I. HIỂU BIẾT CƠ BẢN VỀ CẤU TRÚC VỐN.
1.1 Khái niệm.
1.1.1 Cấu trúc vốn.
CTV là sự kết hợp giữa nợ (debt) – nợ ngắn hạn thường xuyên, nợ dài hạn và vốn
cổ phần (equity) – cổ phần ưu đãi, vốn cổ phần thường trong tổng nguồn vốn dài hạn mà
DN có thể huy động được, để tài trợ cho các dự án đầu tư.
CTV đề cập tới cách thức DN tìm kiếm nguồn tài chính thông qua các phương án
kết hợp giữa bán cổ phần, quyền chọn mua cổ phần, phát hành trái phiếu và đi vay.
1.1.2 Cấu trúc vốn tối ưu.
CTVTƯ là phương án mà theo đó, DN sử dụng một hỗn hợp nợ và vốn cổ phần sao
cho tối thiểu hoá chi phí sử dụng vốn, tối thiểu hoá rủi ro và tối đa hoá giá trị DN.
Một CTV phù hợp là quyết định quan trọng với mọi DN; không chỉ bởi nhu cầu tối
đa hoá lợi ích thu được từ các cá nhân và tổ chức liên quan tới DN và hoạt động của DN,
mà còn bởi tác động của quyết định này tới năng lực kinh doanh của DN trong môi trường
cạnh tranh.
CTVTƯ liên quan tới việc đánh đổi giữa chi phí và lợi ích của DN. Tùy thuộc vào
từng giai đoạn phát triển của DN, mức độ rủi ro và gia tăng cạnh tranh trong ngành gắn
liền với sự phát triển, xu hướng hội nhập kinh tế toàn cầu mà CTVTƯ của DN sẽ có sự
điều chỉnh phù hợp.
1.1.3 Chi phí sử dụng vốn.
Chi phí sử dụng vốn là giá phải trả cho việc sử dụng nguồn tài trợ.
Chi phí sử dụng vốn là tỷ suất sinh lợi mà các nhà đầu tư trên thị trường yêu cầu khi đầu tư
vào chứng khoán của DN.
Chi phí sử dụng vốn còn được hiểu là tỷ suất sinh lợi tối thiểu mà DN sẽ đòi hỏi khi thực
hiện một dự án đầu tư mới.
Chi phí sử dụng vốn là một liên kết giữa quyết định tài trợ và quyết định đầu tư.
Chi phí sử dụng vốn của một DN là tỷ lệ dùng để chiết khấu dòng tiền bình quân của DN,
qua đó tác động tới giá trị của DN.
Chi phí sử dụng vốn được đo lường tại một thời điểm xác định trước.
Chi phí sử dụng vốn là chi phí cho nguồn vốn huy động và sử dụng, được đo lường bằng
tỷ suất doanh lợi mà DN cần phải đạt được trên nguồn vốn huy động để giữ không làm
thay đổi số lợi nhuận dành cho cổ đông cổ phiếu thường hay lợi nhuận trên vốn tự có.
1.1.3.1 Chi phí sử dụng vốn vay dài hạn: là chi phí được tính sau thuế khi DN
tăng nguồn tài trợ dài hạn bằng vay nợ.
2
- Chi phí sử dụng nợ vay trước thuế : (r
D
)
Công thức tính gần đúng : r
D
=
2
0
0
PFV
n
PFV
R
+
−
+
Trong đó : R : Lãi vay hàng năm
FV : Mệnh giá của trái phiếu
P
0
: Giá thị trường của trái phiếu
n : Kỳ hạn của trái phiếu
- Chi phí sử dụng vốn vay sau thuế : (r
*
D
)
r
*
D
= r
D
(1 – T)
Trong đó, T là thuế suất thuế thu nhập DN.
1.1.3.2 Chi phí sử dụng vốn CSH.
- Chi phí sử dụng vốn cổ phần ưu đãi : (r
p
) là chi phí ở hiện tại của việc sử dụng cổ
phần ưu đãi để gia tăng nguồn vốn.
r
p
=
'
p
p
P
D
Trong đó : P
p
: Mệnh giá cổ phần ưu đãi
P’
p
: Doanh thu thuần từ việc phát hành cổ phần ưu đãi,
P’
p
= P
p
(1 - % chi phí phát hành cổ phần ưu đãi)
D
p
: cổ tức cổ phần ưu đãi
- Chi phí sử dụng vốn cổ phần thường: (r
e
) là một mức sinh lợi mà DN phải tạo ra
để duy trì giá cổ phần của mình.
Sử dụng mô hình định giá tăng trưởng đều – mô hình Gordon, ta có :
r
e
=
0
1
P
D
+ g
Trong đó : P
0
: Giá cổ phần thường
D
1
: Cổ tức dự kiến vào cuối năm 1
r
e
: Tỷ suất sinh lợi cần thiết của cổ phần thường
g : Tỷ lệ tăng trưởng đều hàng năm trong cổ tức
Sử dụng mô hình định giá tài sản vốn CAPM, ta có :
r
e
= r
f
+ [
β
x (r
m
– r
f
)]
Trong đó : r
m
: Tỷ suất sinh lợi thị trường của các tài sản.
r
f
: Tỷ suất sinh lợi phi rủi ro
- Chi phí sử dụng vốn từ phát hành mới cổ phần thường : (r
ne
)
3
r
ne
=
'
0
1
P
D
+ g
1.1.3.3 Chi phí sử dụng vốn bình quân: (WACC) là chi phí bình quân gia
quyền của tất cả các nguồn tài trợ dài hạn mà DN đang sử dụng.
WACC = (W
D
* r
*
D
) + (W
P
* r
P
) + (W
e
* r
e
hay r
ne
)
Trong đó: W
D
: Tỷ lệ % nguồn tài trợ bằng nợ vay dài hạn trong CTV
W
p
: Tỷ lệ % nguồn tài trợ bằng cổ phần ưu đãi trong CTV
W
e
: Tỷ lệ % nguồn tài trợ bằng cổ phần thường trong CTV
Lưu ý: - W
D
+ W
P
+ W
e
= 1
- Tỷ trọng vốn cổ phần thường W
e
được nhân với chi phí của thu nhập giữ lại r
e
hay chi phí sử dụng vốn cổ phần thường phát hành mới r
ne
.
1.1.3.4 Chi phí cận biên sử dụng vốn: là chi phí trung bình của các đồng vốn mới
được huy động trong một giới hạn nhất định của số vốn được huy động
1.1.4 Đ òn bẩy kinh doanh .
Trong lĩnh vực tài chính, thuật ngữ “đòn bẩy” được sử dụng thường xuyên. Cả nhà
đầu tư lẫn DN đều sử dụng đòn bẩy để tạo ra tỷ suất sinh lợi trên tài sản hoạt động lớn
hơn. Tuy nhiên, sử dụng đòn bẩy kinh doanh không hề là một sự đảm bảo chắc chắn thành
công và khả năng xuất hiện các khoản lỗ cũng tăng lên nếu nhà đầu tư hay DN ở vào một
vị thế có tỷ lệ đòn bẩy nợ cao.
DN thường hay sử dụng 2 loại đòn bẩy: đòn bẩy hoạt động và đòn bẩy tài chính.
1.1.4.1 Đòn bẩy hoạt động.
Liên quan đến kết quả của các cách kết hợp khác nhau giữa chi phí cố định và chi
phí biến đổi. Nói rõ ràng hơn thì tỷ lệ giữa chi phí cố định và chi phí biến đổi mà DN sử
dụng đã quyết định đòn cân nợ hoạt động bao nhiêu.
Một DN có tỷ lệ giữa chi phí cố định so với chi phí biến đổi lớn hơn 1 thì được cho
là sử dụng đòn bẩy hoạt động nhiều hơn. Và ngược lại nếu chi phí biến đổi của một DN
lớn hơn chi phí cố định thì DN được cho là có đòn bẩy ít hoạt động hơn.
Đặc điểm ngành mà DN đang hoạt động cũng là một nhân tố ảnh hưởng đến việc
DN quyết định nên sử dụng bao nhiêu đòn bẩy nợ. Một DN với doanh số ít mà có lợi
nhuận biên tế cao được xem là có sử dụng đòn bẩy hoạt động cao. Mặt khác, một DN có
doanh số lớn với mức lợi nhuân biên tế thấp được xem là sử dụng đòn bẩy thấp.
1.1.4.2 Đòn bẩy tài chính.
Xuất hiện khi DN quyết định tài trợ cho phần lớn tài sản của mình bằng nợ vay.
Các DN chỉ làm điều này khi nhu cầu vốn cho đầu tư của DN khá cao mà vốn CSH không
đủ để tài trợ. Khoản nợ vay của DN sẽ trở thành khoản nợ phải trả, lãi vay được tính dựa
4
trên số nợ gốc này. Một DN chỉ sử dụng nợ khi nó có thể tin chắc rằng tỷ suất sinh lợi trên
tài sản cao hơn lãi suất vay nợ.
Đòn bẩy tài chính là tỷ lệ giữa vốn đi vay so với tổng số vốn hiện có ( đôi khi
người ta gọi là hệ số nợ)
Đòn bẩy tài chính dùng để đo lường mức độ góp vốn của CSH với số nợ vay
Mức độ ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính
S
0
(G – V) – F
M
tc
=
S
0
(G – V) – F – I
Trong đó:
S
0
là sản lượng sản xuất tiêu thụ trong kỳ
G là giá bán sản phẩm
V là chi phí khả biến
F là chi phí cố đinh
I là lãi tiền vay phải trả
Đòn bẩy tài chính đề cập tới việc DN sử dụng nguồn tài trợ từ các khoản vay thay
cho vốn cổ phần. Các phép đo đòn bẩy tài chính là công cụ để xác định xác suất DN mất
khả năng thanh toán các hợp đồng nợ. DN càng nợ nhiều thì càng có nguy cơ cao mất khả
năng hoàn thành nghĩa vụ trả nợ. Nói cách khác, nợ quá nhiều sẽ dẫn tới xác suất phá sản
và kiệt quệ tài chính cao.
Về phía tích cực, nợ là một dạng tài trợ tài chính quan trọng và tạo lợi thế “tấm
chắn thuế” cho DN do lãi suất tiền vay được tính như một khoản chi phí hợp lệ và miễn
thuế. Khi DN vay nợ, chủ nợ và CSH cổ phần của DN có thể gặp phải những xung đột về
quyền lợi. Chủ nợ có thể muốn DN thực hiện các khoản đầu tư ít rủi ro hơn so với mong
muốn của những người đầu tư vào cổ phiếu của DN.
Chỉ số nợ. Chỉ số nợ được tính bằng việc chia tổng nợ cho tổng tài sản. Cũng có thể sử
dụng một vài cách khác để diễn tả việc sử dụng nợ của DN như chỉ số nợ-vốn cổ phần và
số nhân vốn cổ phần (tính bằng tổng tài sản chia cho tổng vốn cổ phần).
Các chỉ số nợ cung cấp thông tin bảo vệ chủ nợ trong tình huống mất khả năng thanh toán
của DN và thể hiện năng lực tiếp nhận các nguồn tài chính từ bên ngoài đáp ứng nhu cầu
đầu tư và phát triển của DN. Tuy nhiên, nợ được thể hiện bảng cân đối kế toán chỉ đơn
thuần là một khoản chưa trả. Do vậy, không có bất kỳ sự điều chỉnh nào về mức lãi suất áp
dụng (có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với thời điểm phát sinh khoản nợ) hoặc điều chỉnh
do biến động rủi ro được thể hiện. Trên thực tế, giá trị kế toán của các khoản nợ có thể
khác rất nhiều so với giá trị thị trường. Một số hình thức nợ không được thể hiện trên bảng
cân đối kế toán như nghĩa vụ trả tiền hưu trí hay thuê tài sản.
5
Bao phủ lãi vay. Chỉ số bao phủ lãi vay được tính bằng cách chia thu nhập (trước thuế và
lãi vay) cho lãi vay phải trả. Chỉ số này chú trọng khả năng DN tạo ra đủ thu nhập để trang
trải lãi vay.
Lãi vay là khoản chi phí DN buộc phải vượt qua nếu không muốn phá sản. Chỉ số
bao phủ lãi vay liên quan trực tiếp tới khả năng trả lãi vay của DN. Tuy nhiên, tính toán sẽ
chính xác hơn khi cộng thêm khấu hao vào thu nhập và tính tới các khoản chi phí tài chính
khác như trả gốc vay và thanh toán phí thuê tài sản.
Một gánh nặng nợ lớn chỉ trở thành vấn đề nếu dòng tiền của DN không đủ để thực
hiện các nghĩa vụ trả nợ. Điều này liên quan tới dòng tiền trong tương lai vốn rất không ổn
định. DN với dòng tiền trong tương lai có khả năng dự báo ổn định được đánh giá có năng
lực vay nợ tốt hơn DN có dòng tiền cao nhưng bất ổn. Do vậy, xem xét biến động của
dòng tiền là điều cần thiết và quan trọng. Một biện pháp phổ biến là tính toán độ lệch
chuẩn của dòng tiền so với dòng tiền bình quân.
=> Một DN đồng thời có tỷ lệ đòn bẩy hoạt động và đòn bẩy tài chính cao thì sẽ có rủi ro
trong đầu tư khá lớn. Một tỷ lệ đòn bẩy hoạt động cao có nghĩa là DN đang tạo ra ít doanh
thu nhưng có lợi nhuân biên tế trên mỗi đơn vị sản phẩm cao. Điều này tiềm ẩn rủi ro cho
việc dự báo chính xác doanh thu trong tương lai. Chỉ cần một sự sai lệch nhỏ trong dự báo
doanh thu so với thực tế diễn ra thì nó đã có thể tạo ra một khoảng cách sai lệch đáng kể
giữa dòng tiền thực tế và dòng tiền theo dự toán.
Điều này rất quan trọng, nó có thể sẽ ảnh hưởng lớn đến khả năng hoạt động của DN
trong tương lai. Rủi ro DN gặp phải sẽ tăng lên cực đại khi tỷ lệ đòn bẩy hoạt động cao kết
hợp thêm với tỷ lệ đòn bẩy tài chính cao trong khi tỷ suất sinh lợi trên tài sản không cao
hơn mức lãi suất vay nợ. Từ đó có thể làm giảm tỷ suất sinh lợi trên vốn CSH (ROE) và
lợi nhuận của DN.
1.1.5 Tấm chắn thuế.
“Tấm chắn thuế” là một thuật ngữ kinh tế nói về việc giảm lượng tiền thuế thu nhập
phải nộp cho nhà nước bằng cách giảm thu nhập chịu thuế. Hay nói nôm na rằng, trước khi
có tấm chắn thuế tiền thuế được thu là nhiều hơn so với khi DN có tấm chắn thuế. Tấm
chắn thuế làm giảm khoản chi trả thuế cho nhà nước và làm gia tăng tài sản cho cổ đông
và các chủ nợ.
Hai công cụ dùng để tạo ra tấm chắn thuế cho DN, đó là:
• Lãi vay
• Khấu hao
1.1.5.1 Tấm chắn thuế lãi vay.
Chúng ta có 2 dự án xem xét:
Dự án 1: DN không vay tiền để đầu tư mà chỉ sử dụng nguồn vốn nội tại của mình.
6
Dự án 2: DN đi vay để đầu tư. Vay 400.000 $, lãi vay 10%.
Thuế thu nhập DN cho cả hai dự án đều là 35%.
Ta xem xét bảng sau:
Đơn vị tính: Nghìn USD
DỰ ÁN 1 DỰ ÁN 2
EBIT 100 100
LÃI VAY (40%) 0 40
LN TRƯỚC THUẾ (*) 100 60
THUẾ TNDN (35%) 35 21
EAT (**) 65 39
THU NHẬP CHO CỔ ĐÔNG, CHỦ NỢ (***) 65 79
Trong đó:
EBIT là thu nhập trước thuế và lãi vay của DN. Lúc này cả hai dự án, DN đều có thể thu
về 100.000$.
(*) Lợi nhuận trước thuế = EBIT – lãi vay phải trả cho chủ nợ
(**) EAT (thu nhập sau thuế của DN ) = lợi nhuận trước thuế - thuế thu nhập DN.
(***) Thu nhập cho cổ đông và chủ nợ = EBIT – thuế thu nhập DN.
Nhận xét :
1. Qua bảng trên chúng ta nhận thấy rằng với thu nhập trước thuế và lãi vay là như nhau
nhưng vì dự án 2 DN có vay nên thuế thu nhập DN mà DN phải trả ít hơn khi không có
vay và như thế thu nhập cho cổ đông và chủ nợ được gia tăng. Và đây chính là tấm chắn
thuế của DN.
Chúng ta định lượng tấm chắn thuế lãi vay của DN :
Interest tax shield = Dept * interest rate * income tax
Trong trường hợp này tấm chắn thuế có giá trị là: 14.000$ ( 400.000*0.1*0.35 )
2. Dự án 1 có EAT lớn hơn dự án 2 nhưng:
• Ở dự án 1, DN phải bỏ toàn bộ vốn của mình vào để đầu tư, trong khi dự án 2 chỉ cần
bỏ số vốn ít hơn và đi vay 400.000$ để tạo cùng một thu nhập trước thuế và lãi vay
(EBIT). Từ đó có thể nhận định rằng mức độ rủi ro của dự án 2 thấp hơn. Nhưng có một
điều ở đây cần làm rõ đó là DN phải chắc chắn rằng tỉ suất sinh lợi của dự án 2 phải lớn
hơn lãi vay vì chỉ có như thế DN mới có lời.
• Ở bảng ta thấy, thu nhập cho cổ đông và chủ nợ cao hơn ở dự án 2, vì vậy sẽ khuyến
khích các nhà tài trợ cho vay vốn và như thế việc chia sẻ rủi ro và khả năng thành công
của dự án sẽ cao hơn.
1.1.5.2 Tấm chắn thuế khấu hao
7
Cũng vẫn là 2 dự án: ở dự án 1 có khấu hao là 0$, còn ở dự án 2 khấu hao là 1000$. Thuế
thu nhập DN là 35%.
Ta có bảng sau:
Đơn vị tính: USD
DỰ ÁN 1 DỰ ÁN 2
DOANH SỐ 10.000 10.000
CHI PHÍ HOẠT ĐỘNG CHƯA KHẤU HAO (*) 7.000 7.000
KHẤU HAO 0 1.000
EBIT (**) 3.000 2.000
THUẾ TNDN 1.050 700
EAT 1950 1.300
(*) chi phí hoạt động trong đó chưa cộng thêm khấu hao vào.
(**) EBIT = doanh số - chi phí hoạt động chưa khấu hao – khấu hao.
(***) EAT = EBIT – thuế thu nhập DN(35%).
Việc dự án 2 có chi phí khấu hao cao hơn dự án 1 đã làm cho việc nộp thuế của DN giảm
xuống và tạo ra tấm chắn thuế.
Tấm chắn thuế trong trường hợp này được định lượng là: 350$
Depreciation tax shield = Depreciation * income tax.
( Tấm chắn thuế khấu hao = khấu hao * thuế thu nhập DN )
Nhận xét:
Có nhiều DN muốn khấu hao nhanh tài sản mua về sớm nên đã áp dụng việc khấu hao
nhanh vào trong tính toán và áp dụng lượng khấu hao nhiều vào trong những năm đầu của
dự án. Việc này nhằm mục đích:
• DN muốn thu hồi vốn đầu tư vào việc mua tài sản nhanh.
• Việc khấu hao nhanh vào những năm đầu dự án làm cho dòng tiền trong những năm
đầu khả quan từ đó thu hút vốn đầu tư, hay việc dễ dàng vay nợ từ các ngân hàng.
1.1.5.3 Kết luận
Với hai cách tạo ra tấm chắn thuế, DN có thể giữ lại cho mình nhiều hơn khi không
có tấm chắn thuế, bên cạnh đó việc sử dụng các công cụ này sao cho hợp lý là một nghệ
thuật của giám đốc tài chính.
Khi xem xét lãi vay và tấm chắn thuế, việc áp dụng tính toán vay bao nhiêu và với
lãi suất bao nhiêu và sự tác động của nó đến thu nhập của DN là cả một kĩ năng tài tình
của nhà lãnh đạo tài chính.
Việc áp dụng các phương thức khấu hao nào để tạo ra các dòng tiền đẹp đẽ cũng là
một cách thu hút vốn đầu tư của DN.
8
Có thể nói với tài chính DN thì khi càng đi sâu vào chi tiết thì càng nhận thấy được
sự tinh vi của các con số. Các con số không khô khan mà nó biết nói và biết cách đánh lừa
người xem, nếu như thực sự không có kiến thức tài chính và con mắt tinh tường thì các
bẫy tinh vi của kế toán – tài chính sẽ làm cho bạn hoa mắt. Nhưng quả thực không dễ dàng
gì khi nhận ra các bẫy tinh vi với các con số đẹp như mơ trên bảng báo cáo tài chính và kế
toán. Thực chất vấn đề là chỉ có những người trong cuộc mới hiểu rõ hết nó mà thôi.
1.
1.2 Ưu – nhược điểm của các thành phần trong CTV.
1.2.1 Nợ
Một trong những ưu điểm lớn nhất của việc dùng nợ thay cho vốn CSH đó là lãi
suất mà DN phải trả trên nợ được miễn thuế. Trong khi đó thì cổ tức hay các hình thức
thưởng khác cho CSH phải bị đánh thuế. Trên nguyên tắc mà nói, nếu chúng ta thay vốn
CSH bằng nợ thì sẽ giảm được thuế DN phải trả, và vì thế tăng giá trị của DN lên. Một
điều cần lưu ý, với những nước mà nhà đầu tư phải trả thuế thu nhập cá nhân với mức cao
thì ưu điểm này của nợ sẽ bị giảm hay trở thành yếu điểm.
Ưu điểm thứ hai của nợ đó là thông thường nợ rẻ hơn vốn CSH – nói đơn giản là lãi
suất ngân hàng hay lãi suất trái phiếu thấp hơn nhiều so với lãi suất kỳ vọng của nhà đầu
tư. Do đó khi tăng nợ tức là giảm chi phí chi ra trên một đồng tiền mặt và vì thế tăng cao
lợi nhuận, cũng như giá trị của DN. Vì tính chất này mà tỷ số nợ trên vốn CSH còn được
gọi là tỷ số đòn bẩy.
Tuy vậy DN không thể tăng nợ lên mức quá cao so với vốn CSH. Khi đó DN sẽ rơi
vào tình trạng tài chính không lành mạnh, và dẫn đến những rủi ro khác.
Nợ giúp cho các nhà điều hành thận trọng hơn khi đầu tư:
Thực tế từ các thị trường cho thấy, đối với các DN dồi dào tiền mặt và không có khả
năng tăng trưởng nhanh, các nhà quản lý hay có khuynh hướng đầu tư tiền vào những dự
án “ồn ào” nhưng không hiệu quả, hoặc dùng tiền, tăng chi phí để tạo ra tăng trưởng. Dĩ
nhiên những đồ án này không tạo ra giá trị cao cho DN. Thuật ngữ tài chính gọi việc này
là “overinvestment – đầu tư thái quá”. Nếu DN không có hội đồng quản trị giám sát chặt
chẽ thì hiệu ứng đầu tư thái quá này này sẽ xảy ra nhiều. Nhưng nếu DN mượn nợ để tài
chính cho những khoản đầu tư, thì việc phải trả lãi định kỳ, cũng như trả vốn theo định kỳ
sẽ ngăn, hoặc giảm việc đầu tư thái quá này.
Nợ tạo ra chi phí “hao mòn” DN và phá sản
Tỷ lệ nợ cao sẽ dẫn đến nguy cơ phá sản. Một công trình nghiên cứu tại Mỹ cho thấy
chi phí phá sản chiếm khoảng 3% thị giá của tất cả các DN niêm yết. Nghiên cứu còn cho
thấy chi phí “hao mòn” DN (cost of business erosion) còn cao và nghiêm trọng hơn nhiều.
Những DN có tỷ lệ nợ cao, sẽ "nhát tay” trong việc nắm bắt những cơ hội đầu tư. Chúng
9
cũng có khuynh hướng giảm bớt những chi phí tạo ra hiệu quả trong tương lai như chi phí
nghiên cứu và phát triển, huấn luyện, xây dựng thương hiệu. Kết quả là những DN này đã
bỏ qua những cơ hội để tăng giá trị của DN. Mức nợ cao còn dẫn đến những nguy cơ mất
khách hàng, nhân viên và nhà cung cấp. Nguy cơ càng cao hơn khi sản phẩm của DN có
vòng đời phục vụ và bảo hành lâu dài. Một ví dụ rõ nhất là DN xe hơi Chrysler đã bị giảm
40% doanh số khi phải đối diện nguy cơ phá sản vì nợ nần vào năm 1979.
Ngoài ra DN có mức nợ cao còn tạo ra sự mâu thuẫn giữa các chủ nợ và nhà đầu tư khi
DN sắp phải ngừng họat động để trả nợ. Khi có nguy cơ đó xảy ra, các nhà đầu tư “khôn
ngoan” sẽ tìm cách “đầu tư dưới mức – underinvestment”. Tức là họ sẽ tập trung đầu tư
vào những dự án rủi ro cao, tạo ra giá trị thấp trong tương lai, nhưng có thể đem lại tiền
mặt để có thể chia dưới dạng cổ tức ngay lúc này. Trong khi đó những chủ nợ lại muốn
DN đầu tư vào những dự án ít rủi ro và tạo được giá trị cao trong tương lai. Và mâu thuẫn
vì thế phát sinh.
1.2.2 Vốn:
Một trong những điểm không thuận lợi của vốn CSH đó là giá thành (hay chi phí)
của nó cao hơn chi phí của nợ. Điều này là dĩ nhiên vì không người đầu tư nào bỏ tiền đầu
tư vào DN, gánh chịu những rủi ro về họat động và kết quả kinh doanh mà lại chịu nhận
tiền lãi bằng lãi suất cho vay nợ. Việc này cùng với tính chất không được miễn trừ thuế
làm cho chi phí vốn càng cao hơn.
Việc này dẫn tới một điểm không thuận lợi khác đó là: khi vốn CSH càng cao, số
lượng người CSH càng nhiều, thì áp lực về kỳ vọng của nhà đầu tư cũng như sự quản lý,
giám sát của họ lên các nhà điều hành DN càng lớn.
Tuy vậy vốn CSH sẽ vẫn phải tăng khi DN cần tiền. Tăng để cân bằng với nợ và
giữ cho DN ở trong tình trạnh tài chính lành mạnh. Một lý do để các nhà đầu tư tăng vốn
nữa là khi thị trường định giá cổ phiếu của nó cao hơn giá trị nội tại (overprice). Phát hành
vốn trong trường hợp đó sẽ tạo ra lợi nhuận tài chính cho DN, và thực chất là tăng phần lợi
nhuận cho những nhà đầu tư hiện hữu.
=> Nợ vay rẻ hơn vốn cổ phần: vì
Thứ nhất, trái quyền (quyền của các trái chủ) được ưu tiên trước quyền của cổ đông nếu
trường hợp DN lâm vào tình trạng phá sản, do vậy trái chủ được xem là có mức độ rủi ro
thấp hơn các cổ đông, tương ứng với sự an toàn này, họ sẽ nhận được một tỷ suất sinh lợi
(lãi suất vay nợ) thấp hơn tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần của các cổ đông.
Thứ hai, chi phí lãi vay được khấu trừ trước thuế làm giảm mức thuế thu nhập mà DN
phải nộp xuống, mang đến cho DN lợi ích tấm chắn thuế.
1.3. Nguồn tài trợ của DN.
10
1.3.1. Nguồn tài trợ dài hạn.
1.3.1.1 Vay dài hạn ngân hàng.
Khái niệm: Là hình thức DN huy động vốn bằng cách đi vay Ngân hàng dưới dạng
một hợp đồng tín dụng và DN phải hoàn trả khoản tiền vay theo lịch trình đã thoả thuận
Đặc điểm:
- Vay dài hạn được hoàn trả vào những thời hạn định kỳ với những khoản tiền bằng nhau -
sự hoàn trả dần khoản tiền vay bao gồm cả gốc và lãi.
- Lãi suất tuỳ thuộc vào thỏa thuận giữa người vay và ngân hàng: lãi suất cố định hoặc lãi
suất thả nổi.
Ưu điểm:
- Linh hoạt: người vay có thể thiết lập lịch trình trả nợ phù hợp với dòng tiền thu nhập của
mình.
- Chi phí sử dụng thấp và được tính chi phí hợp lý khi tính thuế TNDN.
1.3.1.2 Cổ phiếu thường.
Đặc trưng:
- Là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu trong công ty cổ phần, cho phép người nắm giữ nó
được hưởng những quyền lợi thông thường trong công ty.
- Cổ phiếu được phát hành bởi công ty cổ phần, nó là phương tiện để hình thành vốn CSH
ban đầu và huy động tăng thêm vốn CSH của công ty trong quá trình hoạt động.
Lợi thế huy động bằng cổ phiếu.
- Tăng vốn đầu tư dài hạn mà không phải trả phí sử dụng vốn và có thể không phân chia
lợi nhuận nếu lỗ hoặc lãi ít
- Không phải hoàn trả gốc theo kỳ hạn cố định.
- Tăng vốn CSH làm hệ số nợ giảm
Bất lợi huy động bằng cổ phiếu.
- Phân chia quyền bỏ phiếu và kiểm soát công ty cho những cổ đông mới.
- Chia sẻ quyền phân phối lợi nhuận cho cổ đông mới.
- Lợi tức cổ phần không được trừ vào thu nhập chịu thuế.
1.3.1.3 Cổ phiếu ưu đãi.
Đặc trưng:
- Là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu trong công ty cổ phần, có những đặc điểm giống
như cổ phần thường. Ngoài ra nó còn có một số quyền lợi sau:
+ Ưu tiên về cổ tức và thanh toán khi thanh lý công ty.
+ Tích luỹ cổ tức.
+ Lỗ được chuyển sang năm tiếp theo.
11
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét