thuộc phát động và tổ các phong trào đấu tranh của nhân dân.
4.3. Một số kinh nghiệm đúc kết từ quá trình xây dựng tổ
chức Đảng các cấp từ Trung ơng, xứ uỷ đến liên tỉnh uỷ thời kỳ
1930 - 1945
4.3.1. Thờng xuyên xây dựng, củng cố, kiện toàn tổ chức các
cơ quan lnh đạo của Đảng từ Trung ơng đến các cấp uỷ trên cơ
sở xác lập đờng lối chính trị đúng đắn, gắn kết chặt chẽ với xây
dựng t tởng và phẩm chất chính trị.
4.3.2. Xây dựng các cơ quan lnh đạo từ Trung ơng đến các
cấp uỷ Đảng phải xuất phát sự từ điều kiện cụ thể của dân tộc;
phải có cơ cấu và hình thức tổ chức hợp lý, linh hoạt, phù hợp
thực tiễn, có một cơ chế hoạt động khoa học.
4. 3.3. Coi trọng việc kiện toàn về tổ chức, tăng cờng năng lực
và sự lnh đạo của Ban chấp hành Trung ơng


21
Kết luận

1. Trong lịch sử hơn 75 năm ra đời, trởng thành, lãnh đạo cách
mạng Việt Nam, thời kỳ 1930 - 1945 thể hiện đậm nét trí tuệ, sức
sống mãnh liệt của Đảng, bản lĩnh cách mạng kiên cờng và tiến bộ
vợt bậc trong công tác tổ chức của những ngời cộng sản Việt Nam.
Đi theo con đờng cách mạng vô sản, phong trào đấu tranh giải
phóng dân tộc Việt Nam nhất thiết phải xây dựng một chính Đảng vô
sản làm hạt nhân lãnh đạo. Quán triệt nguyên lý tổ chức Đảng kiểu
mới của chủ nghĩa Lênin, Đảng Cộng sản Việt Nam (từ tháng
10 - 1930 đến 2 - 1951 đổi tên là Đảng Cộng sản Đông Dơng) nhận
thức rõ tầm quan trọng của công tác tổ chức, nhất là công tác xây
dựng các cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng, trong đó có cơ quan
lãnh đạo cấp Trung ơng, xứ uỷ, liên tỉnh uỷ, coi đó là một trong
những nhiệm vụ hàng đầu của Đảng.
Từ nhận thức đúng đắn về vai trò, vị trí và sự cần thiết của các
cơ quan lãnh đạo trên đây, trong suốt quá trình lãnh đạo công cuộc
đấu tranh giành chính quyền, bên cạnh việc xây dựng cơng lĩnh,
đờng lối cách mạng, lãnh đạo các phong trào đấu tranh của nhân
dân, Đảng luôn có chủ trơng định rõ cách thức xây dựng, khôi
phục, tăng cờng và bảo vệ các cơ quan này. Hội nghị thành lập
Đảng (đầu năm 1930), Hội nghị Ban Chấp hành Trung ơng Đảng
(tháng 10 - 1930), Đại hội Đảng lần thứ nhất (3 - 1935), Hội nghị
lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ơng (5 - 1941), Hội nghị Ban
Thờng vụ Trung ơng (2 - 1943), Hội nghị đại biểu toàn Đảng
(8 - 1945)và hầu hết các hội nghị quan trọng khác của Đảng đều
đề ra chủ trơng xây dựng tổ chức Đảng, bảo vệ cơ quan Trung
ơng, xứ uỷ, các liên tỉnh uỷ. Trong vòng 15 năm, Đảng đã ban
hành ít nhất 4 bản Điều lệ trong đó qui định chức năng, nhiệm vụ,
cơ cấu và cách thức tổ chức, phơng pháp hoạt động của các cơ
quan lãnh đạo trên cơ sở tuân thủ và vận dụng sáng tạo các nguyên
tắc tổ chức của chính Đảng kiểu mới của chủ nghĩa Lênin, phù hợp
với hoàn cảnh hoạt động bí mật, thờng xuyên bị địch khủng bố,

22
phù hợp với đặc điểm cụ thể một xã hội thuộc địa, kinh tế nông
nghiệp lạc hậu, đại đa số dân c là nông dân.
2. Quá trình xây dựng tổ chức Đảng các cấp từ Trung ơng, xứ
uỷ đến liên tỉnh uỷ thời kỳ 1930 - 1945 trải qua 3 giai đoạn: giai đoạn
thành lập và đấu tranh khôi phục từ 1930 đến 1935; giai đoạn khôi
phục và củng cố từ 1936 đến 1939; giai đoạn bảo vệ và kiện toàn từ
1939 đến 1945.
Quá trình đó là một chặng đờng đấu tranh liên tục đầy mất mát
và hy sinh, thành lập rồi khôi phục và bảo vệ, ngày càng chủ động,
sáng tạo và tiến bộ. Các cấp bộ Đảng, các đảng viên phát huy tinh
thần cách mạng, tích cực, chủ động trong công tác xây dựng các cơ
quan lãnh đạo của Đảng. Công tác xây dựng các cơ quan lãnh đạo cấp
Trung ơng, xứ uỷ, liên tỉnh uỷ gắn liền với công tác xây dựng tổ
chức Đảng trong các địa phơng, gắn liền với việc xây dựng các đoàn
thể quần chúng, tổ chức các phong trào đấu tranh của quần chúng.
Công tác tổ chức, xây dựng các cơ quan lãnh đạo của Đảng thời
kỳ này đạt đợc những tiến bộ vợt bậc. Từ việc tuân thủ gần nh
tuyệt đối sự lãnh đạo của Quốc tế Cộng sản, nhất là trong giai đoạn
1930 - 1935, qua một quá trình kiểm nghiệm, sang giai đoạn 1936-
1939, nhất là giai đoạn 1939-1945, Đảng đã từng bớc khắc phục
những lệ thuộc, máy móc, giáo điều, lúng túng về nhiều mặt trong
công tác tổ chức, công tác cán bộ; Đảng ngày càng trởng thành, độc
lập, tự chủ trong xây dựng cơ quan đầu não. Đây cũng là thời kỳ thế
hệ cán bộ lãnh đạo chủ chốt trởng thành nhanh chóng trong công tác
xây dựng Đảng và thực tiễn đấu tranh chống các âm mu, hành động
phá hoại tổ chức Đảng và sự đàn áp, khủng bố của đối phơng.
Công tác xây dựng các cơ quan lãnh đạo của Đảng thời kỳ này
gắn liền với sự trởng thành về t duy chính trị của Đảng. Sự phát
triển của lý luận cách mạng giải phóng dân tộc tác động trực tiếp tới
sự thống nhất, vững mạnh của Ban Chấp hành Trung ơng và mối
quan hệ giữa Đảng với các tầng lớp nhân dân, với toàn dân tộc đợc
gia tăng vợt bậc.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét