5
và phương thức đóng góp Phí bảo vệ mơi trường đối với nước thải. Đây hầu hết
là các loại phí dựa trên ngun tắc “người gây ơ nhiễm phải trả tiền”, ở Việt
Nam hiện nay còn chưa quan tâm tới việc thiết lập các loại phí dựa trên cơ sở
ngun tắc “người hưởng lợi phải trả tiền”.
1.1.2. Các ngun tắc trong xác định mức phí bảo vệ mơi trường.
a. Ngun tắc người gây ơ nhiễm phải trả tiền (PPP)
Ngun tắc này bắt nguồn từ các sáng kiến do tổ chức Hợp tác kinh tế và
phát triển (OECD) đề ra vào các năm 1972 và 1974 . PPP “Tiêu chuẩn” năm
1972 có quan điểm những tác nhân gây ơ nhiễm phải trả mọi chi phí cho hoạt
động kiểm sốt và phòng chống ơ nhiễm. PPP “Mở rộng” năm 1974 chủ trương
rằng, các tác nhân gây ơ nhiễm thì ngồi việc tn theo các chỉ tiêu đối với viềc
gây ơ nhiễm thì còn phải bồi thường thiệt hại cho những người bị thiệt hại do ơ
mhiễm này gây ra. Nói tóm lại, theo ngun tắc PPP thì người gây ơ nhiễm phải
chịu mọi khoản chi phí để thực hiện các biện pháp làm giảm ơ nhiễm do chính
quyền tổ chức thực hiện, nhằm đảm bảo cho mơi trường ở trong trạng thái chấp
nhận được.
b. Ngun tắc người hưởng lợi phải trả tiền (BPP)
Ngun tắc BPP chủ trương rằng việc phòng ngừa ơ nhiễm và cải thiện
mơi trường cần được bảo trợ bởi những người muốn thay đổi hoặc những người
khơng phải trả giá cho việc gây ơ nhiễm. Ngun tắc BPP cũng tạo ra một khoản
thu cho Nhà nước, mức phí tính theo đầu người càng cao và càng nhiều người
nộp thì số tiền thu được càng nhiều. Số tiền thu được theo ngun tắc BPP có
thể do các cá nhân muốn bảo vệ mơi trường và những cá nhân khơng phải trả
cho việc thải ra các chất gây ơ nhiễm nhưng khi mơi trường được cải thiện họ là
những người được hưởng lợi cần phải đóng góp. Tuy nhiên, số tiền này khơng
trực tiếp do người hưởng lợi tự giác trả mà phải có một chính sách do Nhà nước
ban hành qua thuế hoặc phí buộc những người hưởng lợi phải đóng góp nên
ngun tắc BPP chỉ tạo ra sự khuyến khích đối với việc bảo vệ mơi trường một
cách gián tiếp.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
6
c. Ngun tắc "Đơi bên cùng có lợi"
Đối với các dự án đầu tư cho bảo vệ mơi trường, mang lại hiệu quả kinh tế
cao và có tính bền vững thì vận dụng ngun tắc này là thích hợp. Ví dụ như
huy động vốn đầu tư cho dự án bảo vệ rừng ngập mặn, khơng chỉ quốc gia duy
trì vốn rừng bảo vệ bờ biển, đa dạng sinh học, góp phần cải thiện khí hậu tồn
cầu nóng lên, mà cộng đồng dân cư địa phương cũng được hưởng lợi nguồn hải
sản có tính bền vững và những sinh khối khác có từ hệ sinh thái rừng ngập mặn.
Như vậy nếu có sự kết hợp nguồn vốn của các tổ chức quốc tế, vốn từ ngân sách
của chính phủ và vốn của cộng đồng dân cư địa phương thì hiệu quả mà dự án
mang lại sẽ rất lớn. Đây chính là thể hiện một ngun lý thường được áp dụng
trong hoạt động bảo vệ mơi trường là ngun lý cả hai cùng thắng ("Win - Win
Principle").
1.2. Lý luận chung về hàng hố cơng cộng
1.2.1. Hàng hố cơng cộng
Hàng hóa cơng cộng có hai loại: hàng hóa cơng cộng thuần t và hàng
hố cơng cộng khơng thuần t.
Hàng hóa cơng cộng thuần t có hai đặc tính quan trọng. Hàng hố cơng
cộng mang tính khơng loại trừ và có chi phí sản xuất cận biên bằng khơng. Hàng
hồ có đầy đủ hai đặc tính này được gọi là hàng hố cơng cộng.
a. Tính khơng loại trừ của hàng hố cơng cộng
Tính khơng loại trừ được thể hiện khi có một loại hàng hóa dịch vụ mà
tất cả mọi người có nhu cầu tiêu dùng đều được hưởng loại hàng hố, dịch vụ đó
và khó có thể loại trừ họ ra khỏi việc hưởng lợi ích của dịch vụ đó.
Ví dụ đối với chương trình sức khoẻ quốc gia (tiêm chủng chống bại liệt,
uốn ván ), khơng thể loại trừ bất kể ai khơng được hưởng lợi ích từ chương
trình này. Giả định rằng mọi người đều thấy sức khoẻ có giá trị nhưng Chính
phủ lại khơng cung cấp thì liệu tư nhân có cung cấp được khơng? Để làm việc
này thì tư nhân sẽ thực hiện thu tiền cung cấp dịch vụ nhưng vì mỗi người đều
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
7
cho rằng mình sẽ được hưởng dịch vụ bất cứ có đóng góp gì hay khơng nên mọi
người sẽ khơng tự nguyện trả tiền cho dịch vụ đó. Chính vì thế, mọi người cần
hỗ trợ hàng hố này thơng qua nộp thuế, tuy nhiên hàng hố cơng cộng mang
tính khơng thể loại trừ bởi nếu một người khơng dóng thuế hoặc phí thì anh ta
vẫn được hưởng lợi ích từ hàng hố, dịch vụ cơng cộng đó.
Trong thực tế cũng có một số hàng hố có thể loại trừ được ai đó nhưng
cũng rất tốn kém hoặc khó thực hiện. Ví dụ ở Việt Nam chương trình truyền
hình quốc gia hiện nay là hàng hố cơng cộng khơng mang tính loại trừ. Nếu
như dịch vụ này mang tính loại trừ có thể như thu tiền cho mỗi kênh truyền hình
thì cần thiết phải lắp đặt hệ thống mã hố các kênh đòi hỏi rất nhiều kinh phí.
Đồng thời điều này cũng có nghĩa là sẽ loại trừ những người nghèo, những
người khơng có đủ tiền xem nhiều kênh hoặc một kênh bất kỳ. Như vậy sẽ ảnh
hưởng tới chính trị, các mục tiêu xã hội khác của Việt Nam.
b. Đặc tính chi phí sản xuất cận biên bằng khơng của hàng hố cơng cộng.
Đặc điểm thứ hai của hàng hố cơng cộng là khơng muốn loại trừ một ai:
tiêu dùng của một cá nhân khơng làm giảm lượng tiêu dùng của một người khác,
chi phí cận biên của việc cung cấp hàng hố cho thêm một người là bằng khơng.
Với chương trình truyền hình quốc gia của Việt Nam việc có thêm một ti vi bắt
sóng cơ bản khơng làm thay đổi chi phí truyền hình. Điều này hồn tồn khác
với hàng hố tư nhân. Khi ai đó đang sử dụng một hàng hố tư nhân hay một
dịch vụ do tư nhân cung cấp thì điều đó có nghĩa là người đó đã loại trừ người
khác sử dụng dịch vụ hay hàng hố đó.
c. Hàng hố cơng cộng khơng thuần t.
Nhiều hàng hố chỉ có một trong hai đặc điểm trên ở những mức độ khác
nhau, có thể loại trừ nhưng khơng muốn loại trừ, hoặc có thể loại trừ nhưng rất
tốn kém.
d. Vấn đề “người ăn theo” trong hàng hố cơng cộng
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
8
“Người ăn theo” là người tìm cách hưởng thụ lợi ích của một hàng hố
cơng cộng mà khơng đóng góp chi phí để trang trải số hàng hố đuợc cung cấp.
Vấn đề “người ăn theo” xuất phát từ những người được khuyến khích phải
hưởng thụ những lợi ích do người khác trả tiền còn bản thân họ khơng trả tiền.
“Ăn theo” có thể là một chiến lược của bất kỳ cá nhân nào suy nghĩ rằng khơng
có sự trừng phạt cho việc đó và chỉ có một số ít cá nhân lựa chọn chiến lược này
như họ. Nếu mọi cá nhân trong cộng đồng đều lựa chọn chiến lược này thì sẽ
khơng có sự sản xuất hàng hố cơng cộng.
1.2.2. Đường cầu về hàng hố cơng cộng.
Trong thực tế các cá nhân khơng mua các hàng hố cơng cộng, tuy nhiên
chúng ta có thể hỏi xem họ có thể cần bao nhiêu nếu như họ phải trả thêm tiền
bao nhiêu đó cho mỗi đơn vị hàng hố cơng cộng mà họ có thể dùng thêm. Đây
khơng phải là một câu hỏi hồn tồn mang tính giả định vì khi chi tiêu vào hàng
hố cơng cộng tăng lên thì thuế cá nhân cũng tăng lên. Chúng ta gọi khoản trả
thêm này của cá nhân cho mỗi đơn vị hàng hố cơng cộng thêm là giá thuế của
anh ta. Bằng cách tăng hoặc giảm giá thuế chúng ta có thể vẽ được đường cầu
hàng hố cơng cộng. Chúng ta sử dụng cách này để vẽ các đường cầu tư nhân
của hàng hố cơng cộng.
Cộng các đường cầu này theo chiều dọc để có được đường cầu xã hội
(đường cầu thị trường). Cộng theo chiều dọc là hợp lý bởi vì hàng hố cơng
cộng thuần t cần cung cấp cho các cá nhân với cùng một lượng như nhau.
Chia theo khẩu phần là khơng thể thực hiện được và cũng là khơng mong muốn,
bởi vì sử dụng hàng hố cơng cộng của một cá nhân khơng làm giảm sự hưởng
thụ của bất cứ người nào.
Đường cầu có thể coi như “đường sẵn sàng chi trả tiền cận biên” Tức là,
tại mỗi mức sản lượng hàng hố cơng cộng, đường đó đều cho biết cá nhân sẽ
sẵn sàng trả bao nhiêu để có thêm một đơn vị hàng hố cơng cộng. Do đó, tổng
số theo chiều dọc của các đường cầu là đúng bằng tổng của sự sẵn sàng trả tiền
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
9
cận biên của cá nhân, tức là tổng lượng mà tất cả các cá nhân sẵn sàng trả để có
thêm một đơn vị hàng hố cơng cộng.
Trong nền kinh tế, chúng ta thường sử dụng chủ yếu hệ thống thuế, phí và
hệ thống phúc lợi để phân phối lại các nguồn lực. Phân phối các nguồn lực
thơng qua các hệ thống thuế và phúc lợi là tốn kém, có nghĩa rằng Chính phủ có
thể có những cách thức khác để đạt mục tiêu phân phối lại của mình. Hệ thống
thuế, phí có những tác động khuyến khích quan trọng thay đổi cơ cấu chi phí mà
Chính phủ phải chi cho hàng hố cơng cộng hàng năm. Việc thực hiện thu thuế,
phí sẽ giảm bớt gánh nặng chi tiêu Ngân sách Nhà nước khi cung cấp các dịch
vụ cơng cộng xã hội.
1.3. Phương pháp xác định mức phí bảo vệ mơi trường
1.3.1. Cơ sở đánh giá chi phí- lợi ích mơi trường
Trong thực tiễn khi chúng ta đánh giá một hàng hố mơi trường như một
khu rừng miền núi, rừng ngập mặn, hồ nước, bãi biển, lồi thực vật nào đó có ý
nghĩa trước mắt và lâu dài mà việc lượng hố đầy đủ những giá trị đó là rất khó
thậm chí khơng lượng hố được, do đó các nhà kinh tế học mơi trường phải nhìn
nhận đánh giá tài ngun đó trên góc độ giá trị kinh tế.
Tổng giá trị kinh tế của nguồn tài ngun bao gồm giá trị sử dụng và giá
trị khơng sử dụng theo cơng thức:
TEV = UV + NUV
Trong đó TEV: tổng giá trị kinh tế
UV: giá trị sử dụng
NUV: giá trị khơng sử dụng
Giá trị sử dụng (UV) được phân thành giá trị sử dụng trực tiếp (DUV)và
giá trị sử dụng gián tiếp (IUV):
UV = DUV + IUV
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
10
Giá trị khơng sử dụng (NUV) bao gồm giá trị lựa chọn (OV), giá trị để lại
(BV) và giá trị tồn tại (EV):
NUV = OV + BV + EV
Giá trị sử dụng trực tiếp: thực chất liên quan đến giá trị đầu ra của sản
phẩm hàng hố và dịch vụ mơi trường, cụ thể đó là những nguồn tài ngun
thiên nhiên có giá trị trên thị trường. Đối với một khu rừng, giá trị sử dụng trực
tiếp là gỗ và động vật trong rừng.
Giá trị sử dụng gián tiếp: thơng thường liên quan đến những chức năng
của mơi trường trong việc hậu thuẫn các hoạt động kinh tế xã hội và tạo ra ngăn
chặn những thiệt hại mơi trường, ví dụ như rừng có khả năng chống xói mòn,
kiểm sốt lũ lụt.
Giá trị khơng sử dụng: chủ yếu bao gồm những giá trị tồn tại và những giá
trị tuỳ thuộc. Giá trị khơng sử dụng rất phức tạp cả về tính tốn và nhận thức, nó
thể hiện giá trị phi phương tiện nằm trong bản chất của sinh vật nhưng khơng
liên quan đến việc sử dụng thực tế, thậm chí khơng liên quan đến việc lựa chọn
sinh vật này. Thay vào đó, giá trị này được coi như những yếu tố phản ánh sự
lựa chọn của con người, nghĩa là những giá trị này nằm trong nhận thức của con
người nhiều hơn. Giá trị tồn tại của một khu rừng có thể là tính đa dạng sing học
của rừng. Ví dụ như một lồi cây ở hiện tại chưa có giá trị nhưng trong tương
lai khi khoa học phát triển thì lồi cây đó nếu được phát hiện như một loại thuốc
hoặc có giá trị khác, đó chính là một giá trị tồn tại của khu rừng.
Trong lý thuyết kinh tế mơi trường có 2 loại phương pháp chính để đánh
giá những giá trị kinh tế của một loại hàng hố và lượng hố giá trị đó thành
tiền. Đó là phương pháp sử dụng đường cầu và phương pháp khơng sử dụng
đường cầu. Trong đó phương pháp Đánh giá ngẫu nhiên là phương pháp có sử
dụng đường cầu.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
11
1.3.2. Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM)
Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM) là phương pháp đánh giá trị
kinh tế của một tài sản mơi trường thơng qua việc điều tra, phỏng vấn ngẫu
nhiên các đối tượng liên quan mơi trường đó. Phương pháp CVM bỏ qua nhu
cầu tham khảo giá trị thị trường của sản phẩm mơi trường. Mặc dù có rất nhiều
biến tố của kỹ thuật này, phương cách thường được áp dụng nhất là phỏng vấn
các gia đình hoặc tại nhà họ và hỏi cái giá sẵn lòng trả (WTP) của họ cho việc
bảo vệ mơi trường. Sau đó các nhà phân tích có thể tính tốn giá trị WTP trung
bình của những người trả lời phỏng vấn.
Tổng giá trị của tài sản mơi trường ước tính bằng cách nhân giá trị WTP
trung bình của những người trả lời phỏng vấn với tổng số người thụ hưởng địa
điểm hay tài sản mơi trường đang xem xét.
Một ưu điểm của phương pháp CVM là trên lý thuyết nó được sử dụng để
đánh giá các nguồn tài ngun mà sự tồn tại tiếp tục của nó được người đánh giá
cao, nhưng bản thân họ khơng bao giờ sử dụng đến nguồn tài ngun đó cả.
Phương pháp CVM có một số nhược điểm tiềm ẩn sau:
* Nói ít đi WTP
Giả thiết chủ yếu của kỹ thuật CVM là tổng số WTP được những người
trả lời phát biểu phải tương ứng với sự đánh giá của họ về tài sản đang xem xét.
Các nhà phê bình nghi ngờ tính hiệu lực của một giả thiết như vậy, cho rằng bản
chất giả thiết của phương án CVM làm cho câu trả lời của các cá nhân khơng
đúng với giá trị thực. Trong một loạt thí nghiệm, người ta thấy rằng số tiền
người dân nói là họ sẵn lòng trả chỉ khoảng 70% – 90% số tiền mà cuối cùng họ
thực sự đã trả. Tuy nhiên, do phần nói bớt di nầy tương đối nhỏ nên đây có thể
khơng phải là vấn đề q nghiêm trọng.
* Có sự chênh lệch khá lớn giữa giá trị WTP và WTA
Trên lý thuyết câu hỏi về việc trả tiền có thể được đặt ra như thường lệ
“Bạn sẵn lòng trả bao nhiêu (WTP) để có được tài sản mơi trường tốt hơn” hoặc
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
12
dưới dạng ít gặp hơn “Bạn sẵn lòng nhận bao nhiêu (WTA) để bồi thường cho
việc tài sản mơi trường này?”. Khi đem so sánh hai câu hỏi trên, các nhà phân
tích để ý rằng WTA cao hơn WTP rất nhiều, một kết quả mà các nhà phê bình
cho là mất hiệu quả của phương pháp CVM và cho thấy rằng khi trả lời các câu
hỏi như thế các cá nhân muốn nói lên điều mà họ muốn nó xảy ra hơn là những
đánh giá.
* Thiên lệch một phần-tồn phần
Các nhà phê bình phương pháp CVM đã lưu ý rằng nếu người ta lần đầu
tiên được hỏi WTP của họ cho một phần tài sản mơi trường (như một con sơng
trong hệ thống các con sơng) và sau đó được hỏi đánh giá cho tồn bộ tài sản
(nghĩa là tồn bộ hệ thống các con sơng) thì số tiền được phát biểu là như nhau
vì trong cách phân bố thơng thường việc chi tiêu của họ: đầu tiên chia thu nhập
khả dụng của họ thành nhiều khoản ngân sách (nhà ở, thực phẩm, xe hơi, giải
trí) sau đó chia tiếp vào các khoản mục thực sự phải mua. Vì thế, đối với giải trí
bước đầu xác định tổng ngân sách mà mỗi cá nhân dành cho giải trí và sau đó
chia tiếp thành số tiền họ sẵn lòng chi tiêu cho mỗi nơi họ muốn viếng thăm.
Một phương pháp giải quyết vấn đề này là lần đầu tiên hỏi họ để biết tổng
ngân sách dành cho giải trí và kế đó là WTP của họ đối với tài sản mơi trường
đang xem xét, nhắc nhở họ về ngân sách giải trí có hạn của họ và cho rằng số
tiền mà họ dành cho tài sản này khơng thể chi tiêu cho việc khác.
Một phương pháp thứ hai là giới hạn việc sử dụng CVM trong việc đánh
giá một nhóm lớn của hàng hố mơi trường, việc giới hạn này nếu cần, sẽ làm
hạn chế đáng kể việc áp dụng CVM ở quy mơ rộng lớn và chính nó có thể tạo ra
những trở ngại nhiều hơn đối với khă năng của người trả lời để hiểu nhóm lớn
hàng hố như vậy
* Thiên lệch theo phương tiện
Khi hỏi một câu về WTP các nhà phân tích phải xác định việc đóng góp
theo con đường nào (phương tiện đóng góp thơng qua hình thức bắt buộc như
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
13
thuế, phí hay hình thức tự nguyện qua các hoạt động từ thiện…). Những người
được hỏi có thể thay đổi WTP của họ tuỳ theo phương tiện đóng góp họ chọn.
Mặc dù người dân thường khơng thích đóng thuế, nhưng họ lại cảm thấy rằng
cách này đảm bảo hơn cho việc bảo vệ mơi trường so với khả năng sử dụng các
quỹ từ thiện.
* Thiên lệch điểm khởi đầu
Nếu nghiên cứu ban đầu đã thử gợi ý cho những người trả lời bằng cách
đề nghị một số tiền khởi đầu sau đó tăng lên hay giảm đi số tiền này dựa theo
người trả lời đồng ý hay từ chối số tiền đó. Tuy nhiên, người ta thấy rằng sự lựa
chọn mức tiền ban đầu ảnh hưởng đến số tiền WTP sau cùng của người trả lời.
b. Cơ sở xác định mức phí theo Tổng lợi ích tính từ WTP.
Cơ sở xác định mức phí hàng năm để cải thiện chất lượng nước sơng là
Mức giá sẵn lòng trả (WTP) các hộ dân có liên quan. Mục đích xác định tổng lợi
ích tính từ WTP là lợi ích của xã hội được hưởng khi cải thiện mơi trường.
Tổng lợi ích người tiêu thụ có được là WTP gộp bao gồm phần thật sự chi
trả và phần thặng dư của người tiêu thụ.
P
B
A C
0 D Q
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
14
Hình 1: Đường cầu của một sản phẩm (một mặt hàng thị trường hoặc phi
thị trường).
Trong đó P: giá sản phẩm, Q: lượng cầu
Giả sử giá đang ở mức OA, lượng cầu sẽ là OD. Chúng ta có thể coi
đường cầu là “đường mức sẵn lòng trả”: nó cho thấy mức sẵn lòng trả cho một
sản phẩm thêm vào và đó là đường mức sẵn lòng trả biên.
Số tiền mà các cá nhân chi trả thật sự ở ngồi thị trường( hoặc số tiền mà
họ sẽ trả nếu có thị trường ) cho bởi tổng chi OACD. Nhưng có WTP giá cao
hơn cho các đơn vị đầu tiên, như WTP là OB cho đơn vị đầu tiên, và giảm
xuống DC ứng với đơn vị cuối cùng. Do đó WTP cao hơn phần chi trả thật sự.
Nếu chúng ta cộng dơi ra của WTP ở phia trên OA ( giá thực sự trả ) của
mỗi đơn vị sản phẩm chúng ta sẽ có hình tam giác ABC. Phần này được gọi là
phần thặng dư của người tiêu thụ: đó là lợi ích họ có được trên số tiền mà họ
thực sự trả. WTP gộp là OACD + ABC = OBCD và phần này và phần này được
tạo nên bởi phần thật sự chi trả và phần thặng dư của người tiêu thụ. Nói cách
khác, chúng ta gọi OBCD là WTP gộp và ABC là WTP ròng.
Như vậy dựa trên WTP của các hộ gia đình sẽ xây dựng được đường cầu và
từ đó tính được tổng lợi ích của các hộ gia đình có liên quan, từ đó có thể đưa ra
mức phí cần thiết.
WTP là 1 số liệu quan trọng khi sử dụng phương pháp CVM để đành giá
hàng hố mơi trường và được thu thập qua q trình phỏng vấn phát phiếu điều
tra.
1.3.3. Kinh nghiệm áp dụng phương pháp CVM
a.Nội dung
Sơng Monongahela là con sơng chính chảy qua Pennyslvania, Hoa Kỳ.
Các nhà phân tích đã hỏi một số hộ tiêu biểu ở khu vực này là họ sẵn sàng trả
thêm bao nhiêu thuế để duy trì hoặc nâng cao chất lượng nước sơng. Các nhà
phân tích đã thực hiện nhiều biến thể cho khảo sát CVM. Trong một biến thể các
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét