Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

Các giải pháp tài chính để nâng cao năng lực cạnh tranh


-5-
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của luận văn
Sau gần hai thập kỷ đổi mới, nền kinh tế nước ta đã chuyển từ nền kinh tế
tập trung bao cấp sang nền kinh tế thò trường. Sản xuất hàng hoá đã có bước phát
triển mạnh đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nội đòa và xuất khẩu. Trong quá trình hội
nhập, mối quan hệ kinh tế thương mại đã được mở rộng hầu khắp các lónh vực.
Đến nay Việt Nam đã thiết lập mối quan hệ thương mại với 160 nước và vùng
lãnh thổ; tham gia 86 Hiệp đònh thương mại, 46 Hiệp đònh hợp tác đầu tư và 40
Hiệp đònh chống đánh thuế 2 lần; thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của trên 70
nước và vùng lãnh thổ Nhưng hiện nay Việt Nam vẫn đang tiếp tục đứng trước
ngưỡng cửa của WTO, có thể nói cơ hội là rất lớn nhưng thách thức cũng không
nhỏ. Trong xu hướng hiện tại, các nước đang ngày càng ít sử dụng biện pháp bảo
hộ "lộ liễu" không được WTO chấp nhận như: cấm, hạn chế nhập khẩu hoặc áp
đặt thuế nhập khẩu cao. Thay vào đó, chính sách bảo hộ của các nước lại bắt
đầu tính đến việc áp dụng các rào cản thương mại hiện đại lồng vào những lý do
chính đáng như áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn thực phẩm, kiểm dòch
động thực vật, môi trường, tự vệ, thủ tục hải quan, ghi nhãn mác hàng hoá, lạm
dụng Luật chống bán phá giá Mà điển hình cho kiểu bảo hộ này là một số vụ
kiện phía Việt Nam phải gánh chòu: Vụ kiện bán phá giá tôm, cá tra, cá Basa
vào Mỹ; các chương trình trợ giúp nông nghiệp của Chính phủ Mỹ và một số
nước phát triển Như vậy, xu thế hội nhập trên thế giới hiện tại đang tạo ra một
sức ép rất lớn đối với các nước đang phát triển. Trong đó có Việt Nam, chúng ta
đang chòu sức ép buộc phải mở cửa và tiến hành tự do hoá. Theo các chuyên gia
kinh tế nếu Việt Nam không hội nhập nhanh hơn, mạnh hơn thì điều tất yếu là
chúng ta sẽ tụt hậu so với các nước trong khu vực, chòu sự thiệt thòi của người đi

-6-
sau. Ảnh hưởng trước tiên chúng ta đang phải gánh chòu từ chính các nước trong
khu vực như Trung Quốc, Ấn Độ và các nước ASEAN, vốn là những nước sản
xuất nhiều sản phẩm cạnh tranh với sản phẩm của Việt Nam. Trong lónh vực thu
hút đầu tư trực tiếp FDI, Việt Nam cũng đang vấp phải sự cạnh tranh khốc liệt,
chúng ta đang đứng trước nguy cơ sụt giảm nguồn đầu tư nước ngoài nếu những
chính sách và biện pháp cải thiện môi trường đầu tư của Việt Nam không triệt
để, không hấp dẫn hơn so với các nước trong khu vực.
Gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) là một trong những nhiệm
vụ quan trọng nhất của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Trong
thời gian qua, thực hiện chính sách đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ kinh tế
đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã đạt được nhiều thành
tựu quan trọng trong hợp tác đa phương và song phương. Nước ta đã trở thành
thành viên của nhiều tổ chức quốc tế như Khu vực Mậu dòch tự do ASEAN
(AFTA), Diễn đàn Hợp tác kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn
Hợp tác Á-Âu (ASEM), đã ký Hiệp đònh Thương mại song phương với Hoa Kỳ,
Hiệp đònh khung với EU hội nhập kinh tế quốc tế đã đem lại những điều kiện
thuận lợi để phát triển kinh tế đất nước như mở rộng thò trường xuất khẩu, thu
hút vốn đầu tư nước ngoài, tiếp thu kinh nghiệm quản lý và công nghệ tiên tiến,
góp phần giải quyết các vấn đề xã hội.
Tuy nhiên, trên thực tế Việt Nam chưa phải là thành viên của WTO nên
gặp nhiều khó khăn, bất lợi trong quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế, giải quyết
những tranh chấp thương mại, chưa được hưởng quyền lợi đầy đủ về kinh tế,
thương mại của một thành viên WTO.
Do vậy, việc gia nhập WTO đang là đòi hỏi cấp bách hiện nay, vấn đề này
đã được đề cập trong Văn kiện Đại hội IX của Đảng: “Tiếp tục mở rộng quan hệ

-7-
kinh tế đối ngoại theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá; chủ động hội nhập
kinh tế quốc tế theo lộ trình phù hợp với điều kiện của nước ta và bảo đảm thực
hiện những cam kết trong quan hệ song phương và đa phương như AFTA, APEC,
tiến tới gia nhập WTO ”. Hội nghò Trung ương 9 khoá IX cũng xác đònh phải
tiếp tục chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện có hiệu quả những cam kết
và lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế, chuẩn bò tốt các điều kiện trong nước để
sớm gia nhập WTO. Thực hiện chủ trương trên, Việt Nam đang tiến hành đẩy
nhanh tiến trình đàm phán song phương, đa phương và chuẩn bò các điều kiện
trong nước để có thể sớm gia nhập WTO vào cuối năm 2005.
Hơn chín năm qua, kể từ ngày Việt Nam nộp đơn gia nhập WTO, chúng ta
đã tiến hành 8 vòng đàm phán đa phương, đã trả lời hơn 2.000 câu hỏi liên quan
đến minh bạch hoá chính sách thương mại. Từ vòng đàm phán thứ 5, chúng ta đã
chuyển sang đàm phán mở cửa thò trường, đã cung cấp cho Ban Thư ký chương
trình xây dựng pháp luật để thực hiện các hiệp đònh của WTO, chương trình thực
hiện giảm trợ cấp nông nghiệp và hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước
(DNNN) cũng như các cam kết trong lónh vực thuế quan, phi thuế quan. Việt
Nam đã cam kết tuân thủ các hiệp đònh của WTO như Hiệp đònh đầu tư liên
quan đến thương mại (TRIM), Hiệp đònh về sở hữu trí tuệ (TRIP) và các hiệp
đònh khác.
Thực tế cho thấy việc gia nhập WTO là xu thế khách quan, phù hợp với
tiến trình toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra sâu rộng
trên thế giới, phù hợp với xu thế phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam hiện
nay và những năm đầu thế kỷ XXI. Hiện nay, đã có 148 nước gia nhập WTO, 20
nước đăng ký tiến hành đàm phán gia nhập, điều đó cho thấy WTO ngày càng
có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế, thương mại thế giới và có sức

-8-
hấp dẫn hơn đối với các nền kinh tế của các nước đang phát triển trong bối cảnh
toàn cầu hoá kinh tế. Mặc dù các hội nghò thượng đỉnh tại Seatle (Mỹ) và
Cancun (Mehico) thất bại, song tiến trình Dolha vẫn được tiếp tục. Nhiều nước
chậm phát triển như Campuchia và Nepal cũng đã trở thành thành viên của tổ
chức này tháng 9-2003. Nhiều khả năng Liên bang Nga cũng sẽ sớm trở thành
thành viên WTO trong thời gian tới.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài tham luận tại các hội thảo,
nhiều bài báo đề cập đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam
hiện nay, nội dung đều giống nhau ở chỗ: năng lực cạnh tranh của các doanh
nghiệp Việt Nam thể hiện bên ngoài là năng lực cạnh tranh của các sản phẩm
còn thấp.
Với mong muốn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh
nghiệp Việt Nam, để sản phẩm của Việt Nam có thể đứng vững và phát triển
trên thò trường khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO (hầu như mọi sự bảo hộ
của Nhà nước sẽ không còn), em đã chọn đề tài: “Một số giải pháp tài chính để
nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam khi gia nhập
WTO” cho luận văn Thạc só Kinh tế của mình.
Do lượng thời gian cũng như kiến thức còn hạn chế nên khi thực hiện luận
văn này, chắc chắn em không tránh khỏi sai sót. Kính mong quý thầy cô nhận
xét và góp ý để em có thể mở rộng tầm hiểu biết của mình và thực hiện tốt hơn
ở những công trình nghiên cứu sau này.
2. Mục đích nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở thực trạng năng lực cạnh tranh của
các doanh nghiệp Việt Nam kết hợp với việc nghiên cứu lý luận về doanh
nghiệp và WTO để tìm ra một số giải pháp tài chính phù hợp nhằm nâng cao

-9-
năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam khi hội nhập sâu rộng vào
nền kinh tế thế giới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn có liên quan đến rất nhiều lónh vực khoa học khác nhau như:
Kinh tế, tài chính, kế toán, pháp luật, khoa học kỹ thuật và cả tập quán quốc tế,
quy đònh của WTO. Tuy nhiên, luận văn chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu tập
trung vào các giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh
nghiệp Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên phương pháp luận của chủ nghóa duy vật
biện chứng kết hợp với phương pháp logic, phương pháp thống kê, phương pháp
phân tích, phương pháp so sánh …
5. Ý nghóa lý luận và thực tiễn
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và phân tích có hệ thống các vấn đề lý luận
liên quan đến doanh nghiệp, WTO, tổng hợp thực trạng năng lực cạnh tranh của
các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, luận văn sẽ đề xuất những giải pháp tài
chính nhằm góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong
bối cảnh hội nhập nền kinh tế thế giới, bên cạnh đó là một số giải pháp phi tài
chính, tuy vậy các giải pháp này chỉ nhằm hỗ trợ các giải pháp tài chính đạt hiệu
quả cao hơn. Thông qua việc phân tích và đánh giá thực trạng năng lực cạnh
tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian qua, luận văn sẽ góp phần
làm sáng tỏ và hoàn thiện lý luận về doanh nghiệp và vai trò của nó trong nền
kinh tế thò trường.



-10-
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 83 trang, 7 bảng, được chia
làm 3 chương:
Chương 1: Một số cơ sở lý luận về doanh nghiệp và WTO
Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam
Chương 3: Một số giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp Việt Nam khi gia nhập WTO

-11-
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP VÀ WTO
1.1 Các loại hình doanh nghiệp
1.1.1 Đònh nghóa doanh nghiệp
1.1.1.1 Các quan điểm về doanh nghiệp
Hiện nay trên phương diện lý thuyết có khá nhiều đònh nghóa thế nào là
một doanh nghiệp, mỗi đònh nghóa đều mang trong nó có một nội dung nhất đònh
với một giá trò nhất đònh. Điều ấy cũng là đương nhiên, vì rằng mỗi tác giả đứng
trên nhiều quan điểm khác nhau khi tiếp cận doanh nghiệp để phát biểu. Chẳng
hạn:
a. Xét theo quan điểm luật pháp: doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tư cách
pháp nhân, có con dấu, có tài sản, có quyền và nghóa vụ dân sự hoạt động kinh
tế theo chế độ hạch toán độc lập, tự chòu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh
tế trong phạm vi vốn đầu tư do doanh nghiệp quản lý và chòu sự quản lý của nhà
nước bằng các loại luật và chính sách thuế .
b. Xét theo quan điểm chức năng: doanh nghiệp được đònh nghóa như sau:
"Doanh nghiệp là một đơn vò tổ chức sản xuất mà tại đó người ta kết hợp các
yếu tố sản xuất (có sự quan tâm giá cả của các yếu tố) khác nhau do các nhân
viên của công ty thực hiện nhằm bán ra trên thò trường những sản phẩm hàng
hóa hay dòch vụ để nhận được khoản tiền chênh lệch giữa giá bán sản phẩm với
giá thành của sản phẩm ấy. (M.Francois Peroux).
c. Xét theo quan điểm phát triển thì "doanh nghiệp là một cộng đồng người
sản xuất ra những của cải. Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những
thành công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kòch và ngược lại có lúc phải
ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua

-12-
được " (trích từ sách " kinh tế doanh nghiệp của D.Larua.A Caillat - Nhà xuất bản
Khoa Học Xã Hội 1992)
d. Xét theo quan điểm hệ thống thì doanh nghiệp được các tác giả nói trên
xem rằng " doanh nghiệp bao gồm một tập hợp các bộ phận được tổ chức, có tác
động qua lại và theo đuổi cùng một mục tiêu. Các bộ phận tập hợp trong doanh
nghiệp bao gồm 4 phân hệ sau: sản xuất, thương mại, tổ chức, nhân sự.
Ngoài ra có thể liệt kê hàng loạt những đònh nghóa khác nữa, nhưng dù xem
xét doanh nghiệp dưới những góc nhìn khác nhau. Song giữa các đònh nghóa về
doanh nghiệp đều có những điểm chung nhất, nếu tổng hợp chúng lại với một
tầm nhìn bao quát trên phương diện tổ chức quản lý là xuyên suốt từ khâu hình
thành tổ chức, phát triển đến các mối quan hệ với môi trường, các chức năng và
nội dung hoạt động của doanh nghiệp cho thấy đã là một doanh nghiệp nhất
thiết phải được cấu thành bởi những yếu tố sau đây:
* Yếu tố tổ chức: một tập hợp các bộ phận chuyên môn hóa nhằm thực hiện
các chức năng quản lý như các bộ phận sản xuất, bộ phận thương mại, bộ phận
hành chính.
* Yếu tố sản xuất: các nguồn lực lao động, vốn, vật tư, thông tin.
* Yếu tố trao đổi: những dòch vụ thương mại - mua các yếu tố đầu vào, bán
sản phẩm sao cho có lợi ở đầu ra.
* Yếu tố phân phối: thanh toán cho các yếu tố sản xuất, làm nghóa vụ nhà
nước, trích lập quỹ và tính cho hoạt động tương lai của doanh nghiệp bằng khoản
lợi nhuận thu được.
1.1.1.2. Khái niệm về doanh nghiệp
Từ cách nhìn nhận như trên có thể phát biểu khái niệm về doanh nghiệp
như sau: Doanh nghiệp là đơn vò kinh tế có tư cách pháp nhân, quy tụ các phương

-13-
tiện về tài chính, vật chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất,
cung ứng, tiêu thụ sản phẩm hoặc dòch vụ, trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của người
tiêu dùng, thông qua đó tối đa hóa lợi của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp một
cách hợp lý các mục tiêu xã hội.
Tư cách pháp nhân của một doanh nghiệp là điều kiện cơ bản quyết đònh sự
tồn tại của doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân, nó do Nhà nước khẳng đònh
và xác đònh. Việc khẳng đònh tư cách pháp nhân của doanh nghiệp với tư cách là
một thực thể kinh tế, một mặt nó được nhà nước bảo hộ với các hoạt động sản
xuất kinh doanh, mặt khác nó phải có trách nhiệm đối với người tiêu dùng, nghóa
vụ đóng góp với nhà nước, trách nhiệm đối với xã hội. Đòi hỏi doanh nghiệp
phải chòu trách nhiệm về nghóa vụ tài chính trong việc thanh toán những khoản
công nợ khi phá sản hay giải thể.
Doanh nghiệp có quá trình hình thành từ một ý chí và bản lónh của người
sáng lập (tư nhân, tập thể hay Nhà nước); quá trình phát triển thậm chí có khi
tiêu vong, phá sản hoặc bò một doanh nghiệp khác thôn tính. Vì vậy cuộc sống
của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào chất lượng quản lý của những người tạo
ra nó.
1.1.2. Phân loại doanh nghiệp
1.1.2.1. Căn cứ vào tính chất sở hữu tài sản trong doanh nghiệp.
Theo tiêu thức này doanh nghiệp được phân thành các loại sau đây:
- Doanh nghiệp Nhà nước: là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn. Nhà
nước - người đại diện toàn dân - tổ chức thực hiện chức năng quản lý trên mọi
mặt hoạt động sản xuất kinh doanh kể từ khi thành lập cho đến khi giải thể.
Doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghóa vụ dân sự
trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý.

-14-
- Doanh nghiệp góp vốn: là một tổ chức kinh tế mà vốn được đầu tư do các
thành viên tham gia góp vào. Họ cùng chia lời và cùng chòu lỗ tương ứng với
phần vốn đóng góp. Trách nhiệm pháp lý của từng hình thức có những đặc trưng
khác nhau. Theo Luật doanh nghiệp, về loại hình công ty có các loại công ty hợp
danh, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần.
- Doanh nghiệp tư nhân: theo hình thức này thì vốn đầu tư vào doanh
nghiệp do một người bỏ ra. Toàn bộ tài sản của doanh nghiệp thuộc quyền sở
hữu của tư nhân. Người quản lý doanh nghiệp do chủ sở hữu đảm nhận hoặc có
thể thuê mướn, tuy nhiên người chủ doanh nghiệp là người phải hoàn toàn chòu
trách nhiệm toàn bộ các khoản nợ cũng như các vi phạm trên các mặt hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trước pháp luật.
1.1.2.2. Căn cứ vào lónh vực hoạt động của doanh nghiệp trong nền kinh tế
quốc dân.
Theo tiêu thức này, doanh nghiệp được phân thành các loại:
- Doanh nghiệp nông nghiệp: là những doanh nghiệp hoạt động trong lónh
vực nông nghiệp, hướng vào việc sản xuất ra những sản phẩm là cây, con. Hoạt
động sản xuất kinh doanh của những doanh nghiệp này phụ thuộc rất nhiều vào
điều kiện tự nhiên.
- Doanh nghiệp công nghiệp: là những doanh nghiệp hoạt động trong lónh
vực công nghiệp, nhằm tạo ra những sản phẩm bằng cách sử dụng những thiết bò
máy móc để khai thác hoặc chế biến nguyên vật liệu thành thành phẩm. Trong
công nghiệp có thể chia ra: công nghiệp xây dựng, công nghiệp chế tạo, công
nghiệp điện tử v.v
- Doanh nghiệp thương mại: là những doanh nghiệp hoạt động trong lónh
vực thương mại, hướng vào việc khai thác các dòch vụ trong khâu phân phối

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét