Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

Quan điểm của Đảng và nhà nước Việt Nam về vấn đề ngôn ngữ và văn hóa ở vùng dân tộc thiểu số Việt Nam

1
Quan điểm của Đảng và nhà nước Việt Nam về vấn đề ngơn ngữ và văn hố
ở vùng dân tộc thiểu số Việt Nam

I. Chủ nghĩa Mác - Lênin với vấn đề ngơn ngữ văn hố các dân tộc thiểu số
Ngay từ khi mới ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lấy chủ nghĩa Mác -
Lênin làm nền tảng tư tưởng, làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của mình.
Những vấn đề dân tộc, những chính sách xây dựng và phát triển đất nước ln
xuất phát từ lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và định hướng xã hội chủ nghĩa.
Chính vì vậy, lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin có vai trò quan trọng, ảnh
hưởng trực tiếp đến việc hoạch định những chính sách phát triển đất nước nói
chung và những chính sách ngơn ngữ văn hố dân tộc nói riêng của Đảng và
Nhà nước. Đó là lý do giải thích vì sao khi đề cập đến quan điểm của Đảng và
Nhà nước về vấn đề ngơn ngữ văn hố dân tộc ở vùng dân tộc thiểu số, chúng ta
khơng thể khơng đề cập đến chủ nghĩa Mác-Lênin với vấn đề ngơn ngữ văn hố
các dân tộc thiểu số.
Do tính lịch sử, quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề ngơn ngữ
văn hố tập trung chủ yếu ở quan điểm của Lênin. Lênin cũng như các triết gỉa
khác rất quan tâm đến mặt bản chất của ngơn ngữ trong mối quan hệ biện chứng
trực tiếp hoặc gián tiếp với ngơn ngữ khơng phải chỉ vì bản thân ngơn ngữ là
một đối tượng của triết học mà với Lênin, điều quan trọng khơng kém là ngơn
ngữ gắn bó rất chặt chẽ với các vấn đề dân tộc, các vấn đề văn hố và nhiều vấn
đề xã hội khác.
Những vấn đề mà ngày nay chúng ta gọi là chính sách ngơn ngữ đã được
hình thành và trở thành bộ phận hữu cơ của học thuyết Mác - Lênin vào những
năm đầu thế kỷ XX. Sự quan tâm của Lênin đối với ngơn ngữ thể hiện rõ trong
những vấn đề về quan hệ ngơn ngữ giữa các dân tộc, quyền bình đẳng dân tộc về
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
2
mặt ngơn ngữ, việc sử dụng và thụ hưởng giáo dục ngơn ngữ. V. I Lênin kế thừa
những tư tưởng của Mác và Ăngghen, đã hồn thiện nó trong một điều kiện xã
hội mới và là người có nhiều ý kiến hơn cả về vấn đề dân tộc và chính sách ngơn
ngữ dân tộc.
1. Ý kiến của V.I.Lênin về vai trò ngơn ngữ trong việc đồn kết các
dân tộc ở một quốc gia đa dân tộc
Đồn kết dân tộc trong một quốc gia đa dân tộc khơng chỉ là mục tiêu của
sự phát triển mà còn là biện pháp để thúc đẩy sự phát triển đất nước. Ở một quốc
gia đa dân tộc, muốn quốc gia đó được phát triển, người ta khơng thể khơng đặt
ra vấn đề đồn kết dân tộc. Đây là tư tưởng của Đảng ta khi nắm vai trò lãnh đạo
xã hội để đưa nước ta trở thành một nước cơng nghiệp hố, hiện đại hố.
Trong bài viết của mình, Lênin đã chỉ rõ mối quan hệ mật thiết giữa ngơn
ngữ và sự đồn kết các dân tộc để phát triển xã hội. Mối quan hệ này thể hiện ở
tình trạng ngơn ngữ một mặt vừa là dấu hiệu của sự phát triển xã hội và mặt
khác ngơn ngữ sẽ góp phần vào việc thúc đẩy sự phát triển của chính xã hội đó.
Những phân tích của Lênin chỉ rõ rằng muốn giành được mục tiêu cao cả
là thúc đẩy sự tiến bộ của một xã hội có nhiều dân tộc khác nhau cùng chung
sống, người ta phải ln ln đặt lên vị trí hàng đầu vấn đề đồn kết các dân tộc
đó. Mà vấn đề đồn kết dân tộc phải nhất thiết có sự tham gia và đóng góp của
ngơn ngữ. Thừa nhận vai trò của ngơn ngữ thực chất là sự tơn trọng nét đặc
trưng văn hố của các dân tộc, là việc ghi nhận vai trò là cơng cụ tun truyền
cách mạng.
Cũng vẫn một cách nhìn như vậy, Lênin khẳng định rằng : "chế đọ dân
chủ mà giai cấp cơng nhân vẫn bênh vực, khơng giành một tí đặc quyền nào cho
bất cứ một dân tộc nào, cũng như bất cứ một ngơn ngữ nào! Khơng được có một
hành động áp chế nhỏ nào, khơng được có một sự bất cơng nhỏ nào đối với dân
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
3
tộc thiểu số. Đó là những ngun tắc của nền dân chủ cơng nhân." Rõ rằng tư
tưởng bình đẳng dân tộc và cùng với nó là bình đẳng ngơn ngữ dân tộc theo
phân tích của Lênin là thước đo để đánh giá mức độ dân chủ của một xã hội nhất
định. Có thể thấy, ở đây Lênin cho rằng đảm bảo sự bình đẳng ngơn ngữ khơng
đơn thuần chỉ là đảm bảo sự bình đẳng dân tộc mà còn là sự đảm bảo vững vàng
bản chất dân chủ của nhà nước vơ sản.
Như vậy, qua những ý kiến của Lênin về vấn đề này, chúng ta thấy rõ mối
quan tâm của Người về vai trò của ngơn ngữ trong đồn kết cùng phát triển các
dân tộc quan trọng đến mức nào.
2. Ý kiến của V.I Lênin về quyền sử dụng tiếng mẹ đẻ của các dân tộc
trong một quốc gia đa dân tộc, đa ngơn ngữ
Trong một quốc gia đa dân tộc như nước Nga, đối với Lênin, vấn đề đồn
kết các dân tộc để cùng nhau phát triển là một tư tưởng nhất qn của Người.
Chính vì vậy, đối với tiếng mẹ đẻ của các dân tộc thiểu số trong một quốc gia có
bối cảnh như nước Nga sau cách mạng Tháng Mười, theo tư tưởng của Lênin,
quyền được sử dụng tiếng mẹ đẻ trong các hoại động xã hội là quyền bất khỏi
xâm phạm. Người viết: "Nhân dân có quyền học bằng tiếng mẹ đẻ, mỗi cơng
dân có quyền phát biểu bằng tiếng mẹ đẻ trong các cuộc họp và ở các cơ quan xã
hội cũng như các cơ quan nhà nước" Ở đây Lênin khẳng định một cách dứt
khốt rằng mỗi dân tộc đều có quyền được tiếp nhận giáo dục bằng tiếng mẹ đẻ
của họ, và đây là quyền thiêng liêng của mỗi dân tộc trong một quốc gia đa dân
tộc để bảo tồn ngơn ngữ và văn hố của họ. Cùng với sự tiếp nhận giáo dục bằng
tiếng mẹ đẻ, Người còng khẳng định quyền của các dân tộc được sử dụng tiếng
mẹ đẻ trong các cuộc hội họp (tất nhiên, các cuộc hội họp ở đây được hiểu là có
sự góp mặt của nhiều dân tộc khác nhau) để bày tỏ ý kiến của mình. Và họ cũng
có quyền dùng tiếng nói của mình trong tỏng các tổ chức xã hội hay cơ quan nhà
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
4
nước mà ngơn ngữ thường dùng là ngơn ngữ của dân tộc khơng phải là tiếng mẹ
đẻ của họ. Tơn trọng quyền tự do sử dụng tiếng mẹ đẻ của các dân tộc thiểu số,
sẽ làm tăng thêm sự hiêu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, do đó sẽ làm tăng thêm
sức mạnh của quốc gia đa dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.
Người viết: "Chúng ta đòi hỏi một sự bình đẳng tuyệt đối về mặt quyền
lợi cao nhất cho tất cả các dân tộc trong quốc gia và sự bảo vệ vơ điều kiện
quyền lợi của mọi dân tộc ít người." Như vậy, đối với Lênin, quyền được dùng
tiếng mẹ đẻ và hoạt động văn hố dân tộc là quyền bất khả xâm phạm của các
dân tộc khác nhau trong xã hội đa dân tộc. Ở một khía cạnh khác, quyền dùng
tiếng mẹ đẻ, theo Lênin, lại là sự bình đẳng trong một xã hội dân chủ, tức là một
xã hội dân chủ thực sự. Người viết : "Khơng một người dân chủ nào, lại càng
khơng có một người Mácxít nào phủ nhận sự bình đẳng giữa các ngơn ngữ"
Điều này có thể được hiểu như là quyền của mỗi dân tộc trong một xã hội đa dân
tộc duy trì và phát huy tiếng mẹ đẻ của mình như là tiêu chí của một xã hội dân
chủ.
Đây thực sự là những đọng lực thúc đẩy sự phát triển của một xã hội nói
chung và đặc biệt là trong xã hội xã hội chủ nghĩa mà chúng ta mong muốn xây
dựng.
3. Ý kiến của V.I Lênin về ngơn ngũ quốc gia trong một quốc gia đa
dân tộc, đa ngơn ngữ
Khi tìm hiểu quan niệm của Lênin về ngơn ngữ văn hố trong một quốc
gia đa dân tộc, chúng ta khơng thể chỉ thuần túy tìm hiểu quan niệm của Người
về vai trò xã hội của ngơn ngữ các dân tộc thiểu số mà còn phải tìm hiểu quan
niệm của Người về vị trí ngơn ngữ quốc gia trong quốc gia đa dân tộc đó. Chỉ
khi nào thấy hết bản chất biện chứng của mối quan hệ này, chúng ta mới có
được một ứng xử đúng trong việc hoạch định chính sách ngơn ngữ văn hố của
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
5
một quốc gia đa dân tộc. Khi nghiên cứu tư tưởng của Lênin, thực chất chúng ta
tìm hiểu quan niệm của Người về vị trí của tiếng Nga thời bây giờ. Xt phát từ
quan niệm bình đẳng ngơn ngữ của mình, V.I.Lênin ln ln đặt vị trí của tiếng
Nga trong sự bình đẳng của nó đối với các ngơn ngữ khác cho dù nó là ngơn ngữ
của đa sơ cư dân gần như đơng đảo nhất của nước Nga so với các ngơn ngữ khác
thời bấy giờ. Mặc dù vậy, trong phân tích của Người, chúng ta vẫn nhận thấy sự
nhấn mạnh ở mức độ khác nhau về vai trò của các ngơn ngữ khác nhau trong xã
hội có nhiều dân tộc đang ở trình độ phát triển khác nhau như ở nước Nga, và
qua đó thấy được vai trò của tiếng Nga trong xã hội Nga thời đó.
Đi vào cụ thể, chúng ta có thể nhận thấy những vấn đề sau đây trong các ý
kiến của Lênin.
3.1 Vấn đề tránh độc quyền ngơn ngữ
Trong "Đề cương về vấn đề dân tộc," V.I Lênin viết rằng : "Đặc biệt,
Đảng dân chủ xã hội bác bỏ các chủ trương đề ra thứ ngơn ngữ quốc gia. Ở nước
Nga, cái đó thật là thừa, vì hơn bảy phần mười dân cư của Nga là thuộc các dân
tộc Xlavơ cùng huyết thống và trong điều kiện có nhà trường tự do trong lưu
thơng kinh tế, sẽ dễ dàng có thể hiểu được nhau mà khơng cần phải dành cho
một trong những tiếng nào đó bất cứ một đặc quyền quốc gia nào". Cách đặt vấn
đề của Lênin ở đây thật rõ rằng. Đối với Người, trong điều kiện của nước Nga,
khơng cần dành cho tiếng Nga một đặc quyền riêng nào mà đặc quyền đó được
núp dưới danh hiệu là ngơn ngữ "quốc gia." Tuy khơng ủng hộ việc người ta
giành đặc quyền riêng cho tiếng Nga dưới chiêu bài là một ngơn ngữ quốc gia,
nhưng Lênin vẫn thừa nhận vai trò hay vị trí quan trọng của tiếng Nga trong xã
hội nước Nga nói chung. Ở đây, chính lý do kinh tế mới là lý do làm cho tiếng
Nga có thể trở thành cơng cụ giao tiếp chung của mọi dân tộc trong xã hội Nga
được hay khơng. Và như vậy, tiếng Nga gắn với sự trội hơn về kinh tế trong xã
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
6
hội Nga. Nếu khơng nhận thấy vai trò đó mà tạo ra một sự áp đặt, mà sự áp đặt ở
đây núp dưới hình thức cấp cho nó một đặc quyền quốc gia riêng, thì cách làm
ấy là thừa, là khơng cần thiết.
Lênin cũng phân tích rằng "Tại sao nước Nga "rộng lớn", nhiều thành
phần dân tộc hơn mà lại lạc hậu một cách ghê gớm, lại phải kìm hãm sự phát
triển của mình bằng cách duy trì một đặc quyền nào đó cho một trong những
tiếng nói của nó? Chẳng phải là nước Nga cần xố bỏ mọi đặc quyền một cách
nhanh chóng, hết sức đầy đủ và hết sức kiên quyết, nếu nó muốn đuổi kịp châu
Âu."
Như vậy, nhũng phân tích sâu săc của Lênin về tiếng Nga trong bối cảnh
nước Nga sau cách mạng Tháng Mười mà chúng ta vừa trích ở trên phản ánh
một tư tưởng chung là ở một quốc gia đa ngơn ngữ, ý định giành đặc quyền
riêng cho một ngơn ngữ nào đó là trái với quy luật phát triển của xã hội, do đó
sẽ kìm hãm sự phát triển của xã hội đó. Điều này cũng có nghĩa là Lênin phản
đối đặc quyền của một ngơn ngữ duy nhất chứ khơng phủ nhận có sự khác nhau
về vai trò của những ngơn ngữ khác nhau trong xã hội của một quốc gia đa dân
tộc. Do đó, đối với chúng ta, nhận biết sự khác nhau về vai trò của các ngơn ngữ
khác nhau trong một xã hội cụ thể là thực sự cần thiết để xây dựng một chính
sách hợp lý cho sự phát triển. Bởi vì, có như vậy người ta mới thấy việc tổ chức
dạy và học nhiều hay ít một ngơn ngữ nào đấy khơng phải là một sự phân biệt
đối xử mà là xuất phát từ lợi ích phát triển xã hội. Và đây chính là sự hiểu biết
thực sự nhằm tránh sự tự ti khơng cần thiết.
3.2. Ngơn ngữ quốc gia phải là ngơn ngữ được các dân tộc khác nhau
cùng thừa nhận và chấp nhận
Đối với Lênin, khi nói về ngơn ngữ quốc gia, Người có một cách nhìn
biện chứng mà theo chúng tơi ln ln cập nhật trong thời đại chúng ta, nhất là
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
7
khi các vấn đề dân tộc đang được đặt ra một cách nóng bỏng. Đó là tư tưởng
phản đối dùng áp lực để cưỡng bức, tạo nên một vị trí nào đó trong xã hội cho
một ngơn ngữ nhất định. Người viết "Đồng chí ủng hộ ngơn ngữ nhà nước ở
Nga. No ‘là cần thiết, nó đã và sẽ có ý nghĩa tiến bộ to lớn.’ Tơi hồn tồn khơng
tán thành. Tơi đã viết về vấn đề này từ lâu trên báo "Sự thật" và cho đến nay vẫn
chưa có ai phản đối . Lý lẽ của đồng chí hồn tồn khơng thuyết phục được tơi -
ngược lại là khác. Tiếng Nga có ý nghĩa tiến bộ đối với một số rất lớn những dân
tộc nhỏ bé và lạc hậu - điều ấy khỏi phải bàn cãi. Nhưng lẽ nào đồng chí khơng
thấy rằng nó có thể có ý nghĩa tiến bộ trong một phạm vi lớn hơn nữa nếu khơng
có sự cưỡng bức? Thế nào, phải chăng "ngơn ngữ nhà nước" khơng phải là cái
gậy làm cho người ta tránh xa tiếng Nga hay sao? Làm thế nào mà đồng chí
khơng hiểu cái tâm lý mà hễ hơi có sự cưỡng bức là nó sẽ làm nhục, làm hại,
làm mất hết ý nghĩa tiến bộ hiển nhiên của sự tập trung hố, của những quốc gia
lớn, của ngơn ngữ thống nhất? Nhưng kinh tế còn quan trọng hơn so với tâm lý.
Ở nước Nga đã có nền kinh tế tư bản chủ nghĩa làm cho tiếng Nga trở thành thứ
tiếng cần thiết. "
Đoạn trích ở trên thể hiện tư tưởng của Lênin về vai trò của tiếng Nga
trong nước Nga đa dân tộc. Theo suy nghĩ của chúng tơi đây là vấn đề hết sức
quan trọng khi chúng ta xây dựng một chính sách ngơn ngữ văn hố cho một
quốc gia đa dân tộc, đa ngơn ngữ như ở nước ta. Có thể nói trong một quốc gia
đa dân tộc, người ta có thể cơng nhận tư cách quốc gia của một ngơn ngữ nào đó.
Nhưng sự cơng nhận ấy dứt khốt khơng thể xuất phát từ một sự áp đặt (mà sự
áp đặt ấy có thể biểu hiện bằng cách giành cho nó một ưu tiên đặc biệt) mà phải
xuất phát từ vai trò thực tiếng phát triển xã hội của ngơn ngữ. Và ở đây, theo
Lênin, nền kinh tế phát triển sẽ giữ một vai trò quyết định. Vì thế, việc để các
dân tộc trong một quốc gia đa dân tộc thừa nhận vai trò ngơn ngữ quốc gia của
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
8
một ngơn ngữ nào phải gắn liền việc phát triển ngơn ngữ quốc gia với sự phát
triển kinh tế xã hội trong quốc gia đó.
4. Tư tưởng của Lênin và vấn đề ngơn ngữ văn hố dân tộc trong thời
đại hiện nay
Những tư tưởng tiến bộ đi trước thời đại này của Lênin phù hợp với tư
tưởng tiến bộ của nhân loại. Ngày nay, khi thế giới bước sang thế kỷ XXI, trong
xu thế phát triển như vũ bão của mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội tồn cầu,
vấn đề bảo vệ quyền con người nói chung, quyền dân tộc tự quyết và quyền của
các dân tộc thiểu số nói riêng được quan tâm hơn bao giờ hết. Những lực lượng
tiến bộ trên thế giới khơng ngừng đấu tranh, từng bước xây dựng, đặt nền móng
vững chắc cho việc hình thành những căn cứ và ngun tắc pháp lý vũng chắc
có tính quốc tế để bảo vệ quyền con người. Trong phạm vi nghiên cứu của mình,
chúng tơi xin được đề cập đến quyền của các nhóm thiểu số, đặc biệt là các dân
tộc thiểu số trong những thoả thuận của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc. Đây là
một bộ phận quan trọng của luật pháp quốc tế về quyền con người mà cộng
đồng thế giới hiện nay khơng thể khơng nói tới.
Khi luật quốc tế về quyền con người được hình thành và phát triển nhah
chóng sau sự ra đời của tổ chức Liên Hợp Quốc thì vấn đề bảo vệ quyền của các
dân tộc thiểu số đã được luật pháp hố một cách rộng rãi. Tại Điều 27 của Cơng
ước quốc tế về quyền dân sự chính trị (năm 1966), nhân loại đã trang trong ghi
nhận quyền của các dân tộc thiểu số. Nội dung của điều này đòi hỏi các quốc gia
phải bảo đảm cho các cá nhân thuộc các nhóm thiểu số quyền được hưởng nền
văn hố, ngơn ngữ trong các điều kiện đặc thù của mình. Đặc biệt năm 1992,
Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thơng qua tun bố về quyền của những người
thuộc các nhóm thiểu số ngơn ngữ, tơn giáo, dân thộc thiểu số và quốc gia. Đây
là một văn bản đầu tiên của Liên Hợp Quốc được thơng qua chỉ duy nhất với
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
9
mục đích nêu lên các quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số nhằm
đảm bảo cho họ được hưởng những điều kiện phù hợp với đặc điểm dân tộc,
ngơn ngữ , tơn giáo của mình trong q trình hưởng thụ quyền con người nói
chung trong thời đại ngày nay. Mặc dù khơng phải là một văn bản pháp lý ràng
buộc, nhưng bản tun bố năm 1992 này của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã
đánh dấu một bước ngoặt mới về những nỗ lực và cam kết chính trị - pháp lý
của các quốc gia, của cộng đồng quốc tế đối với việc đảm bảo quyền cho các
quốc gia phải đưa ra và thực hiện những cam kết chính trị trong việc bảo đảm sự
phát triển bình đẳng về quyền con người cho các dân tộc thiểu số đang cư trú ở
quốc gia mình. Như vậy, những quan điểm, tư tưởng của Lênin, tức là của chủ
nghĩa Mác-Lênin về quyền bình đẳng các dân tộc, quyền bình đẳng về ngơn ngữ
văn hố dân tộc, về thực chất là khơng xa lạ gì với tư tưởng tiến bộ của nhân
loại hiện nay. Do đó, có thể nói những tư tưởng đó đã được "chuyển hố" vào
các văn bản pháp lý quan trọng của Liên Hợp Quốc, một tổ chức gần như tập
hợp tất cả các quốc gia trong thời đại ngày nay. Như vậy, tư tưởng của chủ nghĩa
Mác - Lênin, cơ sở lý luận của Đảng và Nhà nước Việt Nam về vấn đề ngơn ngữ
văn hố dân tộc, rõ ràng phù hợp với tư tưởng tiến bộ của nhân loại và trở thành
cơ sở vững chắc cho các dân tộc thiểu số đấu tranh giành lấy quyền sống đích
thực của mình.
II. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về vấn đề ngơn ngữ văn hố các dân
tộc thiểu số
Trong suốt q trình lãnh đạo cách mạng, Đảng cộng sản Việt Nam và
Chủ tịch Hồ Chí Minh ln quan tâm đến vấn đề dân tộc, đề ra đường lối, chính
sách dân tộc nhất qn và đúng đắn, nhờ đó đưa lại những thắng lợi cho sự
nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc cũng như giành nhiều thành tựu trong sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
10
Những vấn đề nóng bỏng trong quan hệ dân tộc giữa các quốc gia trên thế
giới và trong bản thân một quốc gia đa dân tộc cũng đang đặt ra những nhiệm vụ
cần phải được giải quyết. Ở Việt Nam, những thế lực thù địch thường lợi dụng
vấn đề dân tộc để gây ra và kht sâu mâu thuẫn trong nội bộ các dân tộc, nhằm
kìm hãm sự phát triển của Việt Nam.
Trước tình hình như vậy, đòi hỏi chúng ta nghiên cứu đầy đủ những chính
sách thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về vấn đề dân tộc, mà
cụ thể là vấn đề ngơn ngữ văn hố dân tộc, nhằm góp phần giải quyết tốt nhất
vấn đề dân tộc đang được đặt ra trong tình hình hiện nay.
Chính sách về vấn đề dân tộc thiểu số nói chung và đặc biệt là những
chính sách về vấn đề ngơn ngữ văn hố ở vùng dân tộc thiểu số nói riêng ln là
mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước.
Đồng bào dân tộc thiểu số là một bộ phận hữu cơ trong cộng đồng dân tộc
Việt Nam. Hiện nay vùng dân tộc thiểu số là vùng lãnh thổ thuộc địa bàn của
khoảng 40 tỉnh của cả nước, với diện tích tự nhiên là 230,000 km
2
, bằng 75%
đất đai của Việt Nam, với số dân khoảng 24 triệu người, chiếm 30% dân số
chung của cả nước. Vùng lãnh thổ này lại có gần 4000km đường biên giới với
các nước Campuchia, Lào và Trung Quốc. Đây là một địa bàn trọng yếu về
chính trị, kinh tế, an ninh quốc phòng, văn hố xã hội của đất nước.
Tuy nhiên, vùng dân tộc thiểu số cũng là một vùng có điều kiện tự nhiên
khắc nghiệt, cơ sở cho sự phát triển có nhiều sự khó khăn. Do có địa hình phức
tạp, giao thơng kém phát triển, vùng lãnh thổ này gây nên những khó khăn
khơng dễ vượt qua trong việc giao lưu phát triển kinh tế xã hội. Cùng với sự khó
khăn về điều kiện tự nhiên ấy, do nhiều ngun nhân lịch sử để lại, nơi đây còn
là vùng lãnh thổ có đời sống kinh tế xã hội rất thấp kém, thậm chí có nơi có thể
nói là q thấp kém.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
11
Vào thời điểm hiện nay, do cơ sở hạ tầng khơng có, với xã hội lạc hậu, đời
sống của nhiều dân tộc thiểu số vẫn còn hết sức nghèo nàn, đơn điệu. Trong điều
kiện tự nhiên và xã hội như vậy, vùng dân tộc thiểu số chưa tương xứng với vị
thế địa - chính trị của nó, nhất là trong đòi hỏi phát triển đất nước theo con
đường cơng nghiệp hố - hiện đại hóa.
1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về ngơn ngữ giao tiếp giữa cộng
đồng dân tộc trong quốc gia đa dân tộc
Trong thực tế tình hình đất nước như vậy, ngay từ khi giành được độc lập
dân tộc bằng cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng cộng sản và Nhà
nước Việt Nam đã ý thức rất rõ nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội vùng dân tộc
thiểu số nhằm bảo đảm quyền bình đẳng giữa các dân tộc. Và để thực hiện
nhiệm vụ chung ấy, một trong những nhiệm vụ cụ thể được đặt ra là phải phát
triển nền văn hố của dân tộc thiểu số. Trong nhiệm vụ phát triển nền văn hố
của đồng bào dân tộc, thì nhiệm vụ phát triển ngơn ngữ có một vai trò quan
trọng. Bởi vì trong địa bàn dân tộc của nước ta, có tới trên 50 ngơn ngữ khác
nhau là tiếng mẹ đẻ của các dân tộc. Đối với cơ sở đa ngữ đó, để các dân tộc có
thể giao tiếp được với nhau, bình đẳng cùng phát triển thì vai trò của ngơn ngữ
với tư cách là cơng cụ giao tiếp chung thật nặng nề.
Người ta có thể thấy rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước về vấn đề ngơn
ngữ làm cơng cụ giao tiếp chung ở vùng dân tộc thiểu số thể hiện ở nhiều chỉ thị,
nghị quyết, kế hoạch đã được cơng bố. Những tư tưởng thể hiện chính sách của
Đảng và Nhà nước đối với vấn đề này đều có chung một nhiệm vụ là xác định
và xác nhận tiếng Việt có vai trò là cơng cụ giao tiếp đồng thời là cơng cụ phát
triển xã hội của tất cả các dân tộc trong mơi trường đa dân tộc như ở Việt Nam.
1) Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành cơng, Bộ Quốc gia Giáo
dục đã có chỉ thị "Từ nay tất cả các khoa học đều dạy bằng tiếng Việt." Đây là
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
12
một chỉ thị sáng suốt, hợp thời khi Đảng giành được chính quyền, thể hiện sự
thấm nhuần tư tưởng Mácxít của Đảng ta. Chính nhờ ngay từ đầu xác định tiếng
Việt có một vị trí xứng đáng của mình trong một quốc gia đa dân tộc độc lập
như nước ta mà nó đã tạo tiền đề vững chắc cho vị thế ngơn ngữ quốc gia của
tiếng Việt. Điều này đã khơng chỉ góp phần đảm bảo cho sự bình đẳng giữa các
dân tộc ở nước ta, mà còn đảm bảo cho sự đồn kết dân tộc của nước ta, một
thực tế mà khơng phải quốc gia nào ở khu vực Đơng Nam Á sau khi giành được
độc lập đều làm và làm có kết quả.
2) Tiếp theo bước đi đúng đắn ban đầu ấy, Quyết định 153-CP của Thủ
tướng Chính phủ (1969) đã cụ thể hố vai trò của tiếng Việt trong đời sống đồng
bào dân tộc thiểu số ở cấp độ một văn bản có giá trị pháp lý cao hơn, theo đó
"Tất cả dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam đều cần học và dùng tiếng, chữ phổ
thơng là ngơn ngữ chung của cả nước. Nhà nước cần ra sức giúp đỡ các dân tộc
thiểu số học biết nhanh tiếng, chữ phổ thơng."
3) Và với Quyết định 53-CP của Hội đồng chính phủ (1980), tiếng Việt
thật sự được cơng nhận như một cơng cụ giao lưu và phát triển về mọi mặt trong
đời sống của người dân tộc thiểu số, là phương tiện đồn kết, là phương tiện
thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc của nước Việt Nam độc lập thống
nhất. Quyết định nêu rõ rằng;
+ Tiếng và chữ phổ thơng là ngơn ngữ chung của cộng đồng dân tộc Việt
Nam. Nó là phương tiện giao lưu khơng thể thiếu được giữa các địa phương và
các dân tộc trong cả nước, giúp cho các địa phương và các dân tộc có thể phát
triển đồng đều các mặt kinh tế, văn hố, khoa học kỹ thuật Tăng cường khối
đại đồn kết tồn dân và thực hiện quyền bình đẳng dân tộc."Quan điểm vừa
nhân văn vừa khoa học này được tiếp tục khẳng định và chính thức được luật
pháp hố trong Luật phổ cập giáo dục tiểu học (1991) và Luật giáo dục(1998) đã
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
13
được Quốc hội nước ta thơng qua. Và gần đây, tư tưởng ấy đã được nhắc lại
trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX, đại hội của nước ta trong thế kỷ XXI
là "Vấn đề dân tộc và đồn kết các dân tộc ln ln có vị trí chiến lược trong
sự nghiệp cách mạng. Thực hiện tốt chính sách các dân tộc bình đẳng, đồn kết,
tương trợ giúp nhau cùng phát triển" là động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội
vùng dân tộc thiểu số ở nước ta trong giai đoạn lịch sử hiện nay.
2. Quan điểm và chính sách của Đảng và Nhà nước về ngơn ngữ văn
hố các dân tộc thiểu số
Bên cạnh việc xác định vai trò ngơn ngữ phổ thơng của tiếng Việt trong
giao tiếp chung giữa các dân tộc, Đảng và Nhà nước còn nhận thức đúng giá trị
của tiếng mẹ đẻ các dân tộc trong sự phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là phát
triển bản sắc văn hố của họ. Bên cạnh việc khuyến khích, tổ chức và tạo điều
kiện để tiếng Việt thực sự là cơng cụ, là động lực phát triển của các dân tộc thiểu
số, Đảng và Nhà nước ta ln ln tơn trọng, coi trọng và quan tâm đến quyền
được sử dụng và phát triển tiếng mẹ đẻ của các dân tộc thiểu số. Từ năm 1941
khi chưa giành được chính quyền, Đảng ta đã xác định trong nghị quyết của
mình là "Văn hố của mỗi dân tộc sẽ được tự do phát triển, tồn tại và được bảo
đảm." Sau khi giành được chính quyền và giải phóng nửa đất nước thân u, tư
tưởng ấy được thể hiện trong Hiến pháp 1960 theo đó thừa nhận "Các dân tộc có
quyền duy trì hoặc sửa đổi phong tục, tập qn, dùng tiếng nói, chữ viết phát
triển văn hố dân tộc mình." Điều này được khẳng định lại trong Hiến pháp
1980 và Hiến pháp 1992 tức là Hiến pháp đang có giá trị pháp luật hiện nay,
rằng "Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và
phát huy những phong tục, tập qn, truyền thống và văn hố tốt đẹp của mình."
Để đảm bảo những quyền cơ bản trong việc phát triển tiếng mẹ đẻ của các
dân tộc thiểu số được ghi trong các luật cơ bản của Nhà nước trở thành hiện thực,
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
14
Nhà nước ta đã xây dựng nhiều kế hoạch hành động cụ thể trong các nghị quyết
của Chính phủ. Quyết định 53-CP của Hội đồng Chính phủ (1980) ghi rõ rằng :
Tiếng nói và chữ viết hiện có của các dân tộc thiểu số được Nhà nước tơn trọng,
duy trì, giúp đỡ và phát triển." Năm 1997 Bộ Giáo dục - Đào tạo đã có thơng tư
số 1 GD-ĐT cụ thể hố kế hoạch đó: "Các dân tộc thiểu số có quyền sử dụng
tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình cùng quản lý nhà nước này cũng đã có
những biện pháp cụ thể để hướng dẫn việc dạy và học tiếng nói, chữ viết dân tộc
theo tinh thần quyết định 53-CP và Luật phổ cập giáo dục tiểu học đã được
Quốc hội thơng qua.

















THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét