Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

TÌM HIỂU KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM TRONG CÁC THẾ KỈ XI-XVIII

Luận văn tốt nghiệp - Kinh tế ngoại thương Việt Nam trong các thế kỉ XI-XVIII

SVTH: Đào Thị Phương Huyền
4
II. Lịch sử vấn đề và nguồn sử liệu:

Do những nhận thức hạn chế của thời phong kiến đối với vai trò của kinh tế
ngoại thương nên sử liệu trong thư tịch cổ còn ít và gián đoạn. Về sử liệu gốc có
thể kể đến một số tác phẩm sau:
- Đại Việt sử kí toàn thư của Ngô Sĩ Liên, ghi chép về các sự kiện giao thương
của nước ta với các nước trong khu vực từ thời dựng nước đến thời Lê Trung Hưng
(thế kỉ XVI). Tuy nhiên do lối chép sử biên niên, các sự kiện giao thương không
được ghi chép có hệ thống mà được lồng vào các sự kiện chính trị, ngoại giao…
theo thứ tự thời gian từng triều đại. Sách do Phan Huy Giu dịch, Nxb Khoa Học Xã
Hội, Hà Nội, 1967-1968.
- Khâm Định Việt Sử thông giám cương mục, Quốc sử quán triều Nguyễn, bản
dịch, Nxb Giáo dục, 1998, cũng với lối chép sử biên niên, các sự kiện giao thương
được ghi chép lồng vào các sự kiện chính trị, ngoại giao… từ thời dựng nước đến
hết thời Lê Trung Hưng, đầu thời Tây Sơn.
- Phủ biên tạp lục của Lê Qúy Đôn chương IV và VI ghi chép về lệ thuế đầu
nguồn, tuần ty, đầm hồ, chợ đò, thuế vàng, bạc, đồng, lệ vận tải , sản vật và một số
hoạt động buôn bán trao đổi hàng hóa ở hai tỉnh Quảng Nam và Thuận Hóa vào thế
kỉ XVII-XVIII dưới sự quản lý của chính quyền chúa Nguyễn (Đàng Trong). Sách
do Nxb Văn hóa thông tin dịch và xuất bản năm 1971.
- Đại Nam thực lục tiền biên và chính biên do Quốc Sử Quán triều Nguyễn biên
soạn, có nhiều ghi chép về một số sự kiện giao thương với nước ngoài thời các
chúa Nguyễn và các vua đầu triều Nguyễn. Cũng do lối chép sử biên niên, các sự
kiện giao thương cũng không được ghi chép tập trung mà lồng vào các sự kiện
chính trị ngoại giao… theo thứ tự thời gian từng triều đại. Sách do Viện Sử Học
dịch và nhà xuất bản Sử Học, Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội Hà Nội xuất bản từ
năm 1963 đến năm 1974.
- Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ là một công trình có qui mô thuộc loại đồ sộ
nhất trong kho tàng thư tịch cổ viết bằng chữ Hán của Việt Nam. Sách do Nội các
triều Nguyễn biên soạn, gồm 262 quyển, trong đó từ quyển 48 đến quyển 50 ghi
chép cách thức đánh thuế ngoại thương ở cửa bể, cửa tuần, bến tuần và từ quyển 64
đến quyển 67 ghi chép về công việc thu mua của nhà Nguyễn đối với các mặt hàng
nước ngoài như tơ lụa Tàu, tơ lụa nước ngoài, các vị thuốc, các thứ trà, các thứ
quả, đồ dùng, tạp liệu… Những ghi chép này tương đối có hệ thống nhưng chỉ
cung cấp được một phần tư liệu đầu thế kỉ XIX. Sách do Viện Sử học và Uỷ Ban
Khoa học xã hội Việt Nam dịch, Nhà xuất bản Thuận Hóa sản xuất năm 1993, gồm
15 tập.
- Kiến văn tiểu lục quyển V ghi chép về núi sông, thành quách, sản vật, thuế khóa, đường
sá…ở các trấn Sơn Tây, Hưng Hóa, Tuyên Quang dưới thời Trịnh- Nguyễn. Bản dịch do
Nxb Sử học, Hà Nội, xuất bản năm 1962.
- Đại Việt thông sử (còn gọi là Lê triều thông sử), của Lê Qúy Đôn, bản dịch do
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội xuất bản năm 1978. Nội dung sách có nhiều ghi chép
về các sự kiện giao thương, được trình bày theo dạng kỷ truyện, bắt đầu từ thời Lê
sơ đến triều Mạc. Tuy nhiên các sự kiện giao thương được đề cập chỉ sơ lược đầu
triều Lê dưới thời Lê Thái Tổ còn về sau chủ yếu đề cập đến các nhân vật lịch sử
dưới các triều đại trên.
Luận văn tốt nghiệp - Kinh tế ngoại thương Việt Nam trong các thế kỉ XI-XVIII

SVTH: Đào Thị Phương Huyền
5
Bên cạnh sử liệu gốc còn có một số sách thông sử và chuyên khảo, còn gọi là
các công trình nghiên cứu, cũng đề cập đến vấn đề ngoại thương trong giai đoạn
này. Có thể kể một số công trình tiêu biểu sau:
- Ngoại thương Việt Nam hồi thế kỉ XVII, XVIII và đầu thế kỉ XIX của tác giả Thành
Thế Vỹ. Đây là công trình duy nhất đặt vấn đề một cách có hệ thống trong suốt
chiều dài thời gian gần ba thế kỉ và chỉ giới hạn trong vấn đề ngoại thương. Sách
gồm hai phần chính. Phần thứ nhất đề cập đến: hoàn cảnh trong nước, thế giới
trong giai đoạn này ảnh hưởng và tác động của nó đến sự phát triển của nền ngoại
thương nước nhà. Phần thứ hai đi vào nội dung chính, dựng lại bức tranh ngoại
thương Việt Nam trong giai đoạn hồi thế kỉ XVII, XVIII và đầu XIX với các mục
nghiên cứu về quá trình phát triển và suy tàn của ngoại thương trong những thế kỉ
XVII, XVIII và đầu XIX, tính chất ngoại thương, các mặt hàng, thể lệ, thủ tục, bộ
máy, thuế khóa, cách thức mua bán, phương tiện vị trí địa lý, màu buôn bán… Sách
do Nxb Sử học, Hà Nội xuất bản năm 1961.
- Kinh tế xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn, của tác giả Nguyễn Thế Anh,
Nxb Lửa Thiêng, năm 1971. Tác giả dành chương V gồm 53 trang nói về hoạt
động thương nghiệp, nêu ra các yếu tố giao thông vận tải, trung tâm buôn bán, hoạt
động thương mại và chính sách thuế khoá. Đặc biệt tác giả chú ý đến vai trò của
nhà nước trong tổ chức hoạt động ngoại thương và địa vị của thương gia Hoa kiều
trong nền ngoại thương Việt Nam nửa đầu thế kỉ XIX.
- Tác giả Đỗ Bang với Kinh tế thương nghiệpViệt Nam dưới triều Nguyễn, tác
phẩm ngoài phần mở đầu gồm có bốn chương trong đó tác giả dành riêng chương
IV để nói về tình hình ngoại thương dưới triều Nguyễn và hai chương đầu nói về
điều kiến giao lưu hàng hóa và chính sách của triều Nguyễn đối với thương nghiệp.
Sách do Nhà xuất bản Thuận Hóa xuất bản năm 1997.
- Li Tana, Xứ Đàng Trong - lịch sử kinh tế xã hội Việt Nam thế kỉ XVII-XVIII.
Trong tác phẩm này tác giả đã dành trọn hai chương 3 và 4 viết về thành phần
thương gia và tiền tệ, thương mại ở đất Đàng Trong dưới thời các chúa Nguyễn.
Sách do Nguyễn Nghị dịch, Nhà xuất bản Trẻ, năm 1991.
- Nguyễn Thị Phương Chi, Nguyễn Tiến Dũng với bài Về các mối giao thương
của quốc gia Đại Việt thời Lý – Trần (thế kỉ XI-XIV), trong bài viết này các tác giả
đã dành khoảng hơn 10 trang để dựng lại bức tranh giao thương của quốc gia Đại
Việt thời Lý – Trần về các mặt ngoại giao và ngoại thương với Trung Quốc,
Champa, Ja-va và các nước khác trong khu vực. Bài viết được đăng tải trên tạp chí
Nghiên cứu lịch sử, số 7 năm 2007.
- Tác giả Phạm Văn Kính với bài Bộ mặt thương nghiệp Việt Nam thời Lý-
Trần, đăng trên T/C Nghiên cứu lịch sử số 6, năm 1979, đã dành khoảng 8 trang để
miêu tả về tình hình phát triển của nội thương và ngoại thương Việt Nam trong đó
tác giả đã đi sâu lý giải những yếu tố đưa đến sự phát triển của hoạt động giao
thương thời kỳ này như điều kiện đất nước độc lập tự chủ sau hơn 1000 năm Bắc
thuộc, sự mở mang của hệ thống giao thông nội địa và trên biển, sự ra đời và phát
triển của nền kinh tế hàng hóa, sự phát triển của nền kinh tế nông nghiệp…Và
những mặt còn hạn chế của nền ngoại thương nước nhà như nền kinh tế tự nhiên
vẫn còn chiếm ưu thế, giao thông đi lại khó khăn, khan hiếm phương tiện vận tải và
tầng lớp thương nhân vẫn chưa đủ lớn mạnh để có thể đảm nhận vai trò chính trong
hoạt động ngoại thương.
Luận văn tốt nghiệp - Kinh tế ngoại thương Việt Nam trong các thế kỉ XI-XVIII

SVTH: Đào Thị Phương Huyền
6
- Vài nét về tình hình công thương nghiệp Việt Nam thời Tây Sơn của tác giả
Phạm Ái Phương đăng trên tạp chí nghiên cứu kinh tế, số 1, năm 1989. Trong bài
viết này tác giả đã đề cập đến vài nét về tình hình phát triển công thương nghiệp ở
Đàng Trong và Đàng Ngoài trước khi nhà Tây Sơn lên nắm quyền; Những chủ
trương chính sách của triều Tây Sơn đối với công thương nghiệp và một vài nét về
tình hình công thương nghiệp thời Tây Sơn.
- Chính sách giao thương của chúa Nguyễn ở Đàng Trong - cơ sở hội nhập và
phát triển của Đại Việt thế kỉ XVII-XVIII. Tác giả bài viết đã đề cập đến những
nguyên nhân khiến chính quyền chúa Nguyễn ở Đàng Trong thay đổi quan niệm
truyền thống “trọng nông ức thương” sang thực hiện chính sách “trọng thương” tạo
điều kiện cho thương nghiệp, đặc biệt là ngoại thương thế kỉ XVII – XVIII lần đầu
tiên đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh tế - xã hội ở Đàng Trong: Nhu
cầu phát triển nhanh chóng vùng đất mới để đối đầu với chúa Trịnh, đảm bảo sự
tồn tại của họ Nguyễn; Điều kiện tự nhiên – xã hội của vùng đất mới cơ sở “thiên
tạo” cho việc thực hiện chính sách giao thương; Sự năng động, tư tưởng tự do của
“người đi mở cõi”; bối cảnh thuận lợi của thương mại Quốc tế lúc bấy giờ. Và
những chủ trương, biện pháp chủ yếu thể hiện chính sách giao thương của chúa
Nguyễn: Chú trọng sản xuất giao thương nội địa làm cơ sở để giao thương với
nước ngoài; chủ động mời gọi thương nhân nước ngoài đến buôn bán với Đàng
Trong… Đặc biệt, ở phần cuối bài viết tác giả đã rút ra những bài học hữu ích từ
chính sách giao thương này đối với quá trình hội nhập và phát triển của đất nước ta
hiện nay. Bài viết của tác giả Lê Huỳnh Hoa, được đăng trong cuốn “Tuyển tập báo
cáo khoa học”, của Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ ba, tại Hà Nội từ ngày
4 đến ngày 7 tháng 12 năm 2008, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội và Viện KHXH
Việt Nam.
- Tác giả Vũ Duy Mền với bài: Ngoại thương Việt Nam thế kỉ XVII-XVIII đã
dành phần mở đầu đề cập đến bối cảnh lịch sử đã tạo nên sự hưng khởi của ngoại
thương trong giai đoạn này đó là cuộc chiến tranh Trịnh-Nguyễn và ba mục chính
để nói về quan hệ buôn bán với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước phương Tây.
Trong đó mục cuối tác giả đưa ra một số nhận xét về tình hình ngoại thương trong
giai đoạn này. Bài viết được đăng trên tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 292, tháng 9
năm 2002.
- Chính sách ngoại thương Đàng Trong thế kỷ XVI-XVII, của tác giả Vũ Duy
Mền đăng trên tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 274, tháng 3 năm 2001. Đề cập đến
những yếu tố thúc đẩy ngoại thương Đàng Trong phát triển như tài nguyên thiên
nhiên phong phú, đa dạng, có vị trí trọng yếu hàng đầu trong công cuộc nam tiến
cũng như công cuộc kiến quốc và cứu nước của dân tộc, có một nền kinh tế hàng
hóa phát triển, chính sách của chúa Nguyễn thúc đẩy buôn bán với nước ngoài.
Phần hai đi vào nội dung chính là đề cập đến những chính sách ngoại thương của
chúa Nguyễn và tác động của ngoại thương đến sự phát triển kinh tế - xã hội Đàng
Trong thế kỉ XVI – XVIII. Và phần cuối đề cập đến sự trì trệ của ngoại thương thế
kỉ XVIII và sự tàn lụi của phố Hội An.
- Thành Thế Vỹ với bài Một số tài liệu về ngoại thương ở Đường Ngoài đầu thế
kỉ XVII của tác giả Thành ThếVỹ, đề cập đến các nội dung các nước buôn bán với
Đường Ngoài hồi thế kỉ XVII, tiến hành giao dịch như thế nào với tàu buôn nước
ngoài và các mặt hàng trao đổi, cách thức thanh toán.
Luận văn tốt nghiệp - Kinh tế ngoại thương Việt Nam trong các thế kỉ XI-XVIII

SVTH: Đào Thị Phương Huyền
7
- Bài viết Bước đầu tìm hiểu về chính sách thương nghiệp của nhà nước phong
kiến Việt Nam của tác giả Trương Thị Yến được đăng trên tạp chí Nghiên cứu lịch
sử số 4 năm 1979. Đề cập đến những mặt tích cực và tiêu cực trong chính sách
thương nghiệp của nhà nước phong kiến thế kỉ XVII, XVIII.
- Nguyễn Thừa Hỷ với bài Phải chăng ngoại thương tư nhân Việt Nam đã phát
triển từ thế kỉ XVII? Tác giả đã phản biện lại quan điểm của nhà du hành người
Pháp gốc Bỉ thế kỉ XVIII Jean Baptiste Tavernier trong cuốn “Du kí mới và kì thú
về Vương quốc Đàng Ngoài” cho rằng ngoại thương tư nhân của Việt Nam đã phát
triển từ thế kỉ XVII.
- Trên tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 219 tháng 8, năm 1996 có giới thiệu bài:
Chính sách ngoại thương của triều Nguyễn – thực trạng và hậu quả của tác giả Đỗ
Bang đề cập đến chính sách bế quan tỏa cảng của triều Nguyễn và những chính
sách của triều đại này đối với tàu thuyền và thương nhân nước ngoài.
- Trên tạp chí nghiên cứu lịch sử số 6 năm 1993 có giới thiệu bài: Vài nét về
thương nghiệp Việt Nam nửa đầu thế kỉ XIX của tác giả Trương Thị Yến. Tác giả
đã dành riêng hơn 3 trang đề cập đến tình hình ngoại thương Việt Nam ở nửa đầu
thế kỉ XIX, các hoạt động buôn bán với các nước láng giềng phương Đông và các
nước tư bản phương Tây.’
- Chu Thiên với bài Vài nét về công thương nghiệp triều Nguyễn, được đăng
trên Tạp chí nghiên cứu lịch sử số 33 năm 1961, đã dành hơn một trang để miêu tả
sự sa sút của thương nghiệp Việt Nam dưới các vị vua đầu triều Nguyễn.
- Lê Văn Năm với Sản xuất hàng hóa và thương nghiệp Nam Bộ thế kỉ XVII-
nửa đầu thế kỉ XIX , qua các bài viết được đăng tải liên tiếp trên các số 3,4,5,6 năm
1988 của Tạp chí nghiên cứu lịch sử tác giả đã nêu khá đầy đủ những hoạt động
sản xuất, lưu thông hàng hóa và sự hình thành các trung tâm buôn bán ở vùng đất
Nam Bộ vào thời kì nói trên.
- Tạp chí nghiên cứu Kinh tế số 9 năm 1999 có bài Kinh tế thương nghiệp Phú
Xuân- Thanh Hà thế kỉ XVII-XVIII của tác giả Đỗ Bang. Bài viết nêu lên những
điều kiện của hoạt động thương nghiệp như tiên tệ, giá cả… và mối quan hệ buôn
bán của Phú Xuân- Thanh Hà với bên ngoài trong hai thế kỉ phát triển của vùng đất
này.
Vấn đề ngoại thương còn được đề cập đến ở một số tài liệu khác như :
- Tràng An, bài “Sông nước, bến chợ Sài Gòn xưa”- trong cuốn “Sài Gòn xưa
và nay” (Nhiều tác giả), Nxb T rẻ Thành phố.HCM Tạp chí Xưa và nay, năm 1998
- Đào Duy Anh, Lịch sử cổ đại Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin Hà Nội, 2005.
- Lê Minh Đức, Từ điển kinh doanh Anh- Việt, Nxb Trẻ,TP.HCM, 1994
- Phạm Văn Chiến, Lịch sử kinh tế Việt Nam, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội,
2003.
- Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt, Nxb Sông Nhị, ,Hà Nội, 1949.
- Phan Khoang, Việt sử xứ Đàng Trong, Nhà sách Khai Trí,1998.
- Văn Tạo, Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam,Viện sử học, Đô thị cổ Việt Nam,
Hà Nội, 1989.
- Nguyễn Đức Tuấn - Địa lý kinh tế học - Nxb Thống kê, Hà Nội, năm 2002.
- Phan Lạc Tuyên, Lịch sử bang giao Việt Nam- Đông Nam Á (Trước công
nguyên- Thế kỉ XIX),Bộ Gíao Dục và Đào Tạo, Viện Đào Tạo Mở Rộng, Khoa
Đông Nam Á.
Luận văn tốt nghiệp - Kinh tế ngoại thương Việt Nam trong các thế kỉ XI-XVIII

SVTH: Đào Thị Phương Huyền
8
- Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí
Minh, năm 1996.
- Nguyễn Khắc Thuần, Đại cương lịch sử Việt Nam cổ trung đại, Nxb Giáo dục,
1977.
- Nguyễn Công Thống, Lịch sử kinh tế thế giới và Việt Nam, NXB thành phố Hồ
Chí Minh, 2004.
- Hoàng Trang, bài “Cảng Sài Gòn”, trong cuốn “Sài Gòn xưa và nay” (Nhiều
tác giả), Nxb Trẻ Thành phố.HCM Tạp chí Xưa và nay, năm 1998.
- Nguyễn Phan Quang, Võ Xuân Đàn, Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến năm
1884, Nxb Tp.HCM, 2005.
- Nguyễn Phan Quang, Trương Hữu Quýnh, Nguyễn Cảnh Minh, Lịch sử Việt
Nam (1427-1458), Quyển 2, tập 1, Nxb giáo dục, 2007.
- Nguyễn Phan Quang, Phong trào Tây Sơn và cải cách của Quang Trung-Nguyễn
Huệ, Nxb Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, 2000.
- Trương Hữu Quýnh, Lịch sử Việt Nam ( Trước thế kỉ VI. Q1, Tập1), Nxb Gíao
dục, TP. Hồ Chí Minh, 1976.
- Trương Hữu Quýnh, Đại cương lịch sử Việt Nam (tập 1), Nxb Giáo dục, 2005.
- Sơn Nam, bài “Sài Gòn” trong cuốn “Sài Gòn xưa và nay” (Nhiều tác giả), Nxb
Trẻ Thành phố.HCM Tạp chí Xưa và nay, năm 1998.
- Đỗ Văn Ninh, Tiền cổ Việt Nam, Nxb Khoa học Xã Hội, Hà Nội, 1992.
- PTS Nguyễn Quang Ngọc- Cơ cấu xã hội trong quá trình phát triển của lịch sử
Việt Nam- Nxb Hà Nội, 1995.
- Lê Nguyễn, Xã hội Đại Việt qua bút kí người nước ngoài, NXB Văn nghệ thành
phố Hồ Chí Minh, 2004.
- Hội đồng khoa học xã hội thành phố Hồ Chí Minh, Lịch sử Việt Nam (tập 3),
Nxb Trẻ, năm 2006.
- Tìm hiểu xã hội Việt Nam thời Lý- Trần, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1981.
Nguyễn Công Thống, Lịch sử kinh tế thế giới và Việt Nam, NXB thành phố Hồ
Chí Minh, 2004.
- Trương Hoàng Châu, Một số nhận thức về đặc điểm của xã hội trung thế ở Việt
Nam, T/C Nghiên cứu Lịch sử, số 47, 1963.
-Văn Kim, Nam Bộ Việt Nam môi trường kinh tế biển và mối quan hệ với các
quốc gia khu vực thế kỉ XVII-XVIII, T/C Nghiên cứu lịch sử, số 1, 2006.
- Nguyễn Văn Kim, Hệ thống buôn bán ở biển Đông thế kỉ XVI-XVII và vị trí
của một số thương cảng Việt Nam (một cái nhìn từ điều kiện địa lý – nhân văn),
Nghiên cứu lịch sử,số 1, năm 2002.
-Nguyễn Thanh Lợi, Con đường thiên lý, T/C Nghiên cứu lịch sử,số 10, năm
2008.
- Nguyễn Quang Ngọc, Mấy nhận xét về kết cấu kinh tế của một số làng thương
nghiệp ở vùng đồng bằng Bắc Bộ thế kỉ XVIII-XIX
- Văn Tân, Tại sao ở Việt Nam chủ nghĩa tư bản không ra đời trong lòng chế độ
phong kiến?T/C Nghiên cứu kinh tế, số 130, 1970.
- Hoàng Anh Tuấn, Vị trí của Việt Nam trong hệ thống thương mại biển Đông
thời cổ trung đại, T/C Nghiên cứu lịch sử,số 9, năm 2008.
- Vương Hoàng Tuyên, Sự manh nha của yếu tố tư bản chủ nghĩa trong xã hội
phong kiến Việt Nam, T/C Nghiên cứu Văn-Sử-Địa, số 15, 1960.
Luận văn tốt nghiệp - Kinh tế ngoại thương Việt Nam trong các thế kỉ XI-XVIII

SVTH: Đào Thị Phương Huyền
9
- Hồng Thái, Vài nét về mối quan hệ giữa Việt Nam và các nước Đông Nam Á
trong lịch sử, T/C Nghiên cứu kinh tế, số 3,1986.
- Nguyễn Hồng Phong, Sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa và vấn đề hình
thành của chủ nghĩa tư bản ở Việt Nam dưới thời phong kiến, T/ C Nghiên cứu
Lịch sử, số 9, năm 1960.
- Nguyễn Hồng Phong, Sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa và vấn đề hình
thành của chủ nghĩa tư bản ở Việt Nam dưới thời phong kiến, T/ C Nghiên cứu
Lịch sử, số 10,năm 1960.
- Nguyễn Hồng Phong, Sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa và vấn đề hình
thành của chủ nghĩa tư bản ở Việt Nam dưới thời phong kiến, T/ C Nghiên cứu
Lịch sử, số 11, năm 1960.
- Nguyễn Hồng Phong, Sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa và vấn đề hình
thành của chủ nghĩa tư bản ở Việt Nam dưới thời phong kiến, T/ C Nghiên cứu
Lịch sử, số 12, năm 1960.
- Nguyễn Hồng Phong, Sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa và vấn đề hình
thành của chủ nghĩa tư bản ở Việt Nam dưới thời phong kiến, T/ C Nghiên cứu
Lịch sử, số 13,năm 1960.
Vấn đề ngoại thương trong lịch sử Việt Nam đã được giới nghiên cứu quan tâm và
được đề cập trong nhiều tác phẩm, công trình, và nhìn chung thường được trình bày
trong tình hình phát triển công thương nghiệp, trong một giai đoạn lịch sử cụ thể, dưới
một triều đại cụ thể…Vì vậy, một công trình nghiên cứu có hệ thống và tập trung về
kinh tế ngoại thương trong suốt 8 thế kỷ dưới các triều đại phong kiến dân tộc có thể
vẫn là một mối quan tâm của người yêu thích và học tập lịch sử. Trên cơ sở kế thừa và
tiếp thu nghiêm túc, có chọn lọc những tư liệu, những kết quả nghiên cứu và các kiến
giải khoa học của các công trình nói trên, luận văn này cố gắng nêu và làm rõ những
nội dung sau:
- Những điều kiện về địa lý, lịch sử và kinh tế -xã hội của hoạt động ngoại thương.
- Tình hình ngoại thương dưới các triều đại phong kiến Việt Nam.
- Đánh giá, nhận định tổng quát về hoạt động, vai trò của ngoại thương.
Mặc dù rất cố gắng nhưng do một số khó khăn, thiếu thốn về tư liệu, kể cả sự ghi
chép còn rời rạc về các sự kiện ngoại thương trong thư tịch cổ, nhiều nguồn tài liệu
quan trọng bằng tiếng nước ngoài chưa thể khai thác được, do trình độ nghiên cứu của
người viết và thời gian nghiên cứu có hạn nên luận văn này không tránh khỏi sai sót.
Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp và hướng dẫn của quý thầy cô.

III. Phƣơng pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện luận văn, em sử dụng phương pháp nghiên cứu của
ngành học là phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic, đồng thời cố gắng
áp dụng thêm kỹ năng của ngành thống kê để góp phần hệ thống hóa các sự kiện lịch
sử, các vấn đề thuế khóa, mặt hàng, giá cả…
Phương pháp cụ thể trong qúa trình khai thác tài liệu và hình thành bố cục luận
văn:
- Đọc tài liệu và công trình nghiên cứu theo định hướng vấn đề tìm hiểu.
- Chọn lọc và tập hợp các tư liệu rút ra từ nguồn tài liệu tham khảo theo đề
cương chi tiết.
- Sắp xếp tư liệu theo các nội dung của đề tài.
Luận văn tốt nghiệp - Kinh tế ngoại thương Việt Nam trong các thế kỉ XI-XVIII

SVTH: Đào Thị Phương Huyền
10
- Dựa vào tư liệu để hình thành bố cục khóa luận. Khối lượng và nội dung
tư liệu góp phần bổ sung, điều chỉnh bố cục khóa luận và hình thành các lập
luận, nhận xét.
- Hoàn chỉnh các nội dung chính của đề tài để bố cục được hợp lý,cân đối.

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Thƣ mục tham khảo, nội dung của luận
văn gồm 3 chƣơng:

- Chương I: Những điều kiện lịch sử- kinh tế của ngoại thương Việt Nam
trong các thế kỉ XI-XVIII.
- Chương II: Tình hình ngoại thương Việt Nam trong các thế kỉ XI-
XVIII.
- Chương III: Vai trò của hoạt động ngoại thương đối với sự phát triển xã
hội Việt Nam dưới các triều đại phong kiến dân tộc.
Luận văn tốt nghiệp - Kinh tế ngoại thương Việt Nam trong các thế kỉ XI-XVIII

SVTH: Đào Thị Phương Huyền
11
Chƣơng I

NHỮNG ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ-KINH TẾ CỦA NGOẠI THƢƠNG VIỆT
NAM TRONG CÁC THẾ KỈ XI-XVIII



I.Điều kiện địa lý- lịch sử:

Việt Nam là một quốc gia ở Đông Nam Á lục địa , thuộc bờ cực đông của bán
đảo Đông Dương, với lãnh thổ hẹp ngang và đường bờ biển chạy dài, vừa ở vị trí của
hai nền văn minh lớn Ấn Độ- Trung Hoa lại là nơi tiếp giáp của hai vùng lãnh thổ
Đông Bắc Á và Đông Nam Á. Vì vậy ngay từ những thế kỉ đầu công nguyên, khi ở
miền nam châu Á đã có sự giao dịch buôn bán giữa Trung Hoa với các nước miền
Nam và Ấn Độ thì đất Giao Chỉ đã là trạm dừng chân của thuyền bè qua lại trên con
đường hàng hải thương mại ấy. Nhà địa lý học đời Đường là Gỉa Đam đã từng nhắc
đến con đường thông thương buôn bán giữa Trung Quốc và các nước phương Nam.
Theo Gỉa Đam thì con đường thông thương buôn bán quan trọng nhất là đường biển,
từ Quảng Châu qua Vịnh Bắc Bộ, quá Cù Lao Chàm và các hải cảng của nước Hoàn
Vương (thuộc miền Nam Trung Bộ của nước ta ngày nay) và từ đó qua eo biển Mã Lai
để sang Nam Dương và Ấn Độ. Do vị trí quan trọng của nước ta trên đường hàng hải
giữa Trung Quốc và các nước phương Nam nên nước ta ngay từ đầu thế kỉ I đã là một
địa điểm giao thông và thương mại quốc tế.
Như vậy là hoạt động ngoại thương ở nước ta ra đời từ rất sớm từ những thế kỉ
đầu công nguyên nhưng tại sao ngoại thương Việt Nam ra đời sớm như vậy nhưng nền
ngoại thương Việt Nam thực sự chưa bao giờ đóng vai trò trọng yếu trong nền kinh tế
dân tộc? Và tại sao người Việt đã sớm có truyền thuyết về nguồn gốc tổ tiên mang
đậm yếu tố Nước, về cái nhìn cổ xưa với biển, về truyền thống quai đê lấn biển, ý thức
bảo vệ chủ quyền trên biển và tài thao lược của thủy quân … Nhưng nhìn chung, cư
dân Việt vẫn dừng lại trước biển, sống ven biển nhưng vẫn xây lưng lại với biển, sống
chết vẫn cố làm nông trong hiệu quả kinh tế không cao? Và mặc dù với hơn 3000km
bờ biển vậy mà người Việt vẫn có ít truyền thống khai thác biển ngoài việc đánh bắt
nhuyễn thể và các ven bờ. Việt Nam không có nền kinh tế thương mại và hàng hải
phát triển, không có nền văn hóa hải dương, khai phóng, hội nhập như cư dân các nước
khu vực Địa Trung Hải hay một vài quốc gia khác trên thế giới. Mối quan hệ kinh tế
văn hóa giữa Đại Việt với các nước Đông Nam Á, châu Á, ngoại trừ Trung Quốc,
không lấy gì làm sâu sắc và thường xuyên. Sự hiểu biết của người Việt về địa lý, lịch
sử, kinh tế các nước trên thế giới cũng rất hạn hẹp cho dù đó là quốc gia lân bang, láng
giềng ? Và tại sao nền kinh tế hàng hóa ở Việt Nam đã xuất hiện rất sớm từ khoảng thế
kỉ XII dưới triều Lý và nó cũng đã từng trải qua những thời kỳ khá phát triển ở các thế
kỉ XIV, XV và các thế kỉ XVII, XVIII. Vậy vì sao mà trải qua 7 thế kỉ , phương thức
sản xuất tư bản chủ nghĩa vẫn không ra đời trong lòng chế độ phong kiến Việt Nam?

Chúng ta hãy bắt đầu từ việc tìm hiểu về những điều kiện lịch sử của ngoại thương
Việt Nam:

Luận văn tốt nghiệp - Kinh tế ngoại thương Việt Nam trong các thế kỉ XI-XVIII

SVTH: Đào Thị Phương Huyền
12
1.Thời kì dựng nƣớc (Hùng Vƣơng- An Dƣơng Vƣơng):

Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục: Những hoạt động trao đổi hàng
hóa đầu tiên giữa nước ta với Trung Quốc có từ trước công nguyên (thời Đường(2357-
2258TCN): Sách Cương mục tiền tiền biên của Lý Kim Tường chép rằng: “Năm Mậu
Thân thứ năm đời Đƣờng Nghiêu, Việt thị thƣờng sang chầu, dâng con rùa thần.
Lời chua- Rùa thần: Theo thông chí của Trịnh Tiều, về đời Đào Đường, phương Nam
có Việt thường thị qua hai lần sứ dịch sang chầu, dâng con rùa thần; có lẽ nó được đến
nghìn năm, mình có hơn ba thước, trên có chữ văn khoa đẩu ghi việc từ khi trời đất
mới mở mang trở về sau. Vua Nghiêu sai chép lấy, gọi là Quy lịch (Lịch Rùa)”.
1

Sử kí Trung Quốc chép: Năm Tân Mão thứ sáu (1110 TCN) đời Thành Vương
nhà Chu, phía Nam bộ Giao Chỉ có Việt Thường thị qua ba lần sứ dịch, sang dâng
chim trĩ trắng. Chu Công nói:” Đức Trạch chưa thấm khắp đến phương xa, người quân
tử không nhận đồ lễ ra mắt; chính lệnh chưa ban ra tới người quân tử chưa bắt người
ta thuần phục”. Theo lời người thông dịch, sứ giả muốn nói: “Ông già trong nước
chúng tôi có nói: Trời mưa không dầm gió dữ và biển không nổi sóng đã ba năm nay,
ý chừng Trung Quốc, có thánh nhân chăng? Vì thế chúng tôi sang chầu”. Chu Công
đem dâng lễ vật lên nhà tôn miếu. Sứ giả không thuộc đường về, Chu Công cho 5 cỗ
xe biền đều làm theo lối chỉ Nam. Sứ giả theo xe ấy theo ven biển về nước Phù Nam,
Lâm Ấp, vừa một năm mới về đến nước
2
.
Đinh Tỵ, năm thứ 24(184TCN)( Hán Cao Hậu năm thứ tư) Nhà nước cấm nước
Nam Việt mua đồ sắt ở cửa quan. Vua nói: “ Khi Cao Đế lên ngôi, ta cùng thông sứ
chung đồ dùng. Nay Cao Hậu nghe lời dèm pha, phân biệt đồ dùng Hán Việt. Việc
này tất là mưu kế của Trường Sa Vương muốn dựa y đức của nhà Hán mưu lấy nước
ta làm vua cả, tự làm công cho mình.”
3

Năm Mậu Ngọ (183TCN) (Triệu Vũ Vƣơng năm thứ 25,Hán Cao Hậu năm
thứ 5). Mùa xuân, Triệu Vƣơng Đà tự xƣng là hoàng đế, đem quân đánh Trƣờng
Sa.
Bấy giờ Lữ Hâu nhà Hán không cho bán đồ sắt ở cửa quan ải Nam Việt. Triệu Vương
nghe tin nói: Hồi Cao Đế làm vua, ta vẫn cho sứ giả thông hảo hai nước cùng trao đổi
đồ vật. Bấy giờ Lữ Hậu nghe tin bầy tôi gièm pha, chia rẽ Hán với Việt làm ngăn cách
việc trao đổi đồ vật…”
4
.
Nhƣ vậy, ngay từ trước công nguyên người Việt cổ đã chủ động tiến hành các
hoạt động giao hảo với các dân tộc xung quanh và xa như Trung Quốc, và từ đó những
hoạt động ngoại thương đầu tiên cũng hình thành. Khoảng năm 210 TCN, khi Tần
Thủy Hoàng chết, đế chế Tần suy yếu, lợi dụng cơ hội đó Nhâm Ngao và Triệu Đà
chiếm Nam Hải, xây dựng một vương quốc riêng chống lại nhà Tần thì đã có hoạt
động buôn bán thương mại giữa Việt Nam và Trung Hoa.

2. Ngoại thƣơng Việt Nam dƣới thời Bắc thuộc:


1
Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm Định Việt sử thông giám cương mục(tập 1), Nxb Giáo dục,năm
1998, trang 77.
2
Theo Khâm Định Việt sử thông giám cương mục (tập 1),Sđd, trang 77 - 78.
3
Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử kí toàn thư (tập 1), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1967, trang 73 (Bản dịch
của Cao Huy Giu)
4
Theo Khâm Định Việt sử thông giám cương mục (tập 1), Sđd, trang 92.
Luận văn tốt nghiệp - Kinh tế ngoại thương Việt Nam trong các thế kỉ XI-XVIII

SVTH: Đào Thị Phương Huyền
13
a. Với Trung Quốc:
Theo Phan Lạc Tuyên, trên thực tế Việt Nam là nơi gặp gỡ của nhiều dân tộc và
nhiều nền văn minh (như một số đông nhà nghiên cứu phương Tây đã nhận định).
Cũng có ý kiến khác đánh giá Việt Nam là ngã tư đường của giao lưu quốc tế với
Đông Nam Á và châu Á. Từ lâu rồi, trước công nguyên, Việt Nam từng là vùng đất
dừng chân hay là trạm trung chuyển cho các thương nhân ở vùng biển Địa Trung Hải,
Trung Cận Đông, Ấn Độ tới, hoặc họ có thương điếm ở đây hoặc họ dừng chân nghỉ
ngơi, mua thêm hàng hóa đi tiếp tơi Trung Quốc và Nhật Bản.
Được nhắc đến nhiều vào lúc đó là Luy Lâu là nơi đóng thủ phủ của Thái thú
Trung Quốc (năm 203 đổi là Giao Châu), ở vào vị trí huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc
(Bắc Bộ ngày nay). Vào những thế kỉ đầu công nguyên do vị trí địa lý thuận lợi cho
việc giao lưu bằng đường bộ, đường sông và đường biển và là trung tâm hành chính và
kinh tế nên nơi đây những nhà buôn từ Ấn Độ, Trung Á hay xa hơn nữa đã tới buôn
bán. Đồng thời tại đây họ tìm đầu mối để đi Trung Quốc hay những những thương
nhân Trung Quốc liên hệ để đi tới vùng Đông Nam Á, Ấn Độ, Trung Quốc, Trung
Đông và Địa Trung Hải. Do đấy những tăng lữ Phật giáo cũng chọn Luy Lâu làm nơi
dừng chân truyền đạo”
5
.
Ngoài Luy Lâu, còn có Long Biên (thuộc Hà Bắc), Tư Phố, Lạch Trường( thuộc
Thanh Hóa) là những trung tâm chính trị, kiêm buôn bán thời kì này.
Để đạt được mục đích vận chuyển thuế khóa, vật cống, chính quyền đô hộ lo sửa
đắp đường sá liên lạc giữa các miền cũng như giữa nước ta với Trung Quốc. Cửu
Chân, Nhật Nam và Giao Chỉ từ thời Hán đã liên lạc thông thương với nhau. Cuối thế
kỉ I, con đường dọc sông Thương sang Trung Quốc được xây đắp. Những con đường
này được lợi dụng làm đường buôn bán giữa các quận và giữa nước ta với Trung
Quốc. Giao Chỉ là nơi có nền nông nghiệp và thương nghiệp phát triển nên là trung
tâm trao đổi của dân buôn ở Cửu Chân và Hợp Phố. Gạo Cửu Chân được đưa sang
Hợp Phố để đổi lấy ngọc trai. Hương liệu quí của Cửu Chân, Nhật Nam cũng được đưa
ra Giao Chỉ để chuyễn ra nước ngoài.
6

Các con đường buôn bán chính trong và ngoài nước đều do người Hoa nắm giữ.
Chính quyền đô hộ nắm độc quyền việc mua bán muối và sắt. Các đồng tiền cổ Trung
Quốc cũng được lưu hành như đồng tiền bán lạng thời Tần, thời Cao Hậu… vàng và
bạc cũng được dùng làm tiền.
7

Tuy vậy, dưới thời Bắc thuộc nền kinh tế Việt Nam vừa được thúc đẩy, vừa bị
kìm hãm (do tiếp xúc với một nền văn minh cao hơn nhưng lại bị bóc lột nặng nề). Với
những sản vật quý được ưa chuộng ở nhiều nước nên Việt Nam trở thành nơi ghé chân
của các thương thuyền Trung Quốc đi phương xa và dần trở thành một thị trường với
hai mục đích: Một là, để các lái buôn Trung Quốc đến bán hàng và mua hàng đi xa;
Hai là, để các lái buôn Trung Quốc bán hàng của họ, mua của ta về nước họ hay buôn
bán làm giàu tại chỗ.
Ngoại thương Việt Nam phát triển là do sự lệ thuộc vào Trung Quốc và sự phát
triển của nền sản xuất trong nước. Nhưng “trong suốt một ngàn năm chống ách thống
trị Trung Hoa người Việt Nam không đúc tiền mà dùng tiền của bọn đô hộ. Điều đó

5
Theo Phan Lạc Tuyên, Lịch sử bang giao Việt Nam- Đông Nam Á (Trước công nguyên- Thế kỉ XIX),Bộ
Gíao Dục và Đào Tạo, Viện Đào Tạo Mở Rộng, Khoa Đông Nam Á, trang 27.
6
Theo Trương Hữu Quýnh, Lịch sử Việt Nam ( Trước thế kỉ VI. Q1, Tập1), Nxb Gíao dục, TP. Hồ Chí
Minh, 1976, trang 168- 169.
7
Phạm Văn Chiến, Lịch sử kinh tế Việt Nam, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2003, trang 36.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét