Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014
tư duy mới của Đảng về kinh tế thị trường trong 20 năm đổi mới ở nước ta
5
về cách thức và giải pháp phát triển đối với những nước vốn xuất phát từ nông
nghiệp, có quan hệ xã hội theo kiểu giá trị văn hóa phương Đông. Đó là những
thành công của chiến lược phát triển: phát huy sức mạnh nội lực, thị trường –
mở cửa, hướng vào xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài.
Sự thất bại của công cuộc cải tổ dẫn đến sự sụp đổ của chế độ chủ nghĩa xã
hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu là một bài học đắt giá. Đó là kết quả của
con đường cải tổ theo kiểu “phủ định sạch trơn”, sử dụng “liệu pháp sốc”, giải
quyết không đúng mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong quá trình cải tổ.
Công cuộc cải cách kinh tế của Trung Quốc – một nước xã hội chủ nghĩa
láng giềng với những đặc điểm tương đồng về kinh tế - xã hội với Việt Nam –
theo định hướng thị trường - mở cửa bắt đầu diễn ra từ năm 1978 đã đạt được
những thành tựu nổi bật. Đó chính là nhưng kinh nghiệm quý báu trong quá
trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Như vậy, bối cảnh thế giới vào những năm 70 – 80 của thế kỷ XX có những
ảnh hưởng to lớn đến công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Để đáp
ứng được yêu cầu phát triển và phù hợp với xu hướng thời đại, chúng ta buộc
phải đổi mới về tư duy, tận dụng những cơ hội do thời đại mang lại nhưng đồng
thời, những bài học quan trọng trong sự thành công và thất bại trong công cuộc
xây dựng chủ nghĩa xã hội của các nước xã hội chủ nghĩa là những kinh nghiệm
quý báu cho việc hoạch định đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam.
2.Bối cảnh trong nước .
Nếu như trước đây nền kinh tế kế hoạch hóa trong thời gian đầu thực
hiện đã tỏ ra phù hợp tạo bước chuyển biến quan trọng về mặt kinh tế - xã
hội, đồng thời nó thích hợp với nền kinh tế thời chiến và đóng vai trò
quan trọng trong việc tạo ra chiến thắng của cả dân tộc. Nó cho phép
Đảng và Nhà nước huy động ở mức cao nhất sức người sức của cho tiền
6
tuyến thì hiện nay việc duy trì quá lâu cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan
liêu bao cấp đã trở thành nguyên nhân đẩy nền kinh tế lâm vào tình trạng
khủng hoảng trầm trọng kéo dài.
Trong một nền kinh tế tồn tại ba loại hình kinh tế tự cấp tự túc, nền
kinh tế kế hoạch hóa tập trung và kinh tế hàng hóa. Chúng ta có thể khái
quát mô hình kinh tế nước ta trước năm 1979 là “công hữu, kế hoạch hóa,
phi thị trường”, nhà nước trở thành cơ quan quyền lực kinh tế trực tiếp
mọi khâu, mọi lĩnh vực của nền kinh tế, từ sản xuất vật chất đến lưu
thông, phân phối sản phẩm. Trong quan hệ với các đơn vị kinh tế cơ sở thì
nhà nước chịu trách nhiệm cấp phát vật tư, các đơn vị kinh tế chịu trách
nhiệm sản xuất và giao nộp sản phẩm theo chỉ tiêu giá trị hiện vật mang
tính pháp lệnh. Trong lĩnh vực thương nghiệp, nhà nước tổ chức thu mua,
tập trung nguồn hàng và thực hiện phân phối sản phẩm thông qua hệ
thống mậu dịch quốc doanh và hợp tác xã mua bán. Nền kinh tế vận hành
theo kế hoạch pháp lệnh mang tính hành chính nên nhiều quy luật kinh tế
khách quan bị lãng quên.
Cộng thêm xuất phát điểm của nền kinh tế thấp kém lại bị chiến tranh tàn
phá nặng nề, cùng với những vấp váp và sai lầm trong chính sách kinh tế nên
đến năm 1985, kinh tế nước ta đã rơi vào khủng hoảng và vòng xoáy của lạm
phát, thể hiện trên những mặt chủ yếu sau:
Kinh tế tăng trưởng thấp: Từ năm 1976 đến năm 1985, tổng sản phẩm xã hội
tăng 50%, tức là bình quân mỗi năm trong giai đọan 1976-1985 chỉ tăng 4,6%.
Đã thế, sản xuất kinh doanh lại kém hiệu quả nên chi phí sản xuất cao và không
ngừng tăng lên. Năm 1980, chi phí vật chất chiếm 41,95% tổng sản phẩm xã hội,
năm 1985 tăng lên chiếm 44,1%. Do vậy, thu nhập quốc dân qua hai kế họach 5
năm tăng 38,85%, bình quân mỗi năm tăng 3,7%.
7
Làm không đủ ăn và dựa vào nguồn bên ngoài ngày càng lớn: Năm 1985, dân
số cả nước gần 59,9 triệu người, tăng 25,7% so với năm 1975. Như vậy, trong
10 năm, bình quân mỗi năm dân số tăng 2,3%. Để đảm bảo đủ việc làm và thu
nhập của dân cư không giảm thì ít nhất nền kinh tế phải tăng 7% mỗi năm.
Nhưng thực tế nền kinh tế không đạt được mức tăng đó nên sản xuất trong nước
luôn luôn không đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tối thiểu. Thu nhập quốc dân chỉ
bằng 80-90% nhu cầu sử dụng. Tích lũy nhỏ bé nhưng toàn bộ quỹ tích lũy và
một phần quỹ tiêu dùng phải dựa vào nguồn nước ngoài. Trong những năm
1981-1985, thu vay nợ và viện trợ nước ngoài bằng ngân sách và bằng 28,9%
tổng số thu trong nước. Nếu so với tổng số chi ngân sách thì bằng 18,6%. Đến
năm 1985, nợ nước ngoài đã lên tới 8,5 tỷ rúp và 1,9 tỷ USD. Tuy nguồn thu từ
nước ngoài lớn như vậy nhưng ngân sách vẫn trong tình trạng thâm hụt và phải
bù đắp bằng phát hành trái phiếu. Bội chi ngân sách năm 1980 là 18,1% và năm
1985 là 36,6%.
Trị giá xuất khẩu hàng năm có tăng lên nhưng vẫn còn thấp so với giá trị
nhập khẩu. Trị giá xuất khẩu chỉ bằng 20-40% nhập khẩu: Năm 1976 bằng
21,7%, năm 1981 bằng 19%, năm 1985 bằng 37,5%. Hầu hết các loại hàng hóa
thiết yếu phục vụ cho sản xuất và đời sống đều phải nhập khẩu toàn bộ hay một
phần do sản xuất không đảm bảo được tiêu dùng. Kể cả những mặt hàng trong
nước có thế mạnh như sản xuất gạo, vải. Quan hệ kinh tế quốc tế hầu như chỉ
gói gọn với các nước xã hội chủ nghĩa. Sau mười năm thống nhất, việc xây dựng
và phát triển kinh tế cơ bản trong bối cảnh hòa bình mà cái gì cũng thiếu nên cái
gì cũng quý.
Siêu lạm phát hoành hành và giá cả tăng theo cấp số nhân: Từ năm 1976,
tình trạng lạm phát ngày càng trầm trọng vượt ra khỏi tầm kiểm soát của Nhà
nước ta. Năm 1985, cuộc cải cách giá - lương - tiền theo giải pháp sốc đã thất
8
bại làm cho cơn sốt lạm phát tăng nhanh, hoành hành trên mọi lĩnh vực của đời
sống kinh tế - xã hội. Giá cả leo thang từng ngày đã vô hiệu hóa tác dụng đổi
tiền chỉ mới tiến hành vài tháng trước đó, làm rối loạn điều hành kinh tế vĩ mô.
Giá cả không chỉ tăng trên thị trường tự do mà còn tăng rất nhanh trong thị
trường có tổ chức. Về cơ bản, giá cả đã tuột khỏi tầm tay bao cấp của Nhà nước.
Siêu lạm phát đạt đỉnh cao vào năm 1986, với tốc độ tăng giá cả năm lên tới
774,4%.
Như vậy, những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ XX, nền kinh tế của nước
ta đã lâm vào khủng hoảng mà đỉnh cao là năm 1986.Trước tình hình đó yêu cầu
đổi mới nền kinh tế là yêu cầu sống còn, là vận mệnh của đất nước.
II.Sự hình thành tư duy của Đảng về kinh tế thị trường thời kì đổi mới:
1.Tư duy của Đảng về Kinh tế thị trường từ Đại hội VI đến Đại hội VIII:
Đây là giai đoạn hình thành và phát triển tư duy của Đảng về kinh tế thị
trường. So với thời kì trước đổi mới, nhận thức về kinh tế thị trường có sự thay
đổi căn bản và sâu sắc.
Kinh tế thị trường không phải là cái riêng của chủ nghĩa tư bản mà là thành
tựu phát triển chung của nhân loại. Lịch sử phát triển nền sản xuất xã hội cho
thấy sản xuất và trao đổi hàng hoá là tiền đề quan trọng cho sự ra đời và phát
triển của kinh tế thị trường. Kinh tế thị trường đã có mầm mống từ trong xã hội
nô lệ, hình thành trong xã hội phong kiến và phát triển cao trong chủ nghĩa Tư
bản. Chủ nghĩa Tư bản không sản sinh ra kinh tế hàng hoá. Do đó, kinh tế thị
trường với tư cách là kinh tế hàng hoá ở trình độ cao không phải là sản phẩm
riêng của chủ nghĩa Tư bản mà là thành tựu phát triển chung của nhân loại. Kinh
tế thị trường lấy khoa học, công nghệ hiện đại làm cơ sở và nền sản xuất hoá
cao.
9
Kinh tế thị trường còn tồn tại khách quan trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa
Xã hội. Kinh tế thị trường xét dưới góc độ “một kiểu tổ chức kinh tế” là phương
thức tổ chức, vận hành nền kinh tế, là phương tiện điều tiết nền kinh tế lấy cơ
chế thị trường làm cơ sở để phân bổ các nguồn nhân lực kinh tế và điều tiết mối
quan hệ giữa người với người. Kinh tế thị trường chỉ đối lập với kinh tế tự
nhiên, tự cấp, tự túc chứ không đối lập với các chế độ xã hội. Bản thân kinh tế
thị trường không phải là đặc trưng bản chất cho chế độ kinh tế cơ bản của xã
hội. Kinh tế thị trường tồn tại và phát triển ở nhiều phương thức sản xuất khác
nhau. Kinh tế thị trường vừa có thể liên hệ với chế độ công hữu và phục vụ cho
chúng.
Có thể và cần thiết sử dụng kinh tế thị trường để xây dựng chủ nghĩa xã hội
ở nước ta. Các chủ thể kinh tế có tính độc lập, có quyền tự chủ sản xuất, kinh
doanh, lỗ, lãi tự chịu. Giá cả cơ bản do cung cầu điều tiết, hệ thống thị trường
phát triển đồng bộ và hoàn hảo. Nền kinh tế có tính mở cao và vận hành theo qui
luật vốn có của kinh tế thị trường: qui luật giá trị, cung cầu, cạnh tranh, qui luật
lưu thông tiền thị trường…… Có hệ thống pháp quy kiện toàn và sự quản lý vĩ
mô của Nhà nước.
2.Tư duy của Đảng về kinh tế thị trường từ Đại hội IX đến Đại hội X:
Đảng xác định: Nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa là
mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã
hội. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là “Một kiểu tổ chức kinh tế
vừa tuân theo qui luật của kinh tế thị trường vừa dựa trên cơ sở và chịu sự dẫn
dắt chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất cùa chủ nghĩa xã hội”. Nội dung cơ
bản của định hướng Xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường ở nước
ta thể hiện ở 4 tiêu chí:
10
Về mục đích phát triển: mục tiêu kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở nước ta nhằm thực hiện “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh” giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất và không ngừng nâng
cao đời sống nhân dân, đẩy mạnh xoá đói, giảm nghèo, khuyến khích mọi người
vươn lên làm giàu chính đáng, giúp đỡ người khác thoát nghèo và từng bước khá
giả hơn.
Về phương hướng phát triển: phát triển nền kinh tế với nhiều hình thức sở
hữu, nhiều thành phần kinh tế nhằm giải phóng mọi tiềm năng trong mọi thành
phần kinh tế, trong mọi cá nhân và mọi vùng miền phát huy tối đa nội lực để
phát triển nhanh nền kinh tế. Trong nền kinh tế nhiều thành phần, kinh tế nhà
nước giữ vai trò chủ đạo, là công cụ chủ yếu để nhà nước điều tiết nền kinh tế,
định hướng cho sự phát triển vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh”.
Về định hướng xã hội và phân phối: thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội
ngay trong từng bước phát triển và chính sách phát triển, tăng trưởng kinh tế gắn
kết chặt chẽ và đồng bộ với phát triển xã hội, văn hoá, giáo dục và đào tạo, giải
quyết vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người. Hạn chế tác động tiêu cực
của kinh tế thị trường.
Trong lĩnh vực phân phối, định hướng xã hội chủ nghĩa được thể hiện qua
chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế phúc lợi xã
hội. Đồng thời để huy động mọi nguồn lực kinh tế cho sự phát triển chúng ta còn
thực hiện phân phối theo mức đóng góp và các nguồn lực khác.
Về quản lý: phát huy vai trò làm chủ xã hội của nhân dân. Bảo đảm vai trò
quản lý, điều tiết nền kinh tế của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự
lãnh đạo của Đảng. Tiêu chí này thể hiện sự khác biệt cơ bản giữa kinh tế thị
11
trường tư bản chủ nghĩa với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của thị trường, bảo đảm quyền
lợi chính đáng của mọi người.
III.Những thay đổi về tư duy của Đảng ta .
Trước đổi mới, chúng ta coi kinh tế xã hội chủ nghĩa và kinh tế tư bản chủ
nghĩa (hay kinh tế thị trường) là hai phương thức kinh tế khác nhau về bản chất
và đối lập với nhau cả về chế độ sở hữu, chế độ quản lý, chế độ phân phối và
mục đích phát triển. Kinh tế xã hội chủ nghĩa vận động theo các quy luật của
chủ nghĩa xã hội, còn kinh tế tư bản chủ nghĩa thì vận động theo các quy luật
của chủ nghĩa tư bản (tất nhiên trong khi nói đến kinh tế kế hoạch chúng ta cũng
đã từng nói đến hạch toán và kinh doanh xã hội chủ nghĩa, vận dụng quan hệ
hàng hóa - tiền tệ, coi lợi ích vật chất và khuyến khích vật chất là một động lực
của sự phát triển).
Sau đổi mới, tư duy của chúng ta về kinh tế có nhiều sự phát triển so với
trước. Nhìn khái quát đã có những sự thay đổi lớn như sau:
Từ quan niệm chủ nghĩa xã hội chỉ có một chế độ sở hữu duy nhất là chế độ
công hữu về tất cả các tư liệu sản xuất (bao gồm sở hữu toàn dân và sở hữu tập
thể) đã đi đến quan niệm nền kinh tế của ta hiện nay và sau này có ba chế độ sở
hữu cơ bản là toàn dân, tập thể, tư nhân, trên cơ sở đó, hình thành nhiều hình
thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế khác nhau như kinh tế nhà nước, kinh tế
tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà
nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Từ quan niệm cho rằng để xây dựng được quan hệ sản xuất xã hội chủ
nghĩa phải nhanh chóng hoàn thành việc cải tạo kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế
12
cá thể tiểu chủ là những thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, đã đến quan
niệm rằng trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, phải ưu tiên phát triển lực lượng sản
xuất, còn cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản xuất mới nhất thiết
phải phù hợp với từng bước phát triển của lực lượng sản xuất.
Từ quan niệm hai thành phần kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, với
việc xóa bỏ nhanh chóng các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, ngay từ
đầu đã là nền tảng của nền kinh tế quốc dân, đã đi đến quan niệm rằng muốn cho
hai thành phần kinh tế ấy ngày càng trở thành nền tảng vững chắc thì phải trải
qua một quá trình dài xây dựng, đổi mới và phát triển với những bước thích hợp;
trong khi đó, vẫn khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế tư nhân, coi
như thành phần này là động lực quan trọng của phát triển kinh tế và phát triển
lực lượng sản xuất.
Từ quan niệm nhà nước phải chỉ huy toàn bộ nền kinh tế theo một kế hoạch
tập trung, thống nhất với những chỉ tiêu có tính pháp lệnh áp đặt từ trên xuống,
đã đi đến phân biệt rõ chức năng quản lý nhà nước về kinh tế với chức năng
quản lý kinh doanh; chức năng quản lý nhà nước về kinh tế và chủ sở hữu tài sản
công là thuộc nhà nước, còn chức năng quản lý kinh doanh thì thuộc về doanh
nghiệp. Từ chỗ tuyệt đối hóa vai trò của kế hoạch, phủ nhận vai trò của thị
trường đã đi đến thừa nhận thị trường vừa là căn cứ, vừa là đối tượng của kế
hoạch; kế hoạch chủ yếu mang tính định hướng và đặc biệt trên bình diện vĩ mô,
còn thị trường giữ vai trò trực tiếp hướng dẫn các đơn vị kinh tế lựa chọn lĩnh
vực hoạt động và phương án tổ chức sản xuất, kinh doanh.
Từ chỗ chỉ thừa nhận một hình thức phân phối duy nhất chính đáng là phân
phối theo lao động đã đi đều quan niệm thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy
phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu, đồng thời phân
13
phối dựa trên mức đóng góp các nguồn lực khác vào sản xuất kinh doanh và
phân phối thông qua phúc lợi xã hội. Công bằng xã hội thể hiện không phải ở
chủ nghĩa bình quân trong kinh tế mà là ở chỗ phân phối hợp lý tư liệu sản xuất
và kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người đến có cơ hội phát triển
và sử dụng tốt năng lực của mình. Không ngăn cấm mọi sự làm giàu mà trái lại
khuyến khích mọi người làm giàu chính đáng theo đúng pháp luật, đồng thời
thực hiện xóa đói giảm nghèo, hạn chế phân cực quá đáng hai đầu.
Xét về thời gian, dưới góc độ kinh tế thị trường, tư duy của chúng ta
cũng được đổi mới qua nhiều bước.
Bước I: Thừa nhận cơ chế thị trường nhưng không coi nền kinh tế của ta là
kinh tế thị trường.
Nói cơ chế thị trường là chỉ nói về mặt cơ chế quản lý chứ không phải nói
về toàn bộ đặc điểm, tính chất và nội dung của nền kinh tế. Do đó, trong khi phê
phán nghiêm khắc cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp và đề ra chủ
trương đổi mới quản lý kinh tế (một bộ phận của đường lối đổi mới toàn diện),
Đại hội VI khẳng định: “thực chất của cơ chế mới về quản lý kinh tế là cơ chế kế
hoạch hóa theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đúng
nguyên tắc tập trung dân chủ”. Phát triển thêm một bước, Đại hội VII (qua
Cương lĩnh) đã xác định nền kinh tế của ta là “nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự
quản lý của nhà nước”.
Bước II: Coi kinh tế thị trường không phải là cái riêng có của chủ nghĩa tư
bản, không đối lập với chủ nghĩa xã hội.
14
Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (tháng 1/1994) nhận
định: Cơ cấu kinh tế nhiều thành phầ đang hình thành. Và cơ chế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đang trở thành cơ
chế vận hành của nền kinh tế. Có nghĩa là nền kinh tế của ta là nền kinh tế hàng
hóa nhiều thành phần, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, còn có chế vận hành
của nền kinh tế đó là cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
Gần cuối nhiệm kỳ Đại hội VII, tại một nghị quyết của Bộ Chính trị về
công tác lý luận đã nhận định: “Thị trường và kinh tế thị trường không phải là
cái riêng có của chủ nghĩa tư bản mà là thành tựu chung của văn minh nhân
loại”. Theo nhận định này, thị trường, kinh tế thị trường đã từng tồn tại và phát
triển qua những phương thức sản xuất khác nhau. Nó có trước chủ nghĩa tư bản,
trong chủ nghĩa tư bản và cả sau chủ nghĩa tư bản. Nếu trước chủ nghĩa tư bản
nó vận động và phát triển ở mức khởi phát, manh nha, còn ở trình độ thấp thì
trong xã hội tư bản chủ nghĩa, nó đạt tới đỉnh cao đến mức chi phối toàn bộ
cuộc sống của con người trong xã hội đó, làm cho người ta nghĩa rằng nó chính
là chủ nghĩa tư bản. Như vậy, trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ
nghĩa xã hội, kinh tế thị trường còn tồn tại là tất yếu. Vấn đề ở đây là liệu kinh
tế thị trường có đối lập với chủ nghĩa xã hội không, và liệu việc xây dựng chủ
nghĩa xã hội có đi đến phủ định kinh tế thị trường để rồi tạo nên một nền kinh tế
hoàn toàn khác về chất là kinh tế xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế vận động theo
các quy luật đặc thù của chủ nghĩa xã hội hay không? Câu trả lời là không.
Quan điểm này cũng chính là quan điểm của Đại hội VIII (1996) khi Đại hội
chủ trương: “Xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo
cơ chế thị trường đi đôi với tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước theo định
hướng, xã hội chủ nghĩa”.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét