Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

thủ lĩnh Nguyễn hàng Chi và vai trò của ông trong vận động duy Tân ở Nghệ Tĩnh năm 1908

Science & Technology Development, Vol 10, No.09 - 2007

Trang 76
THỦ LĨNH NGUYỄN HÀNG CHI VÀ VAI TRÒ CỦA ÔNG TRONG CUỘC
VẬN ĐỘNG DUY TÂN Ở NGHỆ TĨNH NĂM 1908
Đinh Xuân Lâm
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HN
TÓM TẮT: Trên cơ sở những tư liệu mới khảo sát ở địa phương, bài báo đã bổ sung
thêm phần nghiên cứu về giai đoạn cuối của phong trào chống thuế năm 1908 ở Trung kỳ diễn
ra trên địa bàn Thanh - Nghệ tĩnh và thủ lĩnh Nguyễn Hàng Chi - một trong những tấm gương
yêu nước có ảnh hưởng quan trọ
ng trong phong trào này ở Nghệ Tĩnh đầu thế kỷ XX.

Phong trào Chống Thuế năm 1908 ở
Trung Kỳ là một sự kiện rất đáng lưu ý
trong lịch sử cách mạng cận đại Việt Nam
về cả hai phương diện quy mô cũng như
tính chất. Phong trào này đã được nghiên
cứu khá tỉ mỉ ở địa bàn trung tâm của nó là
Quảng Nam. Nhưng giai đoạn cuối của
phong trào đó khi lan ra tớ
i Thanh - Nghệ
Tĩnh thì còn ít người chú ý, ngoài vài dòng
ghi chép sơ sài của Huỳnh Thúc Kháng,
Phan Châu Trinh trong các tác phẩm của
các cụ viết về thời kỳ này (có lẽ do các cụ
bị bắt trước khi phong trào bùng lên ở xứ
Nghệ nên không có tư liệu nhiều chăng).
Nghệ Tĩnh, quê hương của Phan Bội
Châu, người cầm đầu khuynh hướng bạo
động ở Việt Nam đầu thế kỷ XX, là một
địa bàn chiến lược của Duy Tân h
ội. Trong
lúc tập trung mọi cố gắng đưa người xuất
dương học tập để chuẩn bị võ trang bạo
động, Phan Bội Châu vẫn không từ bỏ
những bình thức hoạt động vốn được coi là
đặc trưng của khuynh hướng cải cách. Trên
đất Nghệ Tĩnh lúc đó, bên cạnh các hội
buôn của các sĩ phu ít nhiều thuộc phái cải
cách như hội buôn Mộng Hanh của Lê Văn
Huân ở
chợ Trổ (Đức Thọ), hội buôn của
Lê Đình Phương (Tú Phương) ở phố Xuân
Tân (Can Lộc) thì cũng có Triêu Dương
thương quán của Ngô Đức Kế, Đặng
Nguyên Cẩn ở Vinh được thành lập với sự
thoả thuận của Phan Bội Châu. Vì thế ở
Nghệ Tĩnh, bên cạnh những hoạt động chủ
yếu của Duy Tân hội là chuẩn bị bạo động
thì sự h
ỗ trợ của các hoạt động cải cách là
một trong những cơ sở đánh giá Phong
trào Chống Thuế ở Nghệ Tĩnh. Trong cuốn
Vụ kháng thuế ở Trung Kỳ năm 1908,
Huỳnh Thúc Kháng đã nhận xét: ''Nghệ
Tĩnh và Nam Ngãi, từ phái văn học đến
phái cần Vương nghĩa hội thường một
mạch câu thông với nhau. Đến phong trào
tân học cải cách cùng
Đông học cán dùi
TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH&CN, TẬP 10, SỐ 09 - 2007

Trang 77
trống một nhịp với nhau, dân Nghệ Tĩnh hò
reo như, gió đưa điều!!!”.
1
Nguyễn Văn
Xuân thì khẳng định: ''Dù sao, chúng ta
thấy duy nhất ở Thanh Nghệ hai phái
Quang Phục và Duy Tân còn có sự liên hệ
nhau. Còn như ở Quảng và Hà Nội, hai
phái tách rời nhau để để làm việc, chỉ giúp
nhau trên mỗi một khoản bí mật tiền bạc
cho du học sinh, nhưng cũng nơi có nơi
không… Còn các hoạt động khác, họ đi
riêng nhau, có khi chống nhau ''cơ hồ nổ
lên đảng tranh'', như Phan Bội Châu từng
ghi nhận trong T
ự phán (trang 87)''.
2
Khác với các địa phương, ngay trước
khi phong trào chống thuế ở Nghệ Tĩnh
bùng nổ thì phần lớn cặc sĩ phu cải cách
lãnh đạo phong trào này đều đã bị bắt.
Tháng l l năm 1907 Tiến sĩ trẻ tuổi Ngô
Đức Kế bị bắt đầu tiên.
3
Rồi đến lượt Lê
Văn Huân, Đặng Văn Bá. Riêng Đốc học
Đặng Nguyên Cẩn trước đó đã bị đẩy vào
Bình Định nhưng rồi cũng bị đưa ra Hà
Tĩnh xét xử vào đầu năm 1908.
Vì vậy những ngườii lãnh đạo phong
trào Chống Thuế ở Nghệ Tĩnh thực sự là
các đảng viên Duy Tân hội. Đầu năm
1908, khi phong trào Đông Du bắt đầu gặp
khó khăn thì lự
c lượng võ trang bí mật của
Phan Bội Châu ở Nghệ Tĩnh vẫn tồn tại do
Ngư Hải (Đặng Thái Thân), Thần Sơn
(Ngô Quảng), Đại Đẩu (Lê Quyên) nắm.
Lực lượng này đã bám theo dọc vùng sông
Lam núi Hồng, chưa kể một bộ phận nhỏ
của họ do Phạm Văn Ngôn phụ trách đă
kéo ra Yên Thế (Bắc Giang) với Đề Thám.
Tháng năm 1907, nghĩa quân đã đẩy mạnh
hoạ
t động chế tạo vũ khí ở vùng Vinh - Xã
Đoài (cơ sở của Lê Võ, Đặng Văn Bá), và
móc nối được với các ''ổ'' đề kháng ở Yên
Thành, Diễn Châu. Ngoài ra, để che mắt
địch, Duy Tân hội đã nắm lấy các sĩ phu
trẻ đầy nhiệt huyết để thông qua họ lãnh
đạo phong trào Chống Thuế và hướng
phong trào này đi theo ý đồ của mình. . . ''
Trong phong trào Chống Thuế ở Hà
Tĩnh, đáng chú ý nhất là hai huyện Can
L
ộc và Nghi Xuân. Phong trào ở Can Lộc
gắn liền với tên tuổi của Nguyễn Hàng Chi
(1886-1908).
4
Ông quê ở thôn Đông
Thượng, xã Ích Hậu, tổng Phù Lưu, huyện
Can Lộc, nay thuộc huyện Lộc Hà, tỉnh Hà
Tĩnh. Khi đi học, ông lại có tên là Đồ Nam
và Đồ Tuy. Ông nổi tiếng hay chữ khắp
vùng, nhưng không chịu đi thi, tính khí rất
ngang tàng. Ông có người anh là Nguyễn
Nhiệt Chi, một sĩ phu yêu nước, đồng sáng
lập Công ty nước mắm Liên Thành và
Trường Dục Thanh ở Phan Thiết, nên ông
sớm say mê phong trào Duy Tân Ở Nghệ
Tĩnh hiệ
n còn lưu truyền nhiều câu chuyện
lý thú về ông xung quanh việc đọc sách,
đề thơ, hát phường vải, hát ả đào. . . Đặc
biệt, ông là người đầu tiên ở Nghệ Tĩnh
dám cắt bỏ búi tó trên đầu, mặc áo ngắn,
Science & Technology Development, Vol 10, No.09 - 2007

Trang 78
bất chấp sự can ngăn của nhiều người
(Hàng Chi ơi hỡi Hàng Chi/Cõi trần hồ dễ
như mi trọc đầu). Có tài liệu còn cho biết
ông có góp sức vào việc thành lập Công ty
Liên Thành của anh mình.
Nhân chuyến đi Nam Ngãi năm 1907,
Nguyễn Hàng Chi đã chịu ảnh hưởng của
cuộc vận động Duy Tân sôi nổi ở đây. Khi
trở về, ông lại được một số yếu nhân của
Duy Tân h
ội ở nghệ Tĩnh như Phạm Văn
Thản giác ngộ nên. đi hăng hái đi các nơi
tuyên truyền cho phong trào này để hường
ứng phong trào Chống Thuế đã bùng nổ ở
Quảng Nam. Ông đã thảo tờ Thông tri
bằng Hán văn gửi đi các nơi trong đó có
những câu ca ngợi nhân dân Quảng Nam
và lên án chính sách sưu thuế tàn bạo của
thực dân Pháp: “ Đáng yêu thay dân tỉnh
Quảng Nam!
Đáng kính thay dân tỉnh Quả
ng Nam!
Đáng học thay dân tỉnh Quảng Nam!
Giặc Pháp mượn tiếng bảo hộ ngược
đãi dân ta thật đã quá lắm. Hàng năm nộp
xong sưu thuế rồi, mình không còn chiếc
áo lành, bụng không được ăn cơm no, đi
nơi khác tìm ăn khổ hết chỗ nói. Nếu
không một phen đứng dậy tỏ tình kêu nài
thì suu thuế hẳn còn tăng mãi. Dân ta
mười nhà có đến chín nhà trống không,
khó lòng gánh chịu được. Nếu cứ
ngồi mà
đợi chết, chi bằng vùng dậy để tìm lối
sống… Định lấy ngày 18 tháng 4 năm nay
dân chúng các huyện cùng kéo đến tỉnh,
xông vào Tòa sứ, đòi bó sưu thuế ”
5
Nguyễn Hàng Chi cải trang làm người
bán quế cùng với các đồng chí đi khắp nơi
dán tờ Thông tri này. Ông còn viết thư ép
bọn hào lý phải huy động dân chúng tham
gia. Tuy còn trẻ nhưng uy tín của ống rất
lớn. Dân chúng trong tỉnh không ai còn lạ
người thanh niên thông minh đă từng lãnh
đạo cuộc làm reo phá kỳ thi miễn thuế thân
(dao) cho Nho sinh năm 1907 tại tỉnh lỵ
thành công, cũng như là tác giả của nhiều
câu đối rất sâu cay chửi thẳng tên bọ
n tay
sai độc ác của pháp. Nguyễn Hàng Chi đã
sáng tác một bài vè để kêu gọi nông dân
chống thuế:
“…Nào anh, nào chị,
Nào chú, nào o,
Việc dân dân lo.
Đừng cho ai biết!
Dân ta đói rét,
Cực khổ trăm bề,
Sưu thuế nặng nề
Không gì nuôi sống
Khổ dân ta nói,
Khổ dân ta kêu, '. . .
Giảm thuế, giảm sưu,.
Cho dân sống với! ”
Nguyễn Hàng Chi hoạt động rất táo
bạo vì có hậu thuẫn vững chắc trong tỉnh là
Duy Tân hội. Trong các châu bản về vụ
TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH&CN, TẬP 10, SỐ 09 - 2007

Trang 79
này, chúng ta sẽ thấy danh sách một số hào
lý đã tham gia phong trào do sức thuyết
phục của Nguyễn Hàng Chi như Lý trưởng
Hạ Lôi (tức Phạm Tấn Xoang), Lý Tư,
Hương Hạp (Thạch Hà).
6
Ở Can Lộc,
ngoài Nguyễn Hàng Chi còn có ba người
quan trọng nữa là Trần Ty, Phan Hiệp và
Nguyễn Lương Nhân cũng tham gia phong
trào chống thuế.
7
Đúng ngày 18 tháng 4 năm Duy Tân
thứ 2 (tức ngày 23 tháng 5 năm 1908),
Nguyễn Hàng Chi dẫn đầu hơn 600 người
ăn mặc lách rưới, đội nón cời, cơm đùm
cơm nắm kéo đến huyện lỵ, khiến tên tri
huyện Phạm Doãn Văn sợ hãi phải bỏ
trốn.
8
Đoàn người lại kéo, về tỉnh lỵ nhưng
khi đi gần đến Toà thị chính họ bị cánh
quân của Trung úy Gaillard chặn lại và vây
bắt được Nguyễn Hàng Chi
9
. Đoàn biểu
tình bị lính đánh đập dữ dội buộc phải giải
tán: Tuy nhiên, giữa tên Công sứ với quần
chúng đã có một cuộc đối thoại lý thú về
nguyên nhân thúc đẩy của cuộc biểu tình
này
10
.
Nguyễn Hàng Chi đã phối hợp với
Trịnh Khắc Lập (1870 - 1908) là nhân vật
lãnh đạo chủ chốt của phong trào chống
thuế ở Nghi Xuân. Khắc Lập hiệu là
Cương Trục, tên chữ là Tam Thập, quê ở
thôn Đông Hội, tổng Phan Xá (Nay là thôn
Minh Khai, xã Xuân Thành, huyện Nghi
Xuân, tĩnh Hà Tĩnh). Ông là con nhà
nghèo, đã đỗ khóa sinh, làm nghề dạy học
và bốc thuốc ở quê nhà, ông có người chú
là Trịnh Văn dạy học ở Quả
ng Nam nên
ông cũng sớm hiểu biết về phong trào Duy
Tân ở đây.
Theo sự thỏa thuận với Nguyễn Hàng
Chi, Trịnh Khắc Lập đă tập hợp một số
anh em, bà con, như Trịnh Yên, Trịnh
Xuyên, hai anh em của người bạn là Phan
Chiên (tức Tĩnh), Phan Cẩn (về sau Chiên,
Cẩn đều bị giam ở Lao Bảo)
11
hưởng ứng.
Cuộc vận động của Trịnh Khắc Lập ở
Nghi xuân cũng táo bạo như cuộc vận
động của Nguyễn Hàng Chi ở Can Lộc.
Ngày 22 tháng 5 năm 1908, ngay giữa chợ
Giang Đình, ông đã diễn thuyết ủng hộ tờ
Thông Tri của Nguyễn Hàng Chi, kêu gọi
các nhà Nho bỏ buổi bình văn phù phiếm,
vận động nhân dân lên huyện, lên tỉnh kêu
sưu. Ngày hôm sau (23-5-1908) như đă
thỏa thu
ận với Nguyễn Hàng Chi từ trước,
ông cùng Phan Chiên, Phan Cẩn cầm đầu
hơn 200 người
12
làm náo động chợ huyện,
kéotới huyện đường bắt trói Tri huyện giải
về tỉnh kêu sưu. Đoàn biểu tình đi được độ
20km đến Cồn Gồ thì gặp cánh quân của
tên Babut. Tên này vờ chấp nhận yêu sách
của đoàn biểu tình, rồi đề nghị Trịnh Khắc
Lập quay lại huyện lị để giải quyết. Vì
thiếu kinh nghiệm đấu tranh, những người
biểu tình
đă cởi trói cho Tri huyện lôi vào
huyện đường đàm phán.Tên Babut liền trở
Science & Technology Development, Vol 10, No.09 - 2007

Trang 80
mặt cho bắt các thủ lĩnh và giải tán đoàn
biểu tình.
Cùng ngày hôm đó và ít ngày sau, ở
nhiều nơi trong tỉnh cũng nổ ra những cuộc
biếu tình kêu sưu với các mức độ khác
nhau ớ các xã Kỳ Văn, Kỳ Thư (Kỳ Anh),
Đông Môn, Ngọc Lang, Trung Tiết, Phù
Việt (Thạch Hà) đã có những cuộc biểu
tình tương đối lớn dưới sự chỉ huy của
Nguyễn Từ Lương,
Đặng Cường, Lê Quát,
Trần Chỗi. Tại Đức Thọ, anh em Phạm
Văn Ngôn, Phạm Văn Thản cùng với Đinh
Văn Tư, Phạm Văn Thảo, Đinh Văn Cẩn
tập hợp nông dân các xã Đông Thái, Trưng
Lễ, Yên Vượng cũng định kéo về phối hợp
với Nguyễn Hàng Chi, nhưng vì phong
trào ở Can Lộc và Nghi Xuân đã bị dập tắt
nên phải giải tán.
Như vậy là, trên
địa bàn Hà Tĩnh đã
liên tiếp nổ ra nhiều cuộc biểu tình kêu
sưu, tuy không có qui mô lớn như trong
Nam Ngãi, nhưng đã có sự tổ chức khá
thống nhất của Duy Tân hội. Song mặt
khác, khi vấp phải sự đối phó tàn ác của
quân thù, những cuộc biểu tình ấy đã sớm
tan rã, lý đo cơ bản là sự liên hệ thiếu chặt
chẽ của Duy Tân hội.
Chúng ta còn thấy một điểm n
ữa là
những cuộc biểu tình chống thuế ở đây nổ
ra tuy muộn nhưng rất quyết liệt và đặc
biệt là có chuẩn bị từ trước, chứ không
phải là tự phát như ở Nam Ngãi. Thực ra
đó chỉ là bề mặt của một âm mưu khởi
nghĩa do các đảng viên Duy Tân hội trong
tỉnh chủ trì. Từ đầu năm 1908, trong lúc ở
ngoài nước thực dân Pháp
đang tìm mọi
cách dập tắt phong trào- Đông du thì các
thủ lĩnh Duy Tân hội ở Nghệ Tĩnh đã
chuẩn bị lực lượng đánh úp tỉnh thành này.
Thêm vào đó, lực lượng vũ trang của họ
chưa bị sứt mẻ bao nhiêu trừ một hai thủ
lĩnh bị bắt vào cuối năm 1907.
Ở Nghệ An, Duy Tân hội đã móc nối
được với một nhân vật mới đáng chú ý là
Chu Tr
ạc (tức Châu Đình Trạc, 1845 -
1925). Ông quê ở xóm Nương Chè, xã
Trường Thành (nay là Hoa Thành), huyện
Yên Thành. Cha làm Đề lệnh, mẹ dệt rải,
Ông đỗ Cử nhân võ ở Thanh Hóa (1879),
từng tham gia khởi nghĩa với Nguyễn
Xuân Ôn (1885 - l887). Sau khi Phan Đình
Phùng mất (1895), một số người đă đi theo
ông như Phan Văn Chở, .Phan Văn Tráng,
Đội Phủ, Đội Địa. Lực lượng của Chu Trạc
lúc ấy khá lớn, đóng rải rác ở Yên Thành,
Diễn Châu, Chu Trạc đã nhiều lần cử Nho
Chớ qua Xiêm mua hoặc nhận súng do
nhóm Đặng Thúc Hứa gửi về. Ông còn
được một số binh lính yêu nước đi theo
như Cửu Lương ở Thanh Chương làm Cai
khố đỏ đồn Chợ Rạng. Ông cũng lập hiệu
buôn ở Chợ Dinh (Yên Thành), bán lâm
thổ sản ở Diễn Châu. Theo kế hoạch đã
định, khi phong trào Chống Thuế nổ ra, lực
TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH&CN, TẬP 10, SỐ 09 - 2007

Trang 81
lượng của ông sẽ cùng lực lượng của Ngư
Hải làm nòng cốt hạ thành.Nghệ An bằng
hai mũi tấn công Một mũi do Chu Trạc
chỉ huy đánh xuống Nghi Lộc, rồi cùng với
Ngư Hải, Nho Chiến từ Nam Đàn tiến về
Vinh. Nếu cuộc tiến công không thành
công, đại bộ phận nghĩa quân sẽ kéo ra
Yên Thế (Bắc Giang), nơi Phạm Văn Ngôn
đã đặt cơ
sở từ trước, tham gia với Đề
Thám. Do sự phản bội của Đội Địa, kế
hoạch đó bị bại lộ. Quân Pháp bất ngờ ập
tới bao vây. Chu Trạc phải cho chôn vũ khí
ở Cồn Mèo, đốt giấy tờ, cờ quạt. Địch vây
quá chặt, sau gần một đêm cầm cự, Chu
Trạc đành phải ra hàng để tạo điều kiện
cho một b
ộ phận nghĩa quân thoát hiểm ra
ngoài Sau đó, một số nhân vật như Nho
Chớ, Nho San, Cử Tịnh
13
. . ., và ngay cả
Chu Trạc nữa bề ngoài hình như không có
gì liên quan đến vụ Chống Thuế, đều bị
thực dân Pháp đày ra Côn Đảo, vì kẻ thù
đã nắm chắc được họ là những người hoạt
động trong phong trào này. Chu Trạc là
một trong nhũng người bị khép tội nặng
nhất… ''Châu Trạc, 59 tuổi, ở thôn Nam,
xã Trường Thành, huyện Yên Thành, tỉnh
Nghệ An, can về tội nguỵ khắc ấn kiếm
niêm yết r
ủ toan phiến hoặc, tỉnh ấy xin
giảm tử, xử phạt quân cải khổ sai 13 năm”.
14
Thật đáng tiếc! Do tổ chức lỏng lẻo
nên các cơ hội chính trị hiếm có mà phong
trào Chống Thuế tạo nên đã không được
Duy Tân hội sử dụng có hiệu quả. Ở Hà
Tĩnh, Ngô Quảng, Lê Quyên, Phạm Văn
Thản còn nắm được hai nhân vật có lực
lượng đáng kể là Đội Phấn (Hồ Bá Phấn)
15

và Quản Truyền (Đinh Văn Truyền).Hai
ông này có dưới quyền mình hàng trăm
lính khố xanh trong thành Hà Tĩnh.
Duy Tân hội chọn việc phá thành Hà
Tĩnh là hướng chính vì ở đây địch đang
giam giữ nhiều nhân vật quan trọng của
phong trào như Ngô Đức Kế, Đặng
Nguyên Cẩn, Lê Văn Huân, Đặng Văn Bá
và sau ngày 23 tháng 5 năm l908 thì cả
Nguyễn Hàng Chi và Trịnh Khắc Lập nữa,
người thì chờ đưa ra Côn Lôn, lên Lao
Bảo, kẻ thì ch
ờ chịu án chém. Phải chăng
vì thế mà các hoạt động Chống Thuế ở Hà
Tĩnh lúc ấy có vẻ sôi nổi hơn, gấp rút hơn
ở Nghệ An?
Kế hoạch cướp trại lính và phá ngục
lần đầu tiên của nghĩa quân không thành vì
các cuộc biểu tình chống thuế đã không thể
gây một biến cố lớn tại tỉnh lỵ như dự liệu,
và cũng có thể sau khi phát hiện ra v
ụ Chu
Trạc, bọn thực dân càng tăng công đàn áp
phong trào, hơn nữa chúng đã khá chủ
động trong việc này. Trong khi đó các sĩ
phu Duy Tân hội có lẽ lại chưa có dịp làm
quen với một khái niệm mới về khởi nghĩa
vũ trang có sự kết hợp giữa hai lực lượng
chính trị và quân sự. Cơ hội đã qua đi
Science & Technology Development, Vol 10, No.09 - 2007

Trang 82
nhanh chóng. Nhưng với lực lượng khá lớn
còn lại, đến khoảng tháng 9 năm 1909,
Ngư Hải, Ngô Quảng, Đội Quyên, Tú
Ngôn lại quyết định tấn công Hà Tĩnh lần
thứ hai. May mắn là trong âm mưu đánh
chiêm thành Hà Tĩnh lần thứ nhất, lực
lượng của Đội Phấn chưa bị lộ, có trên 100
lính tập, tổng cộng lại nghĩa quân cũng còn
gần 400 tay súng. Họ dự định tấn công
địch vào giữa đêm trung thu. Kế hoạch lần
này khá tỉ mỉ, nghĩa quân phân công cho
từng người làm từng việc như: gác Tòa sứ,
giữ chân bọn cai đội, cắt dây điện thoại
(giao cho Lê Đình Phương). Họ cũng may
sẵn cờ vàng, khổ lớn có hai chữ Quang
Phục. Nghĩa quân dự tính có thể giữ thành
Hà Tĩnh trong một tháng, dù địch có phản
công; chưa kể đến còn có sự vận động ở

Quảng Bình và Nghệ .An kịp thời phối
hợp. Nhung cũng như lần trước, kế hoạch
đánh thành Hà Tĩnh lần này cũng nhiều lần
thay đổi và thông tin 1iên lạc lại không kịp
thời, ăn khớp nên việc thực hiện có nhiều
trục trặc. Cho nên nghĩa quân ở ngoài chỉ
còn cách phối hợp đưa được một phần lực
lượng của Đội Phấn ra ngoài. Quản Truyề
n
bị bắt, Ngô Quảng phải đưa tất cả lực
lượng lên vùng Tam Lễ, rồi rút hẳn lên căn
cứ Bố Lư (Anh Sơn) cố thủ.
Sự kết hợp chặt chẽ giữa các cuộc biểu
tình chống thuế ôn hòa với hình thức khởi
nghĩa vũ trang là nét đặc sắc nhất của
phong trào yêu nước ở Nghệ Tĩnh trong
tháng 5-1908. Phong trào Chống Thuế
Nghệ Tĩ
nh là hiện tượng đẹp nhất thể hiện
sự kết hợp của hai phái bạo động và cải
lương, mặc dù phong trào này ở đây nổ ra:
muộn, số lượng các cuộc biểu tình không
lớn, nhung lại bị địch đàn áp rất dữ đội.
Trong cuốn Trung Kỳ dân biến thỉ mạt ký,
Phan Châu Trinh viết: “…Lúc dẫn đi đày,
thân sĩ Quảng Nam được thong thả hơn,
các t
ỉnh khác tuy có bị ngược đãi, nhưng
không thái quá. Chỉ có thân sĩ hai tỉnh Hà
Tĩnh và Nghệ An giao cho quan binh áp
giải, trói cả tay chân không cho cựa quậy,
lấy trành khiêng xuống tàu thủy rồi cũng
không mở dây, sắp hàng trên boong tàu
khát không cho uống, mưa to gió lớn ướt
lạnh, không dời đi nơi khác”
16
. Bọn thực
dân Pháp cũng lợi dụng cơ hội này để đàn
áp đã man phong trào yêu nước ở Nghệ
Tĩnh. Ngoài các nhân vật có tên tuổi bị bắt
từ trước, Nghệ Tĩnh là địa phương có con
số chịu án lớn nhất, trong đó có nhiều
người bi đày đi Côn Lôn và Lao Bảo như
Ngô Đức Kế, Đặng Nguyên Cẩn, Lê Văn
Huân, Đặng Văn Bá, Trần Ty, Phan Hiệp,
Phan Tấn Xoang, Phạ
m Ngô Đồng, Phan
Chiên, Pha Cẩn, Chu Trạc, Nguyễn Tử
Thản, Nho San, Ký Long, Tú Ngôn, Tú
Kiên, Cử Tịnh, Hoàng Xuân Hành, Lê Võ
17
.Mức tuyên án cũng lại nặng hơn các nơi
khác, đều từ chung thân đến 9 năm khổ sai.
TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH&CN, TẬP 10, SỐ 09 - 2007

Trang 83
Đặc biệt cả Thị lang bộ Lễ là Ngô Liên
(cha của Ngô Đức Kế) và Nguyễn Chuyên
(cha của Nguyễn Hàng Chi) cũng bị kết tội
không biết dạy con, phải về hưu (Ngô
Liên) hoặc bị xử 100 trượng, phạt 50 đồng
(Nguyễn Chuyên)
18
. Ngoài ra còn có hai
nhân vật là dư đảng Cần Vương cũng bị
bắt và chịu án là Võ Văn Phương (tức Đội
Phương) ở Nghệ An và Cao Đạt (ở Hà
Tĩnh), vốn là một thủ lĩnh có tên tuổi trong
cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng. Điều
này đã nói lên sự phong phú của những lực
lượng tham gia Phong trào Chống Thuế ở
Hà Tĩnh.
Xin nói thêm về cái chết rất anh dũng
của hai nhân v
ật tiêu biểu cho phong trào
chống thuế của xứ Nghệ là Nguyễn Hàng
Chi và Trịnh Khắc Lập. Hai người cùng bị
bắt một ngày và bị tuyên án tử hình. Thái
độ của Nguyễn Hàng Chi trước kẻ thù vô
cùng can đảm: Theo cụ Tú Phương thì
chính mắt cụ trông thấy: “… Cái quần lụa
trắng của Nguyễn Hàng Chi mặc đã
nhuộm máu đào mất hai phần mà ông vẫn
chưa chịu nhận….” Nhưng sau đó, ông lạ
i
nhận hết tội về mình mà không chịu khai
báo với địch các đồng chí khác. Nguyễn
Hàng Chi bị chém tại thị xã Hà Tĩnh ngày
15 tháng Sáu âm lịch tức ngày 13 tháng 7
năm 1908. Còn Trịnh Khắc Lập bị chém
bêu đầu ngay tại chợ Giang Đình nơi quê
nhà. Ngày nay, phần mộ hai ông vẫn còn.
Riêng đối với Nguyễn Hàng Chi, ông
hy sinh lúc mới 23 tuổi, chưa có vợ con, và
cái chết rất oanh liệt của ông đã gây nên
một mối cảm kích lớ
n trong các tầng lớp
nhân dân xứ Nghệ. Nhiều sĩ phu có tên
tuổi và nhân dân đương thời đã sáng tác
nhiều thơ, phú, câu đối, bài ca ca ngợi ông.
Được tin ông hy sinh, các nhà văn thân bị
giam ở nhà lao Hà Tĩnh (như Ngô Đức Kế,
Lê Văn Huân, Đặng Văn Bá, Đặng
Nguyên Cẩn …) đã có đôi câu đối khóc
ông.
“Khẩu năng ngôn cảm ngôn, thủ năng
thư cảm thư, phiên phiên khả ái tai, nhân
cách đô tòng tân học xuất;
Vấn quân thê vị thê, v
ấn quân tử vị tử,
phẫn phẫn hô vi giả, huyết ngân chi vị
quốc dân lưu”.
Tạm dịch:
Miệng nói giỏi dám nói, tay viết giỏi
dám viết, phơi phới đáng yêu thay, nhân
cách đúc nên từ học mới
Hỏi vợ anh chưa vợ, hỏi con anh chưa
con, uất uất làm gì thế, máu tươi tuôn chảy
với đồng bào
20
.
Sau đây, xin giới thiệu một bài thơ
viếng ông của một tác giả vô danh tìm thấy
trong số thơ ca để lại trên mộ ông:
Bài ca truy điệu Nguyễn Hàng Chi
''Kênh giang nhất bạch diện
Mặt tài hoa mà phết thiếu niên.
Science & Technology Development, Vol 10, No.09 - 2007

Trang 84
Vì quốc dân mưu lợi quyền,
Tờ hợp khiếu khắp Can, La, Kỳ, Cẩm
21

Miền Hoan hải ầm ran tiếng sấm,
Khắp trời Nam cây cỏ đua chào.
Giữa Hồng Lam ngang dọc biết từng
bao,
Niềm ái chủng thấp cao khôn giãi tỏ.
Ngỏng mỏ ngoắt đuôi chi lắm chó,
Hít hơi dê mà ghét bỏ chúa nhà đây.
Chí anh hùng hăm hở mới ra tay,
Trách con tạo ghét người chi lắm thế!
Niên hoa kể hai mươi bốn lẻ,
Tháng Sáu rằm gương để ngàn thu.
Tam đảo ngũ chu chi tài tử,
Lấ
y một manh mà chống chọi vơi non
sông.
Chữ Duy Tân hồ dễ ai đồng,
Dạ khảng khái thu dương hằng rắc
rắc.
Nhiệt thành trung ái ngã An Nam.
Man di nhân ngãi không thèm,
Làm trai nên phải học làm như ông
Trung kỳ đệ nhất anh hùng”
LEADER NGUYEN HANG CHI & HIS ROLE IN DUY TAN CAMPAIGN IN
NGHE TINH, 1908

Dinh Xuan Lam
Uinversity of Social Sciences & Humanities, VNU-HN
ABSTRACT: Based on new materials found in the region, this article researches
the last stage of the campaign against tax in 1908 in Thanh – Nghe Tinh province,
Central Vietnam and Leader Nguyen Hang Chi – one of the patriots that have got an
important role in the campaign in Nghe Tinh in early 20
th
century.



TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH&CN, TẬP 10, SỐ 09 - 2007

Trang 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Nguyễn Quốc Thắng, Huỳnh Thúc Kháng: Con người và thơ văn, Sài Gòn, tr.321,
(1972)
[2]. Nguyễn Văn Xuân, Phong trào Duy Tân, Sài Gòn, tr. 271, 272, (1970)
[3]. Nguyễn Thế Anh, Phong trào kháng thuế miền Trung năm 1908 qua các châu bản
triều Duy Tân, Sài Gòn, Bản án số 43a, 40b, tr.133-135, (1973)
[4]. Về Nguyễn Hàng Chi, chúng tôi dựa vào tài liệu mới sưu tầm ở địa phương và gia
đình.
[5]. Trần Huy Liệu, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 03,
tr.53, 54, (05/1959)
[6]. Nguyễn Thế Anh, Phong trào kháng thuế miền Trung năm 1908 qua các châu bản
triều Duy Tân, Sài Gòn, Bản án số 42, tr.139, (1973); Nguyễn Quốc Thắng, Huỳnh
Thúc Kháng: Con người và thơ văn, Sài Gòn, tr.322, (1972)
[7]. Nguyễn Thế Anh, Phong trào kháng thuế miền Trung năm 1908 qua các châu bản
triều Duy Tân, Sài Gòn, Bản án số 41, tr.137, (1973)
[8]. Nguyễn Thế Anh, Phong trào kháng thuế miền Trung năm 1908 qua các châu bản
triều Duy Tân, Sài Gòn, Bản án số 41, tr.137, (1973)
[9]. Tài liệu tham khảo lịch sử cách m
ạng cận đại Việt Nam, tập III, Hà Nội, tr.63, (1955)
[10]. Theo tài liệu sưu tầm ở địa phương
[11]. Nguyễn Thế Anh, Phong trào kháng thuế miền Trung năm 1908 qua các châu bản
triều Duy Tân, Sài Gòn, Bản án số 38, tr.129, (1973)
[12]. Nguyễn Thế Anh, Phong trào kháng thuế miền Trung năm 1908 qua các châu bản
triều Duy Tân, Sài Gòn, Bản án số 38, tr.129, (1973)
[13]. Nguyễn Quốc Thắng, Huỳnh Thúc Kháng: Con người và thơ văn, Sài Gòn, tr.322,
(1972)
[14]. Nguyễn Th
ế Anh, Phong trào kháng thuế miền Trung năm 1908 qua các châu bản
triều Duy Tân, Sài Gòn, Bản án số 47, tr.151, (1973)
[15]. Việt Nam nghĩa liệt sử, Hà Nội, tr.206-209, (1972).
[16]. Phan Châu Trinh, Trung kỳ dân biến thị mạt ký, Sài Gòn, tr.93, (1973).

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét