nhiều hình thức nh: Mở tài khoản tiền gửi thanh toán (tài khoản vãng lai), tài
khoản tiền gửi có kỳ hạn (tài khoản tiền gửi), tiết kiệm của dân c, phát hành trái
phiếu, kỳ phiếu của ngân hàng. Phân theo kỳ hạn huy động vốn có thể chia vốn
huy động làm 2 loại: Tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi không kỳ hạn.
- Tiền gửi không kỳ hạn.
Đối với với các NHTM Việt Nam huy động vốn tiền gửi không kỳ hạn có
2 hình thức chính: Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn của dân c và tiền gửi trên tài
khoản tiền gửi thanh toán của các tổ chức kinh tế- xã hội và cá nhân.
+ Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn của dân c: Là hình thức gửi tiền và rút
tiền ra khỏi ngân hàng một cách thờng xuyên, bất kỳ thời điểm nào. Mục đích
của khách hàng không phải gửi tiền để hởng lãi, mà chủ yếu là để đảm bảo
thanh toán và an toàn tài sản.
+ Tiền gửi trên tài khoản tiền gửi thanh toán của các tổ chức kinh tế- xã
hội và cá nhân: Mục đích chủ yếu là phục vụ cho nhu cầu thanh toán. Khách
hàng mở tài khoản thanh toán tại các NHTM thông qua tài khoản để ghi Có
các khoản thu nhập của họ hoặc sử dụng để ghi Nợ trả tiền hay rút tiền mặt
theo yêu cầu bằng các phơng thức thanh toán không dùng tiền mặt nh: Séc, uỷ
nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, thẻ thanh toán
Hai hình thức tiền gửi trên, khách hàng đợc ngân hàng trả lãi trên số d
Có trên sổ tiết kiệm hay trên tài khoản. Đặc điểm của loại tiền gửi này là lãi
suất thấp, không ổn định.
- Tiền gửi có kỳ hạn.
Bao gồm tiền gửi của cá nhân, các tổ chức kinh tế, xã hội. Tiền gửi có kỳ
hạn thông thờng chỉ đợc rút ra theo kỳ hạn. Đối với tài khoản tiền gửi có kỳ
hạn, khách hàng có thể gửi vào và rút ra theo yêu cầu. Song loại tài khoản này
không đợc phát hành séc, cũng nh sử dụng các phơng thức thanh toán không
dùng tiền mặt khác. Khi khách hàng muốn rút trớc hạn trên tài khoản tiền gửi
có kỳ hạn, ngân hàng sẽ trích chuyển từ tài khoản có kỳ hạn sang tài khoản tiền
5
gửi thanh toán, và từ tài khoản này khách hàng mới rút tiền mặt hay chuyển
khoản thanh toán khác.
Đặc điểm của tiền gửi có kỳ hạn là lãi suất cao (kỳ hạn càng dài lãi suất
càng cao). Khách hàng gửi tiền mục đích để lấy lãi, vì vậy tiền gửi có kỳ hạn có
tính ổn định cao.
- Phát hành giấy tờ có giá.
Các NHTM phát hành kỳ phiếu và trái phiếu, đặc điểm là có kỳ hạn và
lãi suất hay khoản lãi đợc hởng khi đáo hạn thanh toán đợc ghi ngay trên bề mặt
của kỳ phiếu hay trái phiếu. Hình thức huy động vốn này đợc thực hiện với mục
đích sử dụng vốn rõ ràng, số lợng và thời gian phát hành nhất định. Hiện nay,
tại NHCT Việt Nam tỷ lệ kỳ phiếu chiếm 12,4% tổng nguồn vốn huy động có
kỳ hạn.
Do hoạt động cạnh tranh và đảm bảo lợi ích cho khách hàng có tiền gửi,
khách hàng rút vốn trớc hạn đều đợc các NHTM Việt Nam trả lãi không kỳ hạn.
- Vốn đi vay.
Chủ yếu vay vốn của các NHTM là vay chiết khấu với Ngân hàng Trung
ơng, khi dòng tiền thanh toán vợt mức dự trữ thanh toán, nh trong thanh toán bù
trừ và thanh toán các khoản tiền gửi rút ra khỏi ngân hàng. Vay vốn các Ngân
hàng nớc ngoài và các NHTM cho vay lẫn nhau khi nhu cầu tài trợ vốn cho
khách hàng đòi hỏi, trong khi cha tạo lập đợc nguồn vốn bằng các hình thức
khác. Cũng qua hình thức này ngân hàng có thêm khả năng thanh khoản mà
không nhất thiết phải bán các tài sản khác, có thể làm thiệt hại cho ngân hàng vì
có thể phải gia tăng chi phí. Đặc điểm của vốn vay là lãi suất cao nên các
NHTM chỉ tham gia vay vốn khi thực sự cần thiết.
- Vốn nhận uỷ thác đầu t.
Đây là nguồn vốn uỷ thác đầu t của Nhà nớc, của các tổ chức tài chính
trong nớc và quốc tế, theo các chơng trình và dự án có mục tiêu riêng.
1.1.2.2. Sử dụng vốn.
6
Qua hoạt động huy động vốn hình thành nên nguồn vốn kinh doanh của
ngân hàng. Ngân hàng sử dụng nguồn vốn này tiến hành hoạt động tín dụng tạo
ra lợi nhuận. Các NHTM thu lợi nhuận chủ yếu bằng hoạt động cho vay, đầu t,
chiết khấu chứng từ có giá, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các
nghiệp vụ trung gian khác.
- Hoạt động cho vay.
Đó là việc ngân hàng thoả thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền
vay với nguyên tắc có hoàn trả. Căn cứ vào thời gian có thể phân thành 2 hình
thức cho vay: Cho vay ngắn hạn, cho vay trung và dài hạn.
Theo Quyết định số 284/2000/QĐ-NHNN1 ngày 25/8/2000 của Thống
đốc Ngân hàng Nhà nớc (NHNN) Việt Nam, điều 10 về thời hạn cho vay có quy
định cho vay ngắn hạn tối đa đến 12 tháng, cho vay trung hạn từ trên 12 tháng
đến 60 tháng, cho vay dài hạn từ trên 60 tháng
+ Cho vay ngắn hạn: Là hình thức cho vay bổ xung thiếu hụt về vốn lu
động cho khách hàng vay hoạt động sản xuất kinh doanh và vay vốn tiêu dùng.
Cho vay ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn cho vay của các NHTM.
NHCT Việt Nam có tỷ trọng cho vay ngắn hạn năm 1999 là 51,4%; năm 2000
là 54 % và năm 2001 là 57,05%
+ Cho vay trung và dài hạn: Đợc thực hiện đối với những dự án đầu t cơ
bản, dự án xây dựng hạ tầng cơ sở phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội, mua
sắm tài sản cố định, thay đổi và chuyển giao công nghệ của các doanh nghiệp
các đối tợng có chu kỳ sản xuất, kinh doanh dài ngày, để cho vay trung và dài
hạn bắt buộc các NHTM phải có nguồn vốn dài hạn. Nguồn vốn dài hạn hiện
nay đối với các NHTM Việt Nam rất thiếu cho nên tỷ trọng cho vay trung và
dài hạn cha tơng xứng với nhu cầu đầu t của các thành phần kinh tế. Định hớng
của NHCT Việt Nam đến năm 2002 đa tỷ trọng cho vay trung và dài hạn chiếm
35% tổng d nợ vay.
- Đầu t: Sau hoạt động cho vay là hoạt động mang lại thu nhập chính cho
7
ngân hàng, thì đầu t đợc xếp hàng thứ hai. Hoạt động đầu t của các NHTM vừa
làm đa dạng loại hình vốn sử dụng vừa mang lại thu nhập, đồng thời còn là
khoản dự trữ thứ cấp với các chứng khoán ngắn hạn chất lợng cao. Đầu t bao
gồm các hoạt động chính nh:
+ Mua các chứng khoán, trái phiếu Chính phủ: Các chứng khoán Chính
phủ đợc các NHTM xem nh không có rủi ro. Trong năm qua và hiện tại ở Việt
Nam, trái phiếu kho bạc Nhà nớc (trái phiếu ngắn hạn) qua các đợt phát hành
hầu hết là do các NHTM mua thông qua phiên đấu giá do NHNN chủ trì. Hoạt
động này đối với ngân hàng vừa mang lại thu nhập bằng lãi trái phiếu, vốn đầu
t có tính an toàn cao, có khả năng tạo ra các công cụ thanh toán cho các NHTM
khi cần thiết.
+ Các chứng khoán khác: Bao gồm các công cụ vay nợ vì NHTM không
đợc phép nắm giữ cổ phiếu. Trong hoạt động đầu t ngân hàng quan tâm nhiều
nhất đến chất lợng và kỳ hạn của các chứng khoán, bởi các chứng khoán có thể
không có rủi ro, nhng lại thay đổi đáng kể về giá cả khi lãi suất thay đổi, từ đó
ảnh hởng đến lợi tức hoặc thiệt hại khi phải bán chứng khoán. Kỳ hạn đầu t cho
phép có thể tái đầu t vào các chứng khoán khác phù hợp hơn.
- Cho thuê tài chính.
Là hoạt động tín dụng trung và dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài
sản giữa bên cho thuê tài sản và TCTD với khách hàng thuê. Khi kết thúc kỳ
hạn thuê, khách hàng mua lại hay tiếp tục thuê tài sản đó, theo các điều kiện đã
thoả thuận trong hợp đồng thuê; trong thời hạn cho thuê các bên không đợc đơn
phơng huỷ bỏ hợp đồng.
- Bảo lãnh ngân hàng.
Là cam kết bằng văn bản của các TCTD với bên có quyền về việc thực
hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng, khi khách hàng không thực hiện
đúng nghĩa vụ đã cam kết, khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho TCTD số
tiền đã đợc trả thay.
8
Thông qua dịch vụ bảo lãnh, Ngân hàng thu phí bảo lãnh trên số tiền
khách hàng xin bảo lãnh theo kỳ hạn bảo lãnh. NHTM cho công ty liên doanh
đầu t vốn nớc ngoài hoặc chi nhánh công ty nớc ngoài đóng tại Việt Nam vay
vốn, việc đảm bảo tiền vay đợc thực hiện bằng bảo lãnh của một Ngân hàng nớc
ngoài có chi nhánh tại Việt Nam. Cũng nh NHCT bảo lãnh vay vốn nớc ngoài
đối với các doanh nghiệp Việt Nam thông qua các hình thức nh: Th tín dụng
mua hàng trả chậm, ký bảo lãnh (Guarantee) trên các phiếu nhận nợ, phát hành
th bảo lãnh (Letter of Guarantee ), lập phiếu cam kết trả nợ (Promisory note).
1.1.2.3. Dịch vụ trung gian.
Các dịch vụ trung gian đợc các NHTM rất coi trọng, bởi hoạt động có
tính an toàn, lợi nhuận cao. Ngoài việc mang lại lợi nhuận trực tiếp qua thu phí
dịch vụ trung gian còn góp phần tạo lập nguồn vốn, thông qua các hoạt động
thanh toán ký gửi.
- Trung gian thanh toán .
Là việc Ngân hàng cung cấp cho khách hàng các dịch vụ thanh toán.
Thông qua các hoạt động này, tạo điều kiện cho khách hàng thực hiện các
khoản thanh toán với nhau, mà không phải mang theo một lợng tiền mặt bằng
hai hình thức:
- Thanh toán không dùng tiền mặt (Thanh toán chuyển khoản) đối với
các khách hàng có mở tài khoản tại ngân hàng. Nghiệp vụ này đợc thực hiện từ
các phơng thức thanh toán do Ngân hàng cung cấp nh: Séc, uỷ nhiệm thu, uỷ
nhiệm chi, thẻ thanh toán khách hàng sử dụng các phơng thức thanh toán trên
để trả tiền cho ngời thụ hởng hay đòi tiền cung cấp hàng hoá hay dịch vụ thông
qua Ngân hàng.
- Chuyển tiền thanh toán: Là việc khách hàng có thể trả một khoản tiền ở
bất kỳ chi nhánh NHTM nào mà ngời nhận tiền có hay không có tài khoản tại
Ngân hàng.
Hiện nay, với công nghệ thanh toán rất phát triển, hoạt động trung gian
9
thanh toán của Ngân hàng đã thực sự đóng vai trò quan trọng trong hoạt động
kinh tế, tiêu dùng của xã hội.
- Dịch vụ ngân quỹ.
Điều 67 Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam có ghi TCTD đợc thực hiện
dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng.
ở các nớc phát triển, dịch vụ ngân quỹ rất đa dạng và hiện đại nh các
hoạt động ký gửi, thuê kho két, thu hộ và chi hộ tiền mặt Đối với các NHTM
Việt Nam hoạt động ngân quỹ chiếm một tỷ trọng lớn về lao động và chi phí
bởi nhu cầu thanh toán và chuyển tiền thanh toán quan hệ tín dụng bằng tiền
mặt rất lớn và không có hạn chế, trong khi đó dịch vụ ngân quỹ lại cha thực sự
phát triển, sự xâm nhập vào hoạt động kinh tế- xã hội còn rất khiêm tốn.
- Dịch vụ cho các nhà xuất nhập khẩu.
Hoạt động của các nhà xuất nhập khẩu gắn liền với các dịch vụ, nghiệp
vụ ngân hàng nh: Nhận và xử lý chứng từ, ứng trớc tiền, thanh toán và chuyển
tiền quốc tế, t vấn về mậu dịch, các quy định và quản lý ngoại hối.
+ Xử lý các chứng từ: NHTM giúp các khách hàng hoạt động xuất nhập
khẩu xử lý các bộ chứng từ hàng hoá. Các chứng từ buôn bán quốc tế rất quan
trọng, chúng kiểm soát sự vận động của hàng hoá, phải đợc lập đúng lúc, đúng
chỗ, đầy đủ và hợp lệ, chỉ một điểm nhỏ không rõ ràng trong chứng từ sẽ dẫn
đến việc tranh chấp trong thanh toán.
+ Th tín dụng: Ngời mở th tín dụng thờng là ngời nhập khẩu (ngời mua),
ngời mua xin ngân hàng phục vụ mình (Ngân hàng phát hành th tín dụng) mở
một khoản tín dụng cho bên xuất khẩu (ngời bán) theo các điều khoản của th tín
dụng, Ngân hàng phát hành cam kết rằng ngời bán sẽ đợc thanh toán cho hàng
hoá của mình, với điều kiện ngời bán phải tuân thủ các điều khoản đã nêu trong
hợp đồng đợc thể hiện bằng nội dung th tín dụng. Th tín dụng có lợi thế cho các
10
nhà xuất khẩu vì hàng hoá chắc chắn đợc thanh toán bằng đảm bảo của Ngân
hàng phát hành, đồng thời cũng đảm bảo lợi ích của ngời nhập khẩu.
+ Uỷ thác thu: Là quá trình đòi một khoản tiền ở ngoài thực hiện, hay ng-
ời thu lệnh chi trả. Uỷ thác thu phụ thuộc vào chứng từ có thể dùng cho cả nhập
khẩu, xuất khẩu và có thể dới hình thức các hối phiếu thanh toán ngay hay có
kỳ hạn.
+ Dịch vụ về ngoại hối: Thanh toán quốc tế đòi hỏi việc chuyển đổi loại
tiền vay sang loại tiền khác là cần thiết và thờng xuyên diễn ra. Các nhà nhập
khẩu thờng phải mua ngoại tệ cho các nhu cầu thanh toán hàng nhập và các nhà
xuất khẩu có thu về ngoại tệ phải bán ngoại tệ theo quy định về quản lý ngoại
hối của Nhà nớc. Để cung cấp các dịch vụ về ngoại hối, các NHTM phải dự trữ
tiền gửi dới các hình thức, tiền gửi của Ngân hàng nớc ngoài , mua bán trên thị
trờng ngoại hối liên ngân hàng , mua bán của cá nhân, các tổ chức kinh tế xã
hội có thu ngoại tệ.
Thông qua trung gian là các NHTM, các nhà xuất nhập khẩu còn hạn chế
đợc rủi ro do tỷ giá gây ra, bằng các hợp đồng mua bán ngoại tệ có kỳ hạn với
ngân hàng (Forward).
1.1.3. Mục tiêu và nguyên tắc quản lý tài sản của NHTM.
1.1.3.1. Tài sản của NHTM.
Để khái quát tài sản của NHTM một cách có hệ thống, chúng ta nghiên
cứu bảng tổng kết tài sản của ngân hàng . Dới đây là việc dẫn bảng tổng kết tài
sản của một NHTM:
Biểu số 1.1: Bảng quyết toán tài sản của NHTM
Khoản Mục
1. Tổng tài sản Có:
Tiền mặt và tơng đơng tiền mặt
Tiền gửi tại NHNN
Tiền gửi tại các TCTD
11
Cho vay
Nợ khoanh và nợ chờ xử lý
Đầu t vào chứng khoán
Góp vốn mua cổ phần
Tài sản cố định
Các khoản phải thu
Tài sản có khác
2. Tổng tài sản Nợ và vốn:
Tiền gửi của khách hàng
Tiền gửi của các tổ chức tài chính
Phát hành kỳ phiếu , trái phiếu
Vay NHNN và các TCTD
Các khoản phải trả
Tài sản nợ khác
3. Tổng tài sản Nợ:
Vốn điều lệ
Các quỹ và vốn khác
Lãi cha phân phối
4. Tổng vốn
a. Tài sản Nợ:
Ngân hàng thu lợi nhuận bằng cách (bán) những tài sản Nợ (nguồn), rồi
vốn này có thể đợc dùng để mua những tài sản có mang lại thu nhập.
Là một tổ chức trung gian tài chính NHTM đóng vai trò quan trọng trong
việc khơi nguồn đến những ngời vay tiền có cơ hội đầu t sinh lời. Việc khơi
nguồn vốn thông qua các hoạt động nghiệp vụ ngân hàng.
- Các khoản tiền gửi có thể phát hành séc: Các tổ chức kinh tế- xã hội,
các tổ chức tín dụng khác, cá nhân mở tài khoản thanh toán tại NHTM . Thông
qua tài khoản ngời sở hữu chúng có quyền phát hành séc cho ngời thực hiện thứ
3. Đây là loại tiền gửi đợc ngân hàng thanh toán theo yêu cầu khách hàng,
nghĩa là chủ tài khoản chỉ cần viết ra và gửi đến ngân hàng nơi mở tài khoản
một lệnh thanh toán (Séc, uỷ nhiệm chi ) ngân hàng lập tức thanh toán theo
yêu cầu và theo lệnh thanh toán đã nhận đợc.
Tiền gửi trên tài khoản thanh toán là tài sản có đối với ngời gửi, ngợc lại
đối với ngân hàng là ngời có nghĩa vụ thanh toán số vốn đó theo yêu cầu của
ngời gửi, nên số vốn đó với ngân hàng là tài sản nợ. Vốn tiền gửi loại này đối
12
với hoạt động ngân hàng là loại vốn có chi phí thấp nhất và với những ngời gửi
tiền, họ thờng không quan tâm đến số lãi mà chỉ quan tâm đến tính lỏng có thể
dùng trong quan hệ thanh toán, chi trả ở các nớc kinh tế phát triển gửi loại này
thờng không đợc hởng lãi.
- Tiền gửi định kỳ và tiền gửi tiết kiệm: Đây là nguồn vốn quan trọng
nhất của ngân hàng, nó có đặc tính là đợc hởng lãi, loại tiền gửi này thờng nhạy
cảm với lãi suất các ngân hàng huy động nh: Tiền gửi tiết kiệm, kỳ phiếu, trái
phiếu, trái phiếu ngân hàng Có những chi nhánh NHTM nguồn vốn này chiếm
trên 90% nguồn vốn huy động.
- Các khoản tiền vay:
Nguồn vốn này chiếm khoảng 10% tổng tài sản Nợ (NHCT Việt Nam).
Trong quá trình hoạt động, các NHTM cũng nh các doanh nghiệp hoạt động sản
xuất kinh doanh, không phải lúc nào cũng biến tạo cho mình có đợc nguồn vốn
thoả mãn nhu cầu kinh doanh và thanh toán, mà thờng diễn ra hiện trạng thừa
vốn, thiếu vốn tạm thời. Quan hệ vay vốn giữa các TCTD với nhau và NHNN
nhằm bình đẳng sự thiếu hụt và thừa vốn tạm thời trên. Ưu điểm của quan hệ
này là giảm chi phí cho các NHTM do phải tìm kiếm nguồn vốn bổ xung.
- Vốn của NHTM:
Vốn tự có của Ngân hàng tức là tài sản thực của ngân hàng đó, nó đợc tạo
ra bằng cách bán cổ phần (phát hành cổ phiếu mới), lợi tức giữ lại. Vốn tự có là
thành phần quan trọng trong tổng tài sản Nợ của ngân hàng, lãi đợc coi nh phần
đệm an toàn để chống đỡ rủi ro trong kinh doanh.
- Tài sản Nợ khác:
Các khoản kết d về thanh toán giữa các ngân hàng, chủ yếu là kết d thanh
toán cha chuyển tiền giữa các chi nhánh trong hệ thống NHTM, tài sản tạm giữ
chờ xử lý, nguồn ký quỹ trong quan hệ thanh toán, thuế cha nộp, các khoản phải
nộp ngân sách Nhà nớc cha nộp.
b. Tài sản Có.
13
Tài sản Có của NHTM là kết quả của việc sử dụng vốn của ngân hàng đó.
Trong đó có những tài sản có đa lại thu nhập tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng.
- Các khoản tiền dự trữ:
+ Tiền mặt tại ngân hàng : Là khoản dự trữ quá mức có tính lỏng nhất
hay là tỉ lệ an toàn thanh toán, đợc sử dụng chi trả cho các đồng tiền rút ra khỏi
ngân hàng, các khoản thanh toán khác.
+ Dự trữ bắt buộc : Là khoản dự trữ theo luật định, theo quy định của các
NHTM đều phải giữ lại và gửi các cơ quan dự trữ ( Mỹ có quỹ dự trữ liên bang
FED, Việt Nam, các NHTM gửi tiền dự trữ bắt buộc vào NHNN). Tỷ lệ dự trữ
bắt buộc đợc xác định trên tổng nguồn vốn huy động và theo kỳ hạn của từng
loại tiền gửi. Hiện nay, NHNN Việt Nam quy định 3% cho các loại nguồn vốn
huy động có thời hạn dới 12 tháng
+ Tiền gửi ngân hàng khác.
Trong quá trình hoạt động, các NHTM, NHNN có quan hệ thanh toán với
nhau, thanh toán bù trừ qua NHNN. Xuất phát từ nhu cầu thực tế nhằm giảm chi
phí, giảm thời gian trong quan hệ thanh toán, các chi nhánh của các NHTM mở
tài khoản thanh toán với nhau.
- Tiền cho vay.
Khoản thu chủ yếu của ngân hàng là từ tiền cho vay (Trên 50% thu nhập
của ngân hàng). Tiền cho vay chiếm 53,84 % tổng tài sản Có (NHCT Việt Nam)
Tiền cho vay là khoản nợ của các doanh nghiệp, cá nhân nhng là tài sản
có của ngân hàng, vì nó mang lại thu nhập cho ngân hàng. Tiền cho vay có tính
kém lỏng, rủi ro cao, bởi nó khó chuyển thành tiền mặt trớc khi mãn hạn.
- Những tài sản Có khác:
Nh trụ sở, trang thiết bị, phơng tiện do các ngân hàng sở hữu.
1.1.3.2. Mục tiêu quản lý tài sản của NHTM.
- Lợi nhuận: Mục tiêu lớn nhất của hoạt động kinh doanh ngân hàng là
lợi nhuận. NHTM với t cách là những tổ chức kinh doanh vì lợi nhuận vậy có
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét