Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

Hiệu quả của một số chính sách hỗ trợ cho phụ nữ nông thôn phát triển kinh tế

Trang 5
6. Ý nghĩa của đề tài
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu sẽ đóng góp thêm vào hệ thống cơ sở lý luận của khoa học Chính
sách xã hội. Đồng thời sẽ làm tài liệu góp phần phục vụ cho nhu cầu tham khảo, nghiên cứu
của sinh viên ngành Công tác xã hội sau này.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu góp phần giúp cho chúng ta có cái nhìn đầy đủ về thực trạng hiệu
quả của một số chính sách hỗ trợ cho phụ nữ nông thôn phát triển kinh tế ở xã Xuân Bình.
Từ đó đề xuất những kiến nghị góp phần giúp cho chính quyền địa phương có những định
hướng và những giải pháp thực thi những chính sách này đạt
hiệu quả cao hơn.
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Khi nói về phụ nữ, người ta thường nhắc đến cuốn sách “Vai trò của phụ nữ trong
phát triển kinh tế” của Ester Boserup (1970). Theo nhà khoa học nữ này thì cho đến những
năm 1970, những nghiên cứu chỉ ra rằng mặc dù phụ nữ thường là những người có đóng góp
chính vào năng suất chủ yếu của cộng đồng, nhất là trong nông nghiệp, nhưng những đóng
Trang 6
góp của họ không được tính đến trong thống kê quốc dân cũng như trong kế hoạch hoá và
thực hiện các dự án phát triển. Cuốn sách của E. Boserup đã được coi là lần đầu tiên đặt lại
vấn đề trong cách đánh giá về vai trò của phụ nữ, qua cuốn sách của mình, bà đã chứng minh
vai trò kinh tế của phụ nữ thông qua nghiên cứu phụ nữ nông dân vùng Tây Sahara, châu
Phi. Một điều mà trước đây, các nhà tạo lập chính sách và trong giới nghiên cứu kể cả những
nhà khoa học nữ đã không thấy hết và do vậy không công nhận một cách đúng đắn vai trò
kinh tế rất quan trọng của phụ nữ.
Ở Việt Nam, công trình nghiên cứu về phụ nữ đầu tiên xuất bản được phát hành rộng
rãi và dịch ra nhiều thứ tiếng là cuốn “Phụ nữ Việt Nam qua các thời đại” của Lê Thị Nhâm
Tuyết (1973, 1975). Trong cuốn sách, tác giả đã phân tích những nét cơ bản về các truyền
thống của phụ nữ Việt Nam trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Đặc biệt về vai trò truyền
thống của phụ nữ Việt Nam trong sản xuất nông nghiệp. Cuốn sách đã trình bày nhiều tư liệu
có giá trị khoa học, gây tiếng vang trong giới nghiên cứu. Sau gần một phần tư thế kỷ, tác
giả cuốn sách “Phụ nữ Việt Nam qua các thời đại” lại cho xuất bản cuốn “Hình ảnh Phụ nữ
Việt Nam trước thềm thế kỷ XXI”. Như lời giới thiệu cuốn sách của GS. Vũ Khiêu: Cuốn
sách này đã thu thập những ý kiến khác nhau xung quanh những vấn đề lớn của người phụ
nữ Việt Nam và đặc biệt là giới thiệu các kết quả thu được qua các cuộc điều tra khoa học.
Cuốn sách tập trung vào những đặc trưng của người phụ nữ Việt Nam trong lịch sử, trong
lao động nghề nghiệp, trong gia đình, trong quản lý xã hội.
Từ sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, có nhiều cuốn sách xuất bản với nội dung
đề cập đến vấn đề phụ nữ với phát triển kinh tế hoặc bàn về phụ nữ với phát triển nông
nghiệp, nông thôn. Để tiện theo dõi, chúng tôi chia theo một số chủ đề như sau:
Phụ nữ và phân công lao động theo giới:
Phân công lao động theo giới trong gia đình nông dân (Lê Ngọc Văn, 1999); Phân
công lao động trong kinh tế hộ gia đình nông thôn - vấn đề giới trong cơ chế thị trường (Vũ
Tuấn Huy, 1997); Phân công lao động nội trợ trong gia đình (Vũ Tuấn Huy và Deborah Carr,
2000).
Phụ nữ với phát triển ngành, nghề:
Tìm hiểu cơ cấu kinh tế và khả năng phát triển ngành nghề của phụ nữ nông thôn (Lê
Ngọc Lân, 1997); Vấn đề ngành, nghề của phụ nữ nông thôn với quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn (Lê Thi, 1999); Phụ nữ nghèo nông thôn trong cơ chế
thị trường (Đỗ Thị Bình và Lê Ngọc Lân, 1996); Vấn đề tạo việc làm, tăng thu nhập, nâng
cao địa vị người phụ nữ hiện nay (Lê Thi, 1991); Lao động nữ di cư từ nông thôn ra thành
phố (Hà Thị Phương Tiến - Hà Ngọc Quang, 2000)
Những công trình trên, tập trung nghiên cứu khá sâu sắc những vấn đề về phụ nữ
nhưng chưa có công trình nào thực sự tập trung vào nghiên cứu về hiệu quả của những chính
sách hỗ trợ cho phụ nữ ở nông thôn phát triển kinh tế.
2. Các khái niệm
2.1. Chính sách xã hội
- Khái niệm:
Từ những định nghĩa và phân tích khái niệm về xã hội và chính sách như trên ta có
thể đi đến cách tiếp cận sau về chính sách xã hội. “Cái xã hội” dùng trong chính sách xã hội
là “cái xã hội” theo nghĩa hẹp. Nó đang được nhiều nhà nghiên cứu thống nhất hiểu như mối
Trang 7
quan hệ của con người, của các cộng đồng người thể hiện trên nhiều mặt của đời sống xã hội
từ chính trị, kinh tế, văn hóa, tư tưởng.
Đứng trên nhiều góc độ khác nhau, nhiều nhà nghiên cứu có sự nhìn nhận khác nhau
về chính sách xã hội, cụ thể như sau:
+ Chính sách xã hội là công cụ quan trọng của Đảng và Nhà nước để thực hiện và
điều chỉnh những vấn đề xã hội đang được đặt ra đối với con người (con người ở đây được
xét theo góc độ con người xã hội, chứ không phải là con người kinh tế, hay con người kỹ
thuật…) để thỏa mãn hoặc phần nào đáp ứng các nhu cầu cuộc sống chính đáng của con
người, phù hợp với các đối tượng khác nhau, trong những trình độ kinh tế, văn hóa, xã hội
của các thời kỳ nhất định, nhằm bảo đảm sự ổn định và phát triển của xã hội…( Phạm Tất
Dong - Chính sách xã hội)
+ “Hiểu theo ý nghĩa khái quát nhất, chính sách xã hội là hệ thống các quan điểm, cơ
chế, giải pháp và biện pháp mà Đảng cầm quyền và Nhà nước đề ra tổ chức thực hiện trong
thực tiễn đời sống nhằm kiểm soát, điều tiết và giải quyết các vấn đề xã hội đặt ra trước xã
hội” (PGS.TS Phạm Hữu Nghị).
+ Chính sách xã hội là loại chính sách được thể chế bằng pháp luật của Nhà Nước
thành một hệ thống quan điểm, chủ trương, phương hướng và biện pháp để giải quyết những
vấn đề xã hội nhất định, trước hết là những vấn đề xã hội liên quan đến công bằng xã hội và
phát triển an sinh xã hội, nhằm góp phần ổn định, phát triển và tiến bộ xã hội. (PGS.TS.Lê
Trung Nguyệt).
+ Chính sách xã hội trước hết là một khoa học, chính sách xã hội phải là thành tựu
của những sự nghiên cứu nghiêm túc của khoa học xã hội, trả lời những câu hỏi của cuộc
sống, ở dạng hoạt động thực tiễn của đặc thù này. Chính sách xã hội cần được xem xét như
một lĩnh vực khoa học đặc thù, bám chắc vào sự vận động của thực tiễn, khoa học nghiên
cứu về chính sách xã hội cần phải mạnh dạn trả lời những câu hỏi đặt ra từ thực trạng kinh tế
xã hội nước ta hiện nay. (GS. Phạm Như Cương).
Từ định nghĩa về chính sách xã hội nêu trên có thể thấy rằng khái niệm chính sách xã
hội bao gồm những yếu tố cơ bản hợp thành sau đây:
• Thứ nhất, chủ thể đặt ra chính sách xã hội: tổ chức chính trị lãnh đạo. Ở nước
ta là Đảng Cộng sản, Nhà nước và các tổ chức hoạt động xã hội.
• Thứ hai, nội dung các chính sách xã hội dựa trên những quan điểm, tư tưởng
chỉ đạo và thể chế nào?
• Thứ ba, các đối tượng của các chính sách xã hội (chung, riêng, đặc biệt).
• Thứ tư, những mục tiêu nhằm đạt tới.
Hay nói cách khác là cần trả lời bốn câu hỏi sau:
• Ai đặt ra chính sách xã hội?
• Đặt chính sách xã hội cho ai?
• Nội dung của các chính sách xã hội là gì?
• Chính sách xã hội nhằm mục đích gì?
Như vậy, có thể coi chính sách xã hội là sự tổng hợp các phương thức, các biện pháp
của Nhà nước, của các đảng phái và những tổ chức chính trị khác, nhằm thoả mãn nhu cầu
vật chất và tinh thần của nhân dân, phù hợp với trình độ phát triển của đất nước về kinh tế,
văn hoá, xã hội … Chính sách xã hội là sự cụ thể hoá và thể chế hoá bằng pháp luật những
chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước.
Trang 8
- Đặc trưng của chính sách xã hội:
Chính sách xã hội bao giờ cũng liên quan trực tiếp đến con người, bao trùm mọi mặt
của cuộc sống con người, lấy con người và các nhóm người làm đối tượng tác động để hoàn
thiện và phát triển con người, hình thành các chuẩn mực xã hội và giá trị xã hội.
Chính sách xã hội mang tính xã hội, nhân văn sâu sắc, bởi mục tiêu cơ bản của nó là
hiệu quả xã hội, góp phần ổn định, phát triển và tiến bộ xã hội, bảo đảm cho mọi người sống
trong nhân ái, bình đẳng và công bằng.
Chính sách xã hội của Nhà nước thể hiện trách nhiệm xã hội cao, tạo điều kiện, cơ hội
như nhau để mọi người phát triển và hòa nhập vào cộng đồng. Sự đầu tư của nhà nước, sự
trợ giúp của cộng đồng không phải là sự bao cấp hay cứu tế xã hội theo kiểu ban ơn, mà là
trách nhiệm của toàn xã hội, là sự đầu tư cho phát triển.
Hiệu quả của chính sách xã hội là ổn định xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo
đảm công bằng xã hội. Để thực hiện chính sách xã hội đạt đúng các mục tiêu, đối tượng và
hiệu quả phải có những điều kiện đảm bảo ở mức cần thiết để chính sách đi vào cuộc sống.
Chính sách xã hội phải được kế hoạch hóa bằng các chương trình, dự án có mục tiêu, hình
thành các quỹ xã hội, phát triển hệ thống sự nghiệp hoặc dịch vụ xã hội, tăng cường lực
lượng cán sự xã hội.
Chính sách xã hội còn có đặt trưng quan trọng là tính kế thừa lịch sử. Ở Việt Nam,
một chính sách xã hội đi vào được lòng người, sát với dân là một chính sách mang bản sắc
dân tộc Việt Nam, kế thừa và phát huy được tryền thống đạo đức, nhân văn sâu sắc của dân
tộc ta. Đặc biệt là lòng yêu nước, cần cù chịu khó, tính cộng đồng cao, đùm bọc lẫn nhau,
uống nước nhớ nguồn…
- Phân loại chính sách xã hội:
Có thể phân chia chính sách xã hội theo những cách khác nhau, về cơ bản có hai loại
như sau:
* Hệ thống các chính sách tác động vào các nhóm xã hội đặt thù :
• Theo tuổi tác: có chính sách xã hội với người già, trẻ em, thanh niên;
• Theo giới tính: có chính sách đối với phụ nữ;
• Theo nghề nghiệp: có chính sách đối với thợ mỏ, giáo viên, công nhân, thợ thủ
công…
• Theo sắc tộc: có chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số, người Việt Nam
định cư ở nước ngoài;
• Theo tôn giáo: có chính sách đối với đồng bào theo đạo Thiên chúa, Tin lành, Phật
giáo, Cao đài, Hòa hảo…
• Theo trình độ học vấn: có chính sách xã hội đối với những người có trình độ học
vấn cao, những tài năng khoa học và những người còn đang ở trình độ học vấn
thấp.
* Hệ thống chính sách xã hội tác động vào quá trình sản xuất và tái sản xuất:
Đây là những công cụ trực tiếp điều chỉnh quan hệ lợi ích giữa người với người, giữa
các nhóm, các tập đoàn xã hội với nhau, bao gồm:
• Chính sách dân số: có tính quốc gia và tính toàn cầu vì mức tăng trưởng dân số,
cơ cấu và phân bố của dân cư có ảnh hưởng đến phát triển kinh tế và mức sống
của nhân dân. Do vậy, chính sách xã hội phải tác động vào cả ba quá trình này. Ví
Trang 9
dụ như chính sách kế hoạch hóa gia đình, chính sách di dân và phát triển vùng
kinh tế mới, chính sách định canh - định cư…
• Chính sách việc làm: liên quan và quyết định đời sống của tất cả dân cư, là một
trong những yếu tố cơ bản tạo ra ổn định hay bất ổn định của xã hội. Thông
thường, nếu tỷ lệ thất nghiệp ở mức 4 - 5% thì được coi là xã hội ổn định; từ 6 -
9% có nguy cơ khủng hoảng; nếu trên 10% thì xã hội đang có nhiều cấp bách cần
phải giải quyết. Ví dụ chính sách cho vay vốn giải quyết việc làm, chính sách dạy
nghề, chính sách đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài…
• Chính sách bảo hộ lao động: nhằm đề phòng và giải quyết bớt hậu quả rủi ro do
tai nạn xãy ra, bao gồm các chính sách bảo đảm an toàn như giảm độc hại, giảm
tiếng ồn, chống nóng, …và các chính sách đối với người lao động bị mắc các
bệnh nghề nghiệp, bị thương tật hay bị chết.
• Chính sách tiền lương: nhằm đảm bảo mức thu nhập hợp lý và bảo đảm nguyên
tắc phân phối theo lao động. Việc quy định mức lương tối thiểu như thế nào để
vừa có thể tái sản xuất sức lao động, vừa bảo đảm cho người lao động sống bằng
nghề nghiệp của mình, đồng thời có sự đãi ngộ thỏa đáng đối với những người có
chuyên môn giỏi, tay nghề cao. Ngoài ra, cần có chính sách hợp lý để điều tiết thu
nhập, không để mức thu nhập chênh lệch quá lớn nếu chỉ dựa vào cơ may nghề
nghiệp hay địa vị xã hội
( Chính sách thuế đối với những người có thu nhập cao).
• Chính sách phúc lợi xã hội: là phần bổ sung quan trọng nhằm nâng cao đời sống
vật chất và tinh thần của người dân, đảm bảo công bằng và bình đẳng xã hội. Các
chính sách này tạo ra những điều kiện chung, thuận lợi cho việc nghĩ nghơi, vui
chơi, giải trí bằng hoạt động văn hóa, thể thao của các tầng lớp nhân dân ( các khu
công viên, các tổ hợp văn hóa thể thao, nhà trẻ, mẫu giáo, các nhà an dưỡng…).
• Chính sách bảo hiểm xã hội: nhằm đảm bảo sự công bằng thu nhập cho người lao
động và gia đình họ trong các trường hợp người lao động bị đau ốm, thai sản, hết
tuổi lao động, bị chết hoặc bị tai nạn lao động, bị bệnh nghề nghiệp, mất việc làm,
gặp rủi ro hoặc các khó khăn khác. Ví dụ bảo hiểm lao động, bảo hiểm nghề
nghiệp; bảo hiểm kinh doanh; bảo hiểm y tế; bảo hiểm tài sản và phương tiện…
• Chính sách ưu đãi xã hội đối với người có công: là truyền thống và đạo lý “ uống
nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam.
• Chính sách cứu trợ xã hội: hướng vào việc trợ giúp những người gặp phải rủi ro,
bất hạnh, thiệt thòi trong cuộc sống, đặc biệt là người già cô đơn, trẻ mồ côi,
người khuyết tật, người bị bệnh tâm thần, người gặp phải thiên tai bất trắc. Mục
đích của chính sách này là giúp họ khôi phục sản xuất, ổn định đời sống, giữ được
mức sinh hoạt tối thiểu cần thiết để vượt qua những khó khăn.
• Chính sách giáo dục: Giáo dục là ngành đặc biệt cung cấp nguồn nhân lực cho sự
phát triển kinh tế xã hội, nhất là trong giai đoạn cách mạng khoa học công nghệ
hiện nay. Vì vậy, chính sách xã hội không thể không ưu tiên cho giáo dục. Chính
sách đầu tư phát triển giáo dục (xây dựng trường sở, phòng nghiên cứu, thí
nghiệm…); chính sách tiền lương cho giáo viên, cấp học bổng cho sinh viên, học
sinh tài năng, trợ giúp học sinh nghèo vượt khó, chính sách giáo dục miền núi,…
2.2. Phát triển cộng đồng
Trang 10
- Định nghĩa:
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về phát triển cộng đồng ( PTCĐ )
Theo quan điểm của Liên hợp quốc năm 1956: “Những tiến trình qua đó nỗ lực của
dân chúng kết hợp với nỗ lực của chính quyền để cải thiện các điều kiện kinh tế, xã hội, văn
hóa của các cộng đồng và giúp các cộng đồng này hội nhập vào đời sống quốc gia gọi là
PTCĐ ”.
Còn theo Murray và Ross đã đưa ra định nghĩa PTCĐ như sau:“Tổ chức cộng đồng
(TCCĐ) là một tiến trình qua đó một cộng đồng nhận rõ nhu cầu, mục tiêu của mình, sắp xếp
các nhu cầu và mục tiêu này, phát huy sự tự tin và ý muốn thực hiện chúng, tìm đến tài
nguyên (bên trong hoặc bên ngoài) để giải quyết nhu cầu hay mục tiêu ấy.Thông qua đó sẽ
phát huy thái độ và kỹ năng hợp tác với nhau trong cộng đồng ”
Một định nghĩa gần đây phản ánh xu hướng mới nhất của PTCĐ là :
“ Phát triển cộng đồng là một tiến trình giải quyết vấn đề qua đó cộng đồng được tăng
sức mạnh bởi các kiến thức và kỹ năng phát hiện nhu cầu và vấn đề, ưu tiên hóa chúng, huy
động tài nguyên để giải quyết chúng. PTCĐ không phải là một cứu cánh mà là một kỹ thuật,
nó nhằm vào tăng sức mạnh cho các CĐ để tự quyết định về sự phát triển của mình và sự
định hình của tương lai mình. Mục đích cuối cùng của PTCĐ là sự tham gia chủ động với tư
cách tập thể của người dân vào sự phát triển ”.
Qua các khái niệm ta có thể thấy rằng về cơ bản mục đích của PTCĐ là :
- Củng cố các thiết chế tạo điều kiện cho chuyển biến xã hội và sự tăng trưởng.
- Bảo đảm sự tham gia tối đa của người dân vào tiến trình của sự phát triển.
- Đẩy mạnh công bằng xã hội bằng cách tạo điều kiện cho các nhóm thiệt thòi nhất
được nêu lên nguyện vọng của mình và tham gia vào các hoạt động phát triển.
- Tiến trình phát triển cộng đồng:
Mục tiêu cuối cùng của PTCĐ là giúp cho cộng đồng đi từ thực trạng yếu kém để
phát triển, đóng góp vào sự phát triển của xã hội. Để đạt được mục tiêu đó PTCĐ phải có
một tiến trình với từng bước đi cụ thể.
Sơ đồ thể hiện Tiến trình PTCĐ :
CĐ yếu kém CĐ thức
tỉnh
CĐ tăng
năng lực
Chương trình
hành động chung có
lượng giá
CĐ tự lực
Tự tìm
hiểu và
phân
tích
Huấn
luyện
Phát
huy
tiềm
năng
Hình
thành
các
nhóm
liên kết
Tăng
cường
động
lực
Trang 11
+ Bước 1: Thức tỉnh cộng đồng
Trước tiên cộng đồng cần được giúp đỡ để tự tìm hiểu và phân tích nhằm biết rõ
những vấn đề của cộng đồng, những nguyên nhân và hậu quả do các vấn đề gây ra. Bên cạnh
đó người dân cũng tự nhận ra những tài nguyên, tiềm năng, khó khăn, thuận lợi từ cộng đồng
để có cơ sở giải quyết vấn đề. Điều quan trọng là cộng đồng cần nhận ra sự hợp tác của
chính mình là yếu tố quyết định trong việc thay đổi tình trạng yếu kém hiện tại.
+ Bước 2: Tăng năng lực cộng đồng
Cộng đồng nhận ra những gì mình có mà chưa sử dụng như đất đai, cơ sở vật chất,
nhân tài, kinh nghiệm, … và những nguồn hỗ trợ từ bên ngoài như kiến thức kỹ thuật,
chuyên môn, nguồn vốn vay, … Để sử dụng và quản lý những nguồn lực này cộng đồng cần
được hỗ trợ tăng khả năng, kiến thức để cùng hành động bằng các hình thức học tập, huấn
luyện…
+ Bước 3 : Cộng đồng tự lực
Mục đích cuối cùng của PTCĐ là thông qua các tác động từ bên ngoài, với nội lực
được phát huy và tăng cường, cộng đồng sẽ trở thành cộng đồng tự lực. Cộng đồng tự lực
không có nghĩa là mọi khó khăn, khủng hoảng không còn nữa mà mỗi lần gặp khó khăn cộng
đồng có thể tự huy động tài nguyên bên trong và bên ngoài để giải quyết vấn đề. Qua mỗi
lần như vậy cộng đồng sẽ tăng trưởng, tự lực hơn.
Trong thực tiễn PTCĐ, tiến trình này không phải lúc nào cũng cứng nhắc trong cách
áp dụng, mà điều quan trọng là tác viên PTCĐ phải thực sự vì cộng đồng, vì sự phát triển,
linh hoạt nhưng cũng phải đảm bảo được các nguyên tắc cơ bản, các bước đi cơ bản của quá
trình đó.
- Nguyên tắc trong phát triển cộng đồng:
Trong PTCĐ cần đảm bảo 10 nguyên tắc cơ bản sau:
• Bắt đầu từ nhu cầu, tài nguyên và khả năng của người dân.
• Tin tưởng vào dân, vào khả năng thay đổi và phát triển của họ.
• Đáp ứng nhu cầu và mối quan tâm bức xúc hiện tại của họ.
• Khuyến khích người dân cùng thảo luận, lấy quyết định chung, hành động
chung để họ đồng hóa mình với những chương trình hành động đó.
• Bắt đầu từ những hành động nhỏ để dẫn đến những thành công nhỏ.
• Vận động thành lập nhóm nhỏ để thực hiện dự án, không chỉ để giải quyết
được một vấn đề cụ thể, mà còn để củng cố, làm vững mạng tổ chức tự nguyện
của người dân.
• Khi tổ chức cần cung cấp nhiều cơ hội để người dân tương trợ lẫn nhau và
phát sinh các hoạt động chung, qua đó các thành viên vừa đạt được cảm xúc tự
hoàn thành nhiệm vụ vừa góp phần cải thiện an sinh cho nhóm, cả hai điều này
đều quan trọng như nhau.
Trang 12
• Quy trình : “Hành động - Suy ngẫm rút kinh nghiệm - Hành động mới” cần áp
dụng để tiến đến những chương trình hành động chung lớn hơn, trình độ quản
lý cao hơn.
• Nếu điều hành có hiệu quả, giải quyết mâu thuẫn theo nhóm là dịp để tổ chức
nhóm trưởng thành.
• Thiết lập mối liên kết với các tổ chức khác để có thêm hỗ trợ và hợp tác với
nhau.
2.3. Một số khái niệm liên quan
- Khái niệm phát triển kinh tế nông thôn:
Phát triển kinh tế nông thôn là một quá trình tất yếu cải thiện một cách bền vững về
kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư nông
thôn. Quá trình này, trước hết chính là sự nổ lực người dân nông thôn với sự hỗ trợ của nhà
nước và các tổ chức xã hội khác.
- Khái niệm phát triển kinh tế hộ gia đình: Phát triển kinh tế hộ gia đình là việc hộ
gia đình áp dụng các kỹ thuật tiến bộ và học tập mô hình sản xuất giỏi hợp với khả năng lao
động và điều kiện đất đai hiện có của gia đình để sản xuất kinh doanh, tăng thu nhập, cải
thiện đời sống vật chất, tinh thần, vươn lên thoát nghèo góp phần xây dựng quê hương đất
nước giàu đẹp.
3. Lý thuyết ứng dụng (Thuyết vai trò)
Thuyết vai trò được ra đời với sự đóng góp lớn của khoa học xã hội học và tâm lí học
( Trean, 1971; Davis, 1986). Thuyết vai trò được đánh giá là phương pháp tiếp cận hiệu quả
đối với việc hiểu biết về con người và xã hội, vì vậy, người ta đề cập tới nhiều khái niệm liên
quan. Đó là những khái niệm:
Mơ hồ trong vai trò: là hoàn cảnh một cá nhân gặp phải khó khăn khi quyết định vai
trò nào nên làm.
Xung đột vai trò: xảy ra khi một cá nhân đối phó với sự căng thẳng vì cá nhân đó
chưa đủ khả năng để thực hiện hoặc đáp ứng các đòi hỏi của vai trò đó.
Sợ hãi vai trò: nói đến những khó khăn có thể nhận thấy trong việc hoàn thành bổn
phận của vai trò, khi mà sự căng thẳng được cảm nhận giữa hai vai trò cạnh tranh nhau, sự
căng thẳng trong sợ hãi vai trò thường chỉ xuất hiện từ một vai trò.
Thuyết này cho rằng vì mỗi cá nhân thường chiếm giữ các vị trí nào đó trong xã hội
và tương ứng với các vị trí đó là các vai trò. Vai trò bao gồm một chuỗi các chuẩn mực như
là một bản kế hoạch để chỉ đạo hành vi. Những vai trò chỉ ra cụ thể cách thức nhằm đạt được
mục tiêu và hoàn thành nhiệm vụ, đồng thời cũng chỉ ra những nội dung hoạt động cần thiết
đòi hỏi phải có trong một bối cảnh hoặc tình huống có sẵn. Thuyết cũng cho rằng, một phần
các hành vi xã hội hàng ngày quan sát được chỉ đơn giản là các việc mà con người phải thực
hiện trong vai trò của họ.
Ngoài ra, thuyết cũng khẳng định, hành vi con người chịu sự chỉ đạo của những mong
muốn của cá nhân họ hoặc từ mong muốn của những người khác. Những mong muốn cho
mỗi vai trò thì khác nhau nhưng phù hợp với vai trò mà cá nhân thực hiện hoặc trình diễn
trong cuộc sống hàng ngày của họ. Đồng thời, thuyết còn đề cập, với cùng một hành vi, có
thể chấp nhận ở vai trò này nhưng lại không được chấp nhận ở vai trò kia.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi sử dụng thuyết này nhằm chỉ ra rằng
mỗi phụ nữ trong nhóm đều có các vị trí khác nhau với các vai trò tương ứng. Nếu đánh giá
Trang 13
đúng khả năng và tạo điều kiện phù hợp để họ phát huy hết khả năng với đúng vai trò của họ
thì kết quả công việc của họ mang lại rất cao.
4. Vai trò của lao động nữ trong phát triển kinh tế nông thôn ở Việt Nam
Việt Nam là một nước nông nghiệp với 76,5% dân số sống ở nông thôn. Vì vậy, trong
quá trình phát triển đất nước thì phát triển nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ rất quan
trọng. Để có thể thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đó, bên cạnh các chủ trương, chính sách xã hội
phù hợp, cần có những nguồn lực hỗ trợ cho quá trình thực hiện công nghiệp hoá nông
nghiệp, nông thôn như tài chính, kỹ thuật - công nghệ Đặc biệt phải kể đến một nguồn lực
quan trọng, đó là nguồn nhân lực, chủ thể của quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp, nông
thôn. Nói đến chủ thể của quá trình này, không thể không nhấn mạnh đến nguồn nhân lực nữ
ở nông thôn.
Phụ nữ nông thôn có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển nông nghiệp,
nông thôn trong quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa đất nước. Là một lực lượng chủ yếu
trong nông nghiệp và chiếm đông đảo trong nguồn nhân lực của đất nước, nhưng phụ nữ
nông thôn còn gặp nhiều khó khăn so với nam giới nông thôn và phụ nữ đô thị. Theo số liệu
từ Tổng điều tra dân số năm 2009, phụ nữ chiếm 50,5% số người hoạt động trong lĩnh vực
nông nghiệp (năm 1989 tỷ lệ này là 60%). Trong tổng lực lượng lao động nữ, có 68% là hoạt
động trong nông nghiệp, tỷ lệ này đối với nam giới là 58%. Vai trò của phụ nữ trong sản
xuất nông nghiệp càng trở nên quan trọng hơn trong quá trình chuyển đổi kinh tế, với sự
tham gia của lao động nữ vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp ngày càng tăng trong khi lao
động nam giảm dần. Thời kỳ 1993 - 1998, số nam giới tham gia hoạt động nông nghiệp mỗi
năm giảm 0,9%. Trong giai đoạn hiện nay, 92% số người mới gia nhập lĩnh vực nông nghiệp
là phụ nữ, vì nam giới chuyển sang các hoạt động phi nông nghiệp. Hiện tượng thay đổi này
dẫn đến xu hướng là nữ giới tham gia nhiều hơn trong hoạt động nông nghiệp. Họ đóng góp
công sức trong việc thực hiện các hoạt động kinh tế tạo ra thu nhập của gia đình, ổn định
cuộc sống và góp phần vào sự phát triển của xã hội.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG VIỆC LÀM CỦA PHỤ NỮ XÃ XUÂN BÌNH
1. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
Xuân Bình là xã nằm ở phía Bắc của thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên. Phía Bắc giáp xã
Xuân Lộc và đầm Cù Mông, Phía Nam giáp xã Xuân Cảnh, Phía Tây giáp xã Xuân Phương
và thị xã Sông Cầu, Phía Đông giáp xã Xuân Hoà, xã Xuân Cảnh và Đầm Cù Mông. Tổng
diện tích tự nhiên là 5105 ha, trong đó: đất sản xuất nông nghiệp: 3.222,47 ha, đất sản xuất
làm muối: 135,9 ha, đất phi nông nghiệp: 389,53 ha, đất chưa sử dụng: 1353,4 ha. Có tuyến
Quốc lộ 1A chạy dọc qua với chiều dài khoảng 6km và một đường liên xã đã được nâng cấp
trải mặt nhựa nên tương đối thuận lợi cho việc đi lại cho bà con nhân dân, ngoài ra mạng
lưới giao thông dần được nâng cấp với khoảng 6km bêtông giao thông nông thôn đã được
xây dựng với chương trình nhà nước và nhân dân cùng làm, đây cũng là điều kiện thuận lợi
để phục vụ nhu cầu đi lại và lưu thông hàng hoá giữa các xã và huyện.
Địa hình xã Xuân Bình tương đối phức tạp, phía Tây Nam là núi. Độ dốc trung bình
khoảng 4
o
và thấp dần từ Tây sang Đông với kiểu địa hình tương đối bằng phẳng, phía Đông
là đầm Cù Mông. Độ cao trung bình 50m; có khí hậu nhiệt đới gió mùa, hai mùa rõ rệt trong
Trang 14
năm, mùa khô từ tháng 01 đến tháng 8, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12, lượng mưa thường
tập trung vào mùa mưa (chiếm khoảng 76% tổng lượng mưa trong năm).
Toàn xã được chia thành 5 thôn với 2112 hộ dân và 9187 nhân khẩu, trong đó nam là
4128 nhân khẩu, nữ là 5059 nhân khẩu. UBND xã nằm ở thôn Bình Thạnh. Tổng số lao
động trên địa bàn có 4133 lao động (LĐ), trong đó nam có 2216 LĐ; nữ có 1917LĐ. Trong
đó có hơn 2/3 sống bằng nghề nông nghiệp, 1/3 còn lại hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp
– dịch vụ và một số lĩnh vực khác.
Công tác giáo dục – đào tạo nhằm nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực luôn được
chú trọng, việc phổ cập giáo dục đúng độ tuổi được quan tâm, trường lớp được đầu tư tu bổ
khang trang và đảm bảo cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy và học của nhà trường. Công tác
chăm sóc sức khỏe cho nhân dân được đảm bảo, nhất là công tác phòng bệnh, phòng dịch
được thực hiện tốt.
Công tác tuyên truyền thông tin, văn hóa, thể thao được đầu tư đúng mức. Đời sống
tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo được tôn
trọng và giám sát chặt chẽ.
An ninh, chính trị của xã cơ bản được ổn định, các ban ngành đoàn thể hoạt động
tương đối vững vàng, tệ nạn xã hội bị đẩy lùi, công tác quốc phòng luôn được giữ vững.
Kết cấu hạ tầng và các công trình phúc lợi trong xã từng bước được chỉnh trang, xây
dựng mới đáp ứng nhu cầu của nhân dân. Toàn xã có 1 trường Trung học phổ thông đang xây
dựng, 1 trường Trung học cơ sở, 3 trường Tiểu học, một số cơ sở giáo dục mẫu giáo và mầm
non; có một trạm y tế và phòng khám khu vực phía bắc thị xã Sông Cầu, đường giao thông
từng bước được bêtông hóa, …
2. Một số kết quả kinh tế – xã hội xã Xuân Bình đạt được trong thời gian qua
2.1. Về lĩnh vực kinh tế
* Sản xuất nông – lâm - ngư nghiệp:
- Nông nghiệp:
Năm 2006, hồ chứa nước Xuân Bình hoàn thành đưa vào sử dụng diện tích lúa tăng
vụ 3 chiếm khoảng 70 ha, do đó đã nâng sản lượng lúa bình quân lên 30 - 45 tạ/ha. Hiện nay
đã được nhân rộng giống lúa mới, có năng suất cao để sản xuất. Mặc khác một số diện tích
năng suất thấp chuyển sang trồng cây ăn quả và các loại cây khác; vận động nhân dân
chuyển 1,5 ha sang trồng rau các loại đã đem lại hiệu quả tăng gấp 2 lần so với sản xuất lúa.
Bên cạnh đó, việc tiến hành sản xuất xen canh trên một số diện tích lúa 1 vụ trồng các loại:
đậu xanh, đậu phộng, mè…đem lại hiệu quả cho người nông dân góp phần tăng thu nhập.
Trong 5 năm, đã trồng được 75,22 ha đào (điều) cao sản với 65 hộ tham gia, bên cạnh
đó vận động nhân dân chăm sóc vườn đào cao sản có tại địa phương. Đồng thời chăm sóc và
bảo vệ phòng trừ dich bệnh bọ cánh cứng diện tích dừa hiện có, đến nay đã giảm, dừa đang
dần hồi phục và phát triển cho quả đạt 50% tổng lượng quả hàng năm.
- Lâm nghiệp:
Đến năm 2010, toàn xã có 1001 hộ tham gia trồng rừng phát triển nhất là khu vực
phía tây của xã với diện tích trồng rừng là 2200ha.
- Chăn nuôi:
Hiện nay, đàn heo toàn xã có 4000 con, 100% heo hướng nạc, đàn bò có 1400 con, bò
lai sind có 250 con chiếm tỷ lệ 19,26%, đàn gia cầm trên địa bàn xã phát triển ổn định không
có dịch cúm xảy ra.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét