Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

Quản lý các dự án ODA ở Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Thực trạng và giải pháp

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
2.1. Mục đích nghiên cứu đề tài
Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý các dự án
ODA tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Để thực hiện được mục đích trên, đề tài cần thực hiện các nhiệm vụ
sau đây:
- Hệ thống hoá các vấn đề lý luận về nguồn vốn ODA và vấn đề quản lý
dự án ODA.
- Đánh giá công tác quản lý dự án ODA tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư trên
cơ sở phân tích thực trạng, từ đó chỉ ra những tồn tại và nguyên nhân của những
tồn tại đó.
- Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý các dự án ODA.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của chuyên đề là hoạt động quản lý các dự án
ODA.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Chuyên đề chỉ nghiên cứu trong phạm vi sau:
- Về không gian: Chỉ nghiên cứu các dự án ODA do Bộ Kế hoạch và Đầu
tư quản lý thực hiện.
- Về thời gian: Từ năm 2001 đến nay.
- Về giác độ nghiên cứu: Nghiên cứu trên giác độ vi mô những vấn đề
quản lý dự án ODA.
SV: Trần Thị Thu Trang Lớp: Kinh doanh quốc tế 46A
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
4. Kết cấu của chuyên đề
Ngoài lời mở đầu và kết luận, nội dung của chuyên đề được chia làm 3
chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý các dự án ODA và sự cần thiết phải
thực hiện quản lý các dự án ODA tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Chương 2: Thực trạng quản lý các dự án ODA tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư
thời gian qua.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý các dự án
ODA tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong thời gian tới.
SV: Trần Thị Thu Trang Lớp: Kinh doanh quốc tế 46A
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN ODA VÀ SỰ CẦN
THIẾT PHẢI THỰC HIỆN QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN ODA
TẠI BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ
Hỗ trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance - ODA) là
một trong những nguồn lực từ bên ngoài có những ưu việt nổi trội (viện trợ
không hoàn lại hoặc cho vay ưu đãi) rất phù hợp để hỗ trợ các nước đang phát
triển, nhất là các nước nghèo xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội. Từ giữa
thế kỷ 20 việc tranh thủ thu hút và sử dụng nguồn lực ODA đã góp phần tích cực
vào việc giảm hố ngăn cách giàu nghèo giữa các quốc gia và nâng cao đời sống
cho người dân ở các nước nghèo và nước đang phát triển.
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC ODA
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm nguồn vốn ODA
1.1.1.1. Khái niệm
Lịch sử hình thành nguồn vốn ODA: Viện trợ phát triển chính thức đã có từ
rất lâu đời, nhưng sau chiến tranh thế giới thứ II, loại hình viện trợ này mới thực
sự phổ biến và được quốc tế hoá.
Sau chiến tranh thế giới thứ II, nhiều nước bị tàn phá nặng nề về kinh tế
(chủ yếu là các nước Châu Âu), trong khi đó Mỹ không những không bị suy sụp
bởi chiến tranh mà còn giàu lên trông thấy. Với sức mạnh về mọi mặt của mình,
nổi bật nhất là về kinh tế, Mỹ đã đưa ra kế hoạch Marshall, vừa để trợ giúp các
nước Tây Âu phục hồi kinh tế, vừa để chi phối, kiểm soát các nước này và ngăn
chặn việc mở rộng ảnh hưởng của Liên Xô. Trong thời kỳ từ năm 1947 đến
1951 Mỹ đã rót khoảng 2,5% tổng sản phẩm quốc gia (GNP) của mình vào công
cuộc tái thiết Tây Âu. Để tiếp nhận viện trợ của kế hoạch Marshall, các nước
châu Âu đã đưa ra một chương trình phục hồi kinh tế và thành lập Tổ chức Hợp
SV: Trần Thị Thu Trang Lớp: Kinh doanh quốc tế 46A
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
tác kinh tế châu Âu, về sau trở thành Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế
(OECD).
Được thúc đẩy bởi những tính toán lợi ích về mặt kinh tế và chính trị, Mỹ
tìm cách mở rộng ảnh hưởng của mình thông qua việc tăng cường viện trợ ODA
cho các nước đang phát triển, những quốc gia ở Thế giới thứ ba trong thập niên
1950. Đồng thời, Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế (IBRC), tiền thân
của Ngân hàng Thế giới (WB) cũng bắt đầu chuyển trọng tâm từ công cuộc tái
thiết châu Âu sang quá trình phát triển ở Thế giới thứ ba. Các tổ chức chuyên
biệt của Liên hợp quốc, ví dụ như Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp (FAO),
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cũng lớn mạnh cả về số lượng và quy mô trong
các thập niên 1950 và 1960.
Cùng với sự hình thành đông đảo các tổ chức đa phương là sự ra đời của
rất nhiều tổ chức viện trợ tại các nước phát triển Tây Âu cũng như ở các nơi
khác. Trong vòng 20 năm tiếp theo, chương trình viện trợ song phương từ các
nước cung cấp viện trợ khác còn tăng hơn rất nhiều so với của Mỹ. Trong khuôn
khổ hợp tác và phát triển, các nước OECD đã lập ra những uỷ ban chuyên môn,
trong đó có Uỷ ban Viện trợ Phát triển (DAC), nhằm giúp các nước đang phát
triển đẩy nhanh phát triển kinh tế và nâng cao hiệu quả đầu tư.
Thập niên 1970 còn chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của viện trợ nước
ngoài từ các nước xuất khẩu dầu mỏ OPEC mới nổi lên. Trong thập niên 1980,
Nhật Bản tăng nhanh viện trợ nước ngoài, vượt qua Mỹ trở thành nước cung cấp
viện trợ lớn nhất thế giới vào cuối thập niên này. Đầu thập nhiên 1990, viện trợ
cho các nước đang phát triển tăng rất nhanh, tuy nhiên, đến những năm đầu thế
kỷ 21 này, hầu hết các quốc gia phát triển đều liên tục cắt giảm viện trợ do
những khó khăn về kinh tế trên toàn cầu, và thế giới phải liên tục xử lý, đương
đầu với những tình huống cấp bách như viện trợ chống thiên tai (động đất, sóng
thần, sâu bệnh, hạn hán…). Gần đây chủ nghĩa khủng bố đã làm cho thế giới
phải chi tiêu ngày càng nhiều tiền của hơn vào lĩnh vực này.
SV: Trần Thị Thu Trang Lớp: Kinh doanh quốc tế 46A
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Hiện nay đồng thời với việc cung cấp ODA song phương (trực tiếp), các
nước còn chuyển giao ODA cho các nước đang phát triển thông qua các tổ chức
viện trợ đa phương. Các tổ chức đó bao gồm: Các tổ chức thuộc hệ thống Liên
hợp quốc như: Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc (UNDP), Quỹ Nhi
đồng Liên hợp quốc (UNICEF), Chương trình lương thực thế giới (WFP), Quỹ
Dân số Liên hợp quốc (UNFPA), Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Tổ chức Nông
nghiệp và Lương thực (FAO); Liên minh Châu Âu (EU); Các tổ chức Phi Chính
phủ (NGOs); Các tổ chức tài chính quốc tế, gồm: Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF),
Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Ngân hàng
Phát triển Châu Phi (AfDB), Quỹ Viện trợ của OPEC; Quỹ Côoét…
Các khái niệm ODA:
Theo DAC: “Viện trợ phát triển chính thức ODA là nguồn vốn hỗ trợ
chính thức từ bên ngoài bao gồm các khoản viện trợ và cho vay với các điều
kiện ưu đãi; ODA được hiểu là nguồn vốn dành cho các nước đang và kém phát
triển (và các tổ chức nhiều bên), được các cơ quan thừa hành của Chính phủ, các
tổ chức liên Chính phủ, các tổ chức phi Chính phủ tài trợ. Vốn ODA phát sinh
từ nhu cầu cần thiết của một quốc gia, một địa phương, một ngành - được tổ
chức quốc tế hay nước bạn xem xét và cam kết tài trợ, thông qua một Hiệp định
quốc tế được đại diện có thẩm quyền hai bên nhận và hỗ trợ vốn ký kết. Hiệp
định quốc tế hỗ trợ này được chi phối bởi công pháp quốc tế”.
Theo WB: “ODA là một phần của tài chính phát triển chính thức (ODF)
trong đó có yếu tố viện trợ không hoàn lại cộng với cho vay ưu đãi và phải
chiếm ít nhất 25% trong tổng viện trợ thì gọi là ODA”.
ODF là tài trợ phát triển chính thức, là tất cả các nguồn tài chính mà
Chỉnh phủ các nước phát triển và tổ chức đa phương dành cho các nước đang và
kém phát triển, loại vốn vay này gồm có ODA và các hình thức ODF khác, trong
đó ODA chiếm tỷ trọng lớn.
Theo định nghĩa của UNDP: “ODA bao gồm tất cả các khoản viện trợ
không hoàn lại và các khản cho vay đối với các nước đang phát triển, cụ thể là:
SV: Trần Thị Thu Trang Lớp: Kinh doanh quốc tế 46A
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Do khu vực chính thức thực hiện, chủ yếu nhằm thúc đẩy kinh tế và phúc lợi,
cung cấp với các điều khoản ưu đãi về mặt tài chính (nếu là vốn vay thì có phần
không hoàn lại ít nhất là 25%)”.
Theo Nghị định số 17/2007/NĐ-CP ngày 04 tháng 05 năm 2001 của
Chính phủ về việc ban hành quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển
chính thức định nghĩa: “Hỗ trợ phát triển chính thức (gọi tắt là ODA) là hoạt
động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam với Nhà tài trợ, bao gồm: Chính phủ nước ngoài và các tổ
chức liên Chính phủ hoặc liên quốc gia”.
Như vậy, có rất nhiều cách định nghĩa về ODA, song tóm lại ta có thể
định nghĩa ODA như sau: “Hỗ trợ phát triển chính thức ODA là nguồn vốn từ
các cơ quan chính thức bên ngoài cung cấp (hỗ trợ) cho các nước đang và kém
phát triển hoặc các nước đang gặp khó khăn về tài chính (thông qua các cơ quan
chính thức) nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc phát triển kinh tế - xã
hội của các nước này”.
1.1.1.2. Đặc điểm
Có thể tổng quát ODA có 5 đặc điểm chính sau:
ODA do Chính phủ của một nước hoặc các tổ chức quốc tế cấp cho các cơ
quan chính thức của một nước.
ODA không cấp cho những dự án mang tính chất thương mại, mà chỉ
nhằm mục đích nhân đạo, giúp phát triển kinh tế, khắc phục khó khăn về tài
chính hoặc nâng cao lợi ích kinh tế - xã hội của nước nhận viện trợ.
ODA là nguồn vốn có nhiều ưu đãi. Tính ưu đãi thể hiện ở: Thời gian vay
thường kéo dài 40 năm, thời gian ân hạn lên tới 10 năm mới phải trả lãi
1
, lãi suất
thường thấp hơn nhiều so với vay thương mại (chỉ khoảng 1,5%/năm) và có
khoảng 10% tổng số là viện trợ không hoàn lại.
1
Thời gian ân hạn là thời gian bên đi vay không phải trả gốc và lãi
SV: Trần Thị Thu Trang Lớp: Kinh doanh quốc tế 46A
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Như vậy, bản chất của viện trợ ODA mang tính nhân đạo, thể hiện nghĩa
vụ đồng thời là sự quan tâm giúp đỡ của các nước đối với nhau, tăng cường thúc
đẩy mối quan hệ đối ngoại tốt đẹp giữa các quốc gia hoặc giữa các tổ chức quốc
tế với các quốc gia.
Tuy nhiên, ODA không chỉ đơn thuần là việc giúp đỡ hữu nghị mà còn
mang tính ràng buộc, là một công cụ có hiệu quả để thiết lập và duy trì lợi ích
kinh tế và vị thế chính trị cho nước tài trợ.
Các nước viện trợ sử dụng ODA để khuyến khích sự phát triển kinh tế -
xã hội ở các nước đang phát triển theo hình mẫu mà họ mong muốn. Ví dụ,
khuyến khích phát triển kinh tế thị trường, tự dó hoá thương mại, mở cửa đầu
tư… Bên cạnh đó, việc “ràng buộc” viện trợ song phương với việc mua trang
thiết bị từ nước cung cấp viện trợ đã làm giảm bớt giá trị thực sự của những
khoản viện trợ này cho các nước đang phát triển
2
. Mục đích của viện trợ có điều
kiện là cho phép các nhà sản xuất ở nước tài trợ giành được những hợp đồng
trong khoản mua sắm bằng viện trợ nước ngoài. Thông thường, các nhà tài trợ
thường yêu cầu các nước nhận viện trợ phải dùng 50% viện trợ để mua hàng hoá
và dịch vụ của họ. Viện trợ có điều kiện còn mở ra cơ hội đặt hàng trong tương
lai cho các nhà xuất khẩu ở nước cung cấp ODA. Một khi nước tiếp nhận viện
trợ lắp đặt máy móc thiết bị từ một nhà cung cấp nhất định, họ chắc chắn sẽ
quay lại nhà cung cấp này để mua linh kiện, phụ tùng thay thế.
ODA còn như một công cụ để thực hiện ý đồ chính trị đối ngoại, xác định
vai trò và ảnh hưởng chính trị của các nước phát triển tại các quốc gia và khu
vực tiếp nhận. Như Mỹ là một trong các quốc gia thường xuyên sử dụng các
điều kiện chính trị để “mặc cả” với các quốc gia tiếp nhận viện trợ. Nhật Bản
dùng ODA để bình thường hoá quan hệ với các nước Đông Nam Á, mở rộng
2
Trung bình viện trợ có điều kiện làm giảm khoảng 20% giá trị của nó. Hơn nữa, các công ty
của các nước tài trợ được hưởng lợi từ việc viện trợ có điều kiện lại là những nhóm lợi ích luôn
vận động hành lang cho cho các dự án viện trợ cần nhiều đầu vào từ các nước tài trợ cho dù các
dự án này không phải là thích hợp nhất theo quan điểm của nước nhận viện trợ.
SV: Trần Thị Thu Trang Lớp: Kinh doanh quốc tế 46A
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
giao lưu chính trị - văn hoá với các nước này nhằm tìm kiếm sự ủng hộ cho
tham vọng trở thành trung tâm văn hoá - chính trị của thế giới.
Ngoài ý đồ chính trị, các quốc gia phát triển còn gắn viện trợ với việc giải
quyết các vấn đề xã hội, bảo vệ môi trường, xoá đói giảm nghèo.
ODA có khả năng tạo thành gánh nợ. Do tính chất ưu đãi của ODA nên
khi sử dụng nó người ta không ý thức ngay được gánh nặng nợ nần trong tương
lai. Nhiều dự án ODA thường không được đầu tư trực tiếp cho sản xuất, kinh
doanh, nhất là cho xuất khẩu. Chính vì thế, những nước sử dụng ODA không có
hiệu quả có thể có sự tăng trưởng nhất thời, nhưng sau một thời gian sẽ rơi vào
cảnh nợ nần hết sức nặng nề.
1.1.2. Phân loại nguồn vốn ODA
Có nhiều cách để phân loại nguồn vốn ODA, song dựa vào các căn cứ cụ
thể, ta có cách phân loại như sau:
Căn cứ theo tính chất của khoản viện trợ: Có 2 loại:
+ Viện trợ thông thường: Viện trợ cho các nước cần vốn cho mục
tiêu phát triển kinh tế - xã hội hoặc có nhu cầu cải thiện tình hình tài chính quốc
gia; được thực hiện tại Hội nghị thường niên các nhà tài trợ. Với loại hình viện
trợ này, vai trò của các nhà tài trợ thể hiện ở 2 mặt: Tư vấn và phân tích kỹ
thuật; và tài trợ cho các chương trình, dự án cụ thể.
+ Viện trợ khẩn cấp: Viện trợ của các nước và các tổ chức quốc tế
cho các trường hợp nền kinh tế của một nước bị đe doạ nghiêm trọng do thiên
tai, địch hoạ… hoặc do khủng hoảng đột xuất về kinh tế.
Căn cứ theo phương thức hoàn trả: ODA có 3 loại:
+ Viện trợ không hoàn lại: Bên nước ngoài cung cấp viện trợ (mà
bên nhận không phải hoàn lại) để bên nhận thực hiện các chương trình, dự án
theo sự thoả thuận giữa các bên; có thể coi viện trợ không hoàn lại như một
nguồn thu của Ngân sách Nhà nước, được sử dụng theo hình thức Nhà nước cấp
phát lại cho các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
SV: Trần Thị Thu Trang Lớp: Kinh doanh quốc tế 46A
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Viện trợ không hoàn lại được sử dụng ưu tiên cho những chương trình và
dự án thuộc các lĩnh vực kinh tế - xã hội như: Y tế; giáo dục; các vấn đề xã hội
như xoá đói giảm nghèo, phát triển nông thôn và miền núi, cấp nước sinh hoạt…
hoặc hỗ trợ cho các chương trình, dự án phát triển và tăng cường năng lực thể
chế; bảo vệ môi trường môi sinh, quản lý đô thị; nghiên cứu khoa học và công
nghệ; hỗ trợ ngân sách; thực hiện các chương trình nghiên cứu tổng hợp nhằm
hỗ trợ Chính phủ sở tại hoạch định các chính sách hoặc cung cấp thông tin cho
các nhà đầu tư bằng các hoạt động thanh tra khảo sát, đánh giá tài nguyên, hiện
trạng xã hội kinh tế kỹ thuật các ngành, các vùng lãnh thổ.
Ngoài ra ODA không hoàn lại còn hỗ trợ cho các hoạt động sản xuất
trong một số trường hợp cá biệt, trước hết là các dự án góp phần tạo việc làm;
giải quyết các vấn đề xã hội ở nước nhận viện trợ…
Viện trợ không hoàn lại được thực hiện dưới 2 dạng: Hỗ trợ kỹ thuật (các
tổ chức tài trợ thực hiện việc chuyển giao công nghệ, hoặc truyền đạt những
kinh nghiệm xử lý, bí quyết kỹ thuật… cho nước nhận ODA) và Viện trợ nhân
đạo bằng hiện vật (các nước tiếp nhận ODA dưới hình thức hiện vật).
+ Viện trợ có hoàn lại (còn gọi là tín dụng ưu đãi), chiếm tỷ trọng
cao trong tổng số vốn ODA trên thế giới: Nhà tài trợ cho nước cần vốn vay một
khoản tiền (tuỳ theo quy mô và mục đích đầu tư) với mức lãi suất ưu đãi và thời
gian trả nợ thích hợp. Tín dụng ưu đãi là nguồn thu phụ thêm để bù đắp thâm
hụt Ngân sách Nhà nước, vì vậy nó được sử dụng dưới hình thức tín dụng ưu đãi
đầu tư cho các dự án có khả năng thu hồi vốn, hoàn trả lại cho Nhà nước cả vốn
và lãi để trả nợ nước ngoài.
Tín dụng ưu đãi thường để ưu tiên đầu tư cho các chương trình quốc gia,
đặc biệt là các dự án và chương trình xây dựng hoặc cải tạo cơ sở hạ tầng kinh tế
xã hội thuộc các lĩnh vực: năng lượng, giao thông vận tải, nông nghiệp, thuỷ lợi,
thông tin liên lạc, thúc đẩy đầu tư của tư nhân trong và ngoài nước; bù đắp thâm
hụt cán cân thanh toán quốc tế… hoặc hỗ trợ để Chính phủ nước tiếp nhận quản
lý tốt hơn ngân sách trong giai đoạn cải cách hệ thống tài chính hay chuyển đổi
SV: Trần Thị Thu Trang Lớp: Kinh doanh quốc tế 46A
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
hệ thống kinh tế (điều chỉnh cơ cấu) hoặc dùng để xoá đói giảm nghèo, tạo điều
kiện thuận lợi cho nước nhận ODA phát triển mạnh hơn cả về kinh tế và đời
sống kinh tế - xã hội.
Những điều kiện ưu đãi thường là: Lãi suất thấp, thời hạn vay nợ dài (từ
20 – 30 năm), có thời gian không trả lãi hoặc hoãn trả nợ (thời gian ân hạn) từ
10 – 12 năm.
+ ODA cho vay hỗn hợp: Kết hợp một phần ODA không hoàn lại
và một phần tín dụng ưu đãi theo các điều kiện của bên cung cấp; hoặc kết hợp
tới 3 loại hình gồm một phần ODA không hoàn lại, một phần vốn vay ưu đãi và
một phần tín dụng thương mại.
Căn cứ theo mục tiêu sử dụng: Có 4 loại:
+ Hỗ trợ cán cân thanh toán (thường là viện trợ nhân đạo bằng hiện
vật – còn gọi là viện trợ hàng hoá): Gồm các khoản ODA cung cấp để hỗ trợ
Ngân sách của Chính phủ, thường được thực hiện qua các dạng: Chuyển giao
tiền tệ trực tiếp cho nước nhận ODA (ít gặp) và hỗ trợ nhập khẩu (Chính phủ
nước nhận ODA tiếp nhận một lượng hàng hoá có giá trị tương đương với các
khoản cam kết, bán cho thị trường nội địa và thu nội tệ).
+ Tín dụng thương mại: Thông thường nước cung cấp yêu cầu bên
tiếp nhận phải dùng phần lớn hoặc hầu hết vốn vay chỉ để mua hàng ở nước
cung cấp.
+ Viện trợ chương trình (viện trợ phi dự án): Nước cung cấp và
nước nhận viện trợ ký Hiệp định cho một mục đích tổng quát mà không cần xác
định khoản viện trợ sẽ được sử dụng như thế nào; chẳng hạn viện trợ cho sự phát
triển chung của giáo dục, phát triển khoa học.
+ Viện trợ dự án: Chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng vốn thực hiện
ODA. Điều kiện để được nhận viện trợ dự án là “phải có dự án cụ thể, chi tiết về
các hạng mục sẽ sử dụng ODA”.
SV: Trần Thị Thu Trang Lớp: Kinh doanh quốc tế 46A
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét