Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Phải có sự phân công lao động sản xuất: đó là việc mỗi ngời sản xuất hoặc
mỗi ngành sản xuất chỉ chuyên môn sản xuất ra một loại sản phẩm nào đó cho nhu
cầu của xã hội. Cho đến nay trong lịch sử đã diễn ra ba cuộc phân công lớn đó là:
làm cho việc chăn nuôi ra khỏi trồng trọt, làm cho thủ công nghiệ tách ra khỏi
nông nghiệp hình thành các ngành sản xuất độc lập nh: rèn, gồm , Dẫn tới làm
xuất hiện ngành thơng nghiệp. Sự phân công lao động dẫn tới kết quả là tạo nên sự
phụ thuộc lẫn nhau giữa những ngời sản xuất bởi vì mỗi ngời sản xuất chỉ làm ra
một loại sản phẩm nhất định nhng trong đời sống của ngời đó phải cần đến nhiều
loại sản phẩm vì vậy họ có nhu cầu cần trao đổi sản phẩm của mình với sản phẩm
của những ngời khác.
Ví dụ: trong điều kiện sản xuất tự cung, tự cấp một gia đình vừa trồng lúa,
vừa tạo ra các công cụ lao động sản xuất nh: xẻng, cuốc, cày, bừa. Khi có sự phân
công lao động xã hội ngời nông dân chuyên môn hoá sản xuất còn việc chế tạo ra
công cụ sản xuất thì do ngời thợ rèn đảm nhiệm. Ngời nông dân không chỉ cần có
lơng thực để ăn, mà còn phải có công cụ để sản xuất, ngời thợ rèn cũng vậy họ
không thể sống bằng xẻng, cuốc, cày, bừa mà cần có lúa gạo. Điều đó làm cho ng-
ời nông dân và ngời thợ rèn phải có mối liên hệ trao đổi sản phẩm cho nhau và phụ
thuộc vào nhau.
Chế độ t hữu về t liệu sản xuất.
Tức là t liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu của từng cá nhân và vì vậy ngời ta
có quyền chi phối đối với sản phẩm làm ra. Chế độ t hữu về t liệu sản xuất đã làm
cho những ngành sản xuất trở thành độc lập với nhau trong điều kiện đó để thoả
mãn các nhu cầu khác của mình thì ngời sản xuất có quyền sử dụng sản phẩm của
mình để trao đổi với các sản phẩm khác.
Hai điều kiện trên làm cho những ngời sản xuất vừa phụ thuộc lẫn nhau và
vừa độc lập đối với nhau. Đây là một quan hệ mang tính thuẫn và để giải quyết
mâu thuẫn này ngời ta phải tiến hành trao đổi hàng hoá. Vì vậy muốn có sản xuất
hàng hoá phải có đầy đủ cả hai điều kiện nêu trên.
- Ưu thế của sản xuất hàng hoá.
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
+ Sản xuất hàng hoá làm cho phân công lao động ngày càng phát triển. Làm
cho trình độ chuyên môn hoá, hợp tác hoá ngày càng nâng cao. Thiết lập mối liên
hệ giữa các ngành, các vùng, các đơn vị sản xuất nh vậy nó sẽ xoá bỏ đợc tính tự
túc tự cấp sự bảo thủ trì trệ và góp phần vào việc đẩy mạnh quá trình sản xuất hàng
hoá.
+ Sản xuất hàng hoá buộc những ngời sản xuất phải cạnh tranh trên thị tr-
ờng bằng cách phải cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất để hạ giá thành. Nâng
cao chất lợng hàng hoá. Những việc làm đó có tác dụng thúc đẩy lực lợng sản xuất
phát triển. Sản xuất hàng hoá càng phát triển quy mô của nó càng lớn thì hiệu quả
kinh tế của nó đối với xã hội càng lớn và u thế của nó so với sản xuất nhỏ cũng
tăng lên.
+ Sản xuất hàng hoá góp phần vào việc thúc đẩy quá trình tích tụ và tập
trung sản xuất mở rộng giao lu kinh tế trong nớc và nớc ngoài, hoà nhập vào kinh
tế thế giới.
Với những tác dụng kể trên hiện nay trên thế giới có nhiều nớc (trong đó có
nớc ta) tập trung vào phát triển kinh tế hàng hoá.
b. Sự tồn tại khách quan của kinh tế hàng hoá trong thời kỳ quá độ nói
chung và ở Việt Nam
- ở Anh, Đức kinh tế hàng hoá xuất hiện từ cuối chế độ cộng sản nguyên
thuỷ và phát triển tới ngày nay. ở mỗi nớc tính chất và phạm vi của kinh tế hàng
hoá có mức độ khác nhau. Hiện nay hầu hết trên thế giới các nớc đều thực hiện
kinh tế hàng hoá đó là mô hình kinh tế mà giai đoạn phát triển cao là kinh tế thị tr-
ờng.
Kinh tế hàng hoá: là một kiểu tổ chức kinh tế xã hội mà trong đó hình thái
phổ biến của sản xuất là sản xuất ra sản phẩm để bán, để trao đổi trên thị trờng.
Đây cũng chính là những điểm hoàn toàn khác biệt giữa sản xuất hàng hoá
và kinh tế hàng hoá muốn có kinh tế hàng hoá phải có sản xuất hàng hoá.
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Sự tồn tại khách quan của kinh tế hàng hoá thời kỳ quá độ của Việt Nam là
một trong những tất yếu khác quan vì điều kiện ra đời và phát triển của kinh tế
hàng hoá vẫn đợc duy trì hoàn toàn giống nh trên chỉ khác là Việt Nam đi từ thời
kỳ phong kiến lên CNXH. Phân công lao động với t cách là cơ sở của sự trao đỏi.
- Nền kinh tế đa và đang tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau về t liệu
sản xuất và sản phẩm lao động. Công nghệ mới, trình độ quản lý nhằm tạo cơ sở
để phát triển hàng hoá. Trong thời kỳ quá độ từ TBCN lên XHCN, xét về mặt sở
hữu đó là quá trình chuyển từ sở hữu t nhân về TLSX lên sở hữu xã hội về t liệu
sản xuất. Cho nên trong nền kinh tế sẽ tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau.
Do vậy ứng với nó là nền kinh tế nhiều thành phần do đặc điểm của thời kỳ quá
độ: đặc điểm nổi bật nhất của nền kinh tế là sự tồn tại của nền kinh tế nhiều thành
phần và ứng với nó là một xã hội có nhiều giai cấp.
+ Thành phần kinh tế: đó là những tổng thể kinh tế bao gồm những cơ sở về
nền kinh tế với những quan hệ kinh tế có những đặc trng nhất định và những quan
hệ kinh tế này là do chế độ sở hữu TLSX quyết định. Khi cách mạng vô sản thành
công thì chúng ta phải cải tạo nền kinh tế dựa trên chế độ t hữu. Bao gồm hai loại
chính sau:
T bản lớn:
Nguyên tắc cải tạo: phải quốc hữu hoá các t liệu sản xuất và phải tiến hành
qua nhiều giai đoạn trong 1 thời gian dài, tiến hành bằng nhiều biện pháp thích
hợp. Vì vậy trong thời kỳ quá độ vẫn tồn tại thành phần kinh tế t bản t nhân và ng-
ời ta hớng thành phần này theo con đờng CNTB nhà nớc.
T hữu nhỏ: là t hữu của những ngời sản xuất cá thể, những ngời sản xuất
hàng hoá nhỏ. Với loại này về nguyên tắc thì không tịch thu các TLSX của họ mà
cải tạo họ một cách dần dần thông qua công cuộc hợp tác hoá. Vì vậy trong thời
kỳ quá độ tồn tại nền kinh tế hợp tác xã.
Hiện nay ở nớc ta còn tồn tại nhiều trình độ phát triển của lực lợng sản xuất:
hiện đại có, thô sơ có, nửa cơ khí có. Vì vậy việc thiết lập quan hệ sở hữu đối với
TLSX cũng phải đa dạng do đó ở nớc ta còn nhiều thành phần kinh tế. Trong quá
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
trình xây dựng nên kinh tế mới thì có thể xuất hiện thêm một số thành phần kinh
tế khác: kinh tế nhà nớc, kinh tế t bản nhà nớc.
+ Cơ cấu thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ ở nớc ta.
Theo t tởng của Lênin và căn cứ vào điều kiện kinh tế của nớc ta, tại Đại hội
VIII của Đảng thì ở nớc ta đang tồn tại 5 thành phần kinh tế:
Thành phần kinh tế nhà nớc (kinh tế quốc doanh)
Thành phần kinh tế hợp tác xã
Thành phần kinh tế t bản nhà nớc
Thành phần kinh tế cá thể và tiểu thủ
Thành phần kinh tế t bản t nhân.
Thành phần kinh tế nhà nớc
Khái niệm: đây là thành phần kinh tế tồn tại dựa trên chế độ sở hữu nhà n-
ớc đối với t liệu sản xuất chủ yếu. Kinh tế nhà nớc bao gồm 3 bộ phận sau:
Các doanh nghiệp nhà nớc: đây là bộ phận quan trọng và chủ yếu nhất của
thành phần kinh tế nhà nớc, các doanh nghiệp này trực tiếp sản xuất ra của cải vật
chất cho xã hội.
Các ngành kinh tế thuộc sở hữu nhà nớc: những ngành này thì nó cung cấp
hàng hoá hoặc dịch vụ cho xã hội. Bao gồm: hệ thống cơ sở hạ tầng: giao thông, b-
u điện . Nó bao gồm toàn bộ hệ thống ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, các xí
nghiệp liên doanh với các nớc ngoài trong đó vốn của nhà nớc chiếm tỷ lệ khống
chế 51% trở lên.
Những lực lợng vật chất thuộc sở hữu nhà nớc nh là đất đai, các nguồn tài
nguyên, khoáng sản, các vùng trời, vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Sự hình thành: các doanh nghiệp nhà nớc đợc hình thành nh sau:
Nhà nớc đầu t vốn để xây dựng mới hoàn toàn từ đầu.
Nhà nớc góp vốn để liên doanh với nớc ngoài với tỷ lệ 51% trở lên.
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Nhà nớc quốc hữu hoá các xí nghiệp t bản t nhân.
Vai trò của kinh tế nhà nớc: trong thời kỳ quá độ và trong nền kinh tế
nhiều thành phần thì thành phần kinh tế nhà nớc cần phải giữ đợc vai trò chủ đạo:
kinh tế nhà nớc phải trở thành đòn bẩy để đẩy nhanh tốc độ tăng trởng kinh tế và
giải quyết các vấn đề xã hội. Kinh tế nhà nớc phải giữ vai trò là ngời mở đờng h-
ớng dẫn và hỗ trợ cho các thành phần kinh tế khác cùng phát triển. Kinh tế nhà n-
ớc phải trở thành lực lợng vật chất chủ yếu để nhà nớc thực hiện chức năng điều
tiết và quản lý vĩ mô toàn bộ nền kinh tế. Kinh tế nhà nớc phải tạo đợc nền tảng
cho chế độ xã hội mới tức là phải trở thành mẫu mực về mọi mặt. Năng suất lao
động cao, phải tận dụng hết công suất, máy móc, công cụ, làm đủ trách nhiệm với
nhà nớc, bảo vệ tốt môi trờng.
Kinh tế nhà nớc ở nớc ta hiện nay mặc dù là nắm giữ một lợng tài sản tơng
đối lớn (chiếm 2/3 tài sản quốc gia, 80% lực lợng lao động lành nghề) nhng kinh
tế nhà nớc hoạt động cha hiệu quả: năng suất lao động thấp, cha sử dụng hết máy
móc, thiết bị, nhiều xí nghiệp là ăn thua lỗ, phá sản làm thất thoát vốn của nhà n-
ớc. Hiện nay nớc ta có 600 doanh nghiệp nhà nớc, 35% làm ăn có lãi còn lại 60%
làm ăn không có lãi trong đó 25% liên tục bị lỗ. Vì vậy để củng cố thành phần
kinh tế nhà nớc thì: nhà nớc phải đầu t một cách đồng bộ cả vốn, công nghệ, nhân
lực cho những nhân lực kinh tế đang nắm những khâu then chốt của nền kinh tế
quốc dân. Ví dụ: ngành điện, dầu khí Thành lập các Tổng công ty nhà n ớc để
tạo thành những ngành mũi nhọn trong nền kinh tế. Tích cực đẩy nhanh tiến trình
cổ phần hoá một số doanh nghiệp nhà nớc. Biến doanh nghiệp nhà nớc thành các
công ty cổ phần. Đối với những doanh nghiệp thờng xuyên làm ăn thua lỗ thì giải
quyế bằng bán hoặc cho thuê hoặc cho tổ chức đấu thầu, khoán.
Thành phần kinh tế hợp tác
Khái niệm: đây là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tập thể về t
liệu sản xuất nó bao gồm các đơn vị kinh tế do cá nhân những ngời lao động tự
nguyện góp vốn, góp sức kinh doanh theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ và cùng
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
có lợi. Nó tồn tại dới các dạng sau: hợp tác xã nông nghiệp, hợp tác xã tiểu thủ
công nghiệp, hợp tác xã mua bán, hợp tác xã tín dụng.
Đặc điểm: các hợp tác xã đợc hình thành với những quy mô và mức độ
khác nhau tuỳ theo sự phát triển của lực lợng sản xuất. Ngời lao động thì đợc tự do
trong việc tham gia cũng nh rút lui khỏi hợp tác xã.
Nếu xét về hiệu quả kinh tế thì hợp tác xã ở nớc ta làm ăn hiệu quả hơn.
Nhiều hợp tác xã có doanh thu lớn, thu nhập xã viên cao, hàng hoá có sức cạnh
tranh. Tuy nhiên ở nớc ta hiện nay vẫn còn những hợp tác xã làm ăn thua lỗ, hiệu
quả kém, thu nhập thấp, nhiều tiêu cực tron quản lý.
Phơng pháp củng cố: phải giải quyết thoả đáng vấn đề t hữu về t liệu sản
xuất. Nhất là đất đai trong nông nghiệp phải thực hiện giao quyền sử dụng lâu dài
đối với đất, rừng, mặt nớc cho các hộ sử dụng. Phát triển các hình thức hợp tác đa
dạng trong nhiều lĩnh vực: giao thông vận tải, xây dựng chế biến nông lâm hải
sản Mở rộng các hình thức kinh tế hợp tác nh ng phải triệt để theo đúng nguyên
tắc tự nguyện, bình đẳng dân chủ và việc tổ chức các hợp tác xã này phải theo
đúng luật hợp tác mới ban hành năm 1997. Nhà nớc có những biện pháp cần thiết
hỗ trợ, giúp đỡ các hợp tác xã về vốn, về nhân lực, về tiêu thụ sản phẩm.
Thành phần kinh tế cá thể.
Khái niệm: đây là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu t nhân về t liệu sản
xuất dựa trên lao động của bản thân ngời sản xuất nên không có hiện tợng bóc lột
lao động. Thành phần này chịu sự tác động của quy luật giá trị và tác động của thị
trờng.
Đặc điểm: do làm chủ về t liệu sản xuất và sức lao động nên thành phần
này có thể nói là họ rất năng động, linh hoạt dễ thích nghi với thị trờng, vì vậy
thành phần này có thể khai thác triệt để các thế mạnh về vốn, về lao động, về tay
nghề của từng cá nhân, từng gia đình hoặc từng cộng đồng để làm ra nhiều hàng
hoá trong xã hội.
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Vị trí: trong suốt thời kỳ quá độ thì thành phần này giữ một vị trị rất quan
trọng nó cùng với một số ngành công nghiệp nhẹ khác cung cấp những mặt hàng
tiêu dùng thiết yếu cho nhân dân: lơng thực, thực phẩm, đồ dùng gia đình
Thực trạng phát triển: trớc năm 1986 thành phần này bị phân biệt đối xử do
đó không đợc phát triển. Sau năm 1986 thành phần này đợc coi trọng và đợc
khuyến khích phát triển với tền gọi là kinh tế gia đình.
Thành phần kinh tế t bản t nhân
Khái niệm: đây là thành phần kinh tế dựa trên chế độ t hữu t bản về t liệu
sản xuất có thuê mớn lao động nên có hệ thống bóc lột lao động làm thuê: Các xí
nghiệp t nhân của ngời Việt Nam, các xí nghiệp t nhân của ngời Việt Nam và ngời
nớc ngoài cùng cộng tác, các công ty và các tổ chức làm dịch vụ.
Thế mạnh: quá nhiều phơng pháp linh hoạt để huy động vốn phục vụ sản
xuất kinh doanh. Nó có khả năng sử dụng khoa học kỹ thuật công nghệ mới và
đổi mới nhanh các thiết bị. Nó có trình độ quản lý cao, có kinh nghiệm trong việc
điều hành sản xuất vì vậy có thể nói thành phần này có vai trò lớn trong việc phát
triển sản xuất.
Nhợc điểm: do chạy theo lợi nhuận tối đa nên nhiều doanh nghiệp t bản t
nhân có việc làm trái pháp luật: bóc lột công nhân quá mức, bắt công nhân làm
quá giờ, tăng ca. Họ kinh doanh những mặt hàng trái với đăng ký trong giấy phép,
trốn thuế, gian lận trong thơng mại.
Thái độ của nhà nớc ta: Một mặt vẫn tạo điều kiện thuận lợi cho thành phần
kinh tế phát triển nhng mặt khác cần phải tăng cờng kiểm soát, giám sát những
hành động của thành phần này đa các thành phần này theo con đờng chủ nghĩa t
bản nhà nớc.
Thành phần kinh tế t bản nhà nớc
Khái niệm: đây là thành phần kinh tế đợc ra đời dựa trên lý luận về chủ
nghĩa t bản nhà nớc của Lênin.
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Sự hình thành: đợc hình thành trên cơ sở nhà nớc và các t bản cùng góp vốn
kinh doanh và nó tồn tại dới các dạng sau:
Các xí nghiệp công ty hợp doanh tồn tại ở nớc ta sau năm 1954 ở Miền Bắc
và sau 1975 ở Miền Nam.
Các liên doanh nớc ngoài: sản xuất ô tô, lắp ráp xe máy, sản xuất các mặt
hàng điện tử.
Nhà nớc cho thuê tài sản: cho thuê đất.
Vai trò và tác dụng: trong thời kỳ quá độ ở nớc ta thành phần này giữ vai trò
là những hình thức kinh tế giữ sinh ra để chuyển biến từ những thành phần kinh tế
phi XHCN thành thành phần kinh tế XHCN: nó tạo thêm công ăn việc làm, làm
tăng thêm sản phẩm xã hội và nó là điều kiện để chúng ta tiếp xúc với công nghệ
mới, cách thức quản lý mới và qua đây ta hoà nhập đợc với thế giới.
ii. tính tất yếu khách quan phải phát triển kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần ở nớc ta
Đại hội VI Đảng Cộng Sản Việt Nam đã xác định: "cần có chính sách sử
dụng và cải tạo các thành phần kinh tế Đó là giải pháp có ý nghĩa chiến l ợc, là
sự vận dụng quan điểm của Lênin coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là
một đặc trng của thời kỳ quá độ". Hội nghị lần thứ 6, Đảng ta xác định rõ hơn:
"chính sách kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lợc lâu dài có tính
quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên XHCN " Tới Đại hội toàn quốc lần thứ VII qua
thực tiến 5 năm đổi mới, Đảng ta khẳng định: "Phát triển nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần theo định hớng XHCN, vận hành theo cơ chế thị trờng có sự
quản lý của nhà nớc" coi đó là một trong những phơng hớng mà Đảng và nhà nớc
ta nắm vững trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.Tổng kết 10 năm đổi
mới, tại Đại hội Đảng lần thứ VIII, Đảng ta một lần nữa lại khẳng định: "tiếp tục
phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản
lý của nhà nớc theo định hớng XHCN"
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Nền kinh tế nhiều thành phần tồn tại và phát triển ở nớc ta là tất yếu khách
quan bởi vì: nền kinh tế nhiều thành phần là một cái tồn tại khách quan của lịch sử
và trong thời kỳ quá độ thì có những thành phần kinh tế vẫn có lợi cho sự phát
triển đất nớc: kinh tế cá thể. Phát triển nh vậy nhằm thực hiện nhu cầu của quy
luật mà là quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và sự phát triển của lực lợng
sản xuất. Phát triển kinh tế nhiều thành phần ở nớc ta là nhằm cho sản xuất phát
triển liên tục không bị gián đoạn. Phát triển nh vậy là nhằm tạo ra sự cạnh tranh
giữa các thành phần kinh tế trong cơ chế thị trờng hiện nay
1. Do yêu cầu của việc phát triển lực lợng sản xuất và thực chất của nó
là chuyển từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn (XHCN).
Về phơng diện kinh tế, có thể khái quát rằng lịch sử phát triển sản xuất và
đời sống xã hội của nhân loại đã và đang trải qua hai kiểu tổ chức kinh tế thích
ứng với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất và phân công lao động xã hội, hai
thời đại kinh tế khác hẳn nhau về chất. Đó là thời đại kinh tế tự nhiên, tự cung, tự
cấp; và thời đại kinh tế hàng hoá.
Kinh tế tự nhiên là kiểu tổ chức kinh tế xã hội đầu tiên của nhân loại. Đó là
phơng thức sinh hoạt kinh tế ở trình độ thấp ban đầu là sử dụng những tặng vật của
tự nhiên và sau đó đợc thực hiện thông qua những tác động trực tiếp vào tự nhiên
để tạo ra những giá trị sử dụng trong việc duy trì của con ngời. Nó đợc bó hẹp
trong mỗi quan hệ tuần hoàn khép kín giữa con ngời và tự nhiên. kinh tế tự nhiên
lấy quan hệ trực tiếp giữa con ngời và tự nhiên mà tiêu biểu là giữa lao động và đất
đai làm nền tảng. Hoạt động kinh tế đó gắn liền với xã hội sinh tồn, với kinh tế
nông nghiệp, tự cung, tự cấp. Nó đã tồn tại và thống trị trong các xã hội: Cộng sản
nguyên thuỷ, nô lệ, phong kiến và tuy không còn giữ địa vị kinh tế. Kinh tế tự
nhiên, hiện vật,sinh tồn, tự cung, tự cấp, gắn liền với kém phát triển và lạc hậu.
Kinh tế hàng hoá bắt đầu bằng kinh tế hàng hoá đơn giản, ra đời từ khi chế độ
công sản nguyên thuỷ, dựa trên hai tiền đề cơ bản đó là có sự phân công lao động
xã hội và có sự tách biệt về kinh tế do chế độ sở hữu khác nhau về t liệu sản xuất.
Chuyển từ kinh tế tự nhiên, tự cung, tự cấp sang kinh tế hàng hoá là đánh dấu bớc
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
phát triển rất lớn của lực lợng sản xuất, bớc chuyển sang thời đại kinh tế của sự
phát triển, thời đại văn minh của nhân loại.
Sự ra đời và phát triển của kinh tế hàng hoá là quá trình kinh tế khách quan.
Nó bắt đầu khi kinh tế tự nhiên phát triển với trình độ làm xuất hiện những tiền đề
của kinh tế hàng hoá. Trong lịch sử những quan hệ hiện vật, tự nhiên và quan hệ
hàng hoá tồn tại đan xen và mâu thuẫn với nhau. Sự xuất hiện của kinh tế hàng
hoá cũng chính là sự xuất hiện tiền đề phủ định kinh tế tự nhiên và khẳng định
kinh tế hàng hoá. Mỗi bớc phát triển của kinh tế hàng hoá là một bớc đẩy lùi kinh
tế tự nhiên. Nh vậy, trong quá trình vận động và phát triển kinh tế hàng hoá đã phủ
định dần kinh tế tự nhiên nh vậy trong quá trình vận động và phát triển, kinh tế
hàng hoá đã phủ định dần kinh tế tự nhiên và khẳng định mình là một kiểu tổ chức
kinh tế xã hội độc lập. Quá trình xuất hiện, vận động và phát triển của kinh tế
hàng hoá diễn ra với sự tác động mạnh mẽ của những tiền đề sau: phân công lao
động xã hội, sự độc lập tơng đối về kinh tế giữa mọi ngời, lu thông hàng hoá và lu
thông tiền tệ, hệ thống thông tin và giao thông vận tải.
2. Do nớc ta hiện nay tồn tại nhiều thành phần kinh tế.
//////////////////Nền kinh tế nớc ta trớc Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI gắn
liền với việc thực thi chính sách công cộng hoá, hiện vật hoá trong cơ chế quản lý
hành chính tập trung. Cùng với thời gian, tính chất và cơ chế quản lý đó ngày càng
bộc lộ thêm nhiều khuyếm khuyết. Vì vậy, đến Đại hội VII, quan điểm phát triển
kinh tế hàng hoá nhiều thành phần đợc thực hiện trên thực tế trong chính sách và
cơ chế quản lý kinh tế đổi mới. Đờng lối phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần tất yếu đa đến sự cấu trúc lại nền kinh tế, từng bớc chuyển nền kinh tế thuần
khiết chủ yếu với hai thành phần kinh tế là nhà nớc và tập thể sang nền kinh tế thị
trờng hỗn hợp gồm nhiều thành phần, nhiều khu vực kinh tế và nhiều hình thức sở
hữu tồn tại đan xen lẫn nhau.
Sở dĩ nớc ta hiện nay tồn tại nhiều thành phần kinh tế vì: hiện nay ở nớc ta
còn tồn tại nhiều trình độ phát triển của lực lợng sản xuất: hiện đại có, thô sơ có,
nửa cơ khí có vì vậy việc thiết lập quan hệ sở hữu với t liệu sản xuất cũng phải đa
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét