DANH MỤC KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT
TCTD: Tổ chức tín dụng
NHTMNN: Ngân hàng thương mại nhà nước
NHCTVN: Ngân hàng Công thương Việt Nam
NHNNVN: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
NHNN&PTNTVN: Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thông Viẹt Nam
NHĐT&PTVN: Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam
VNĐ: Việt Nam đồng
DANH MỤC BẢNG BIỂU SƠ ĐỒ
5
Số bảng biểu
sơ đồ
Mục
lục
Nội dung Trang
6
Bảng 1.1 3.2 Ví dụ về các yếu tố nằm trên các trục của ma trận
SPACE
36
Biểu đồ 2.1 1.3 Tăng trưởng hoạt động kinh doanh tại NHCTVN 51
Biểu đồ 2.2 1.3 Thị phần cho vay và đầu tư tại NHCTVN hiện nay 52
Biểu đồ 2.3 1.3 Dư nợ cho vay tại NHCTVN. Đơn vị tỷ đồng 53
Biểu đồ 2.4 1.3 Doanh thu và chi phí hoạt động của NHCTVN 54
Biểu đồ 2.5 1.3 Lợi nhuận sau thuế của NHCTVN. 54
Bảng 3.1 2.3 Ví vụ về ma trận đánh giá các nhân tố bên ngoài 70
Bảng 3.2 2.3 Ví dụ về ma trận đánh giá nội bộ 72
Sơ đồ 1.1 1.3.3. Mô hình quản trị chiến lược 17
Sơ đồ 1.2 2.1 Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp 22
Sơ đồ 1.3 2.1.3. Năm thế lực cạnh tranh 24
Sơ đồ 1.4 3.1 Ma trận BCG 31
Sơ đồ 1.5 3.1 Ví dụ về ma trận BCG 32
Sơ đồ 1.6 3.2 Ma trận SPACE 35
Sơ đồ 1.7 3.3 Ma trận SWOT 41
Sơ đồ 2.1 2.3.1 Quy trình xây dựng chiến lược tại NHCTVN 58
Sơ đồ 3.1 2.2. Vị trí phòng xây dựng chiến lược và phân tích đối
thủ cạnh tranh tại NHCTVN
67
Sơ đồ 3.2 2.4 Ma trận SWOT của NHNN&PTNNVN 73
7
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngành Ngân hàng Việt Nam trong những năm qua đã đạt được những
thành tựu quan trọng góp phần vào sự nghiệp phát triển của đất nước. Những kết
quả đó có sự đóng góp to lớn của các NHTM Việt nam. Khả năng tận dụng các
cơ hội và đối phó với những thách thức trong hoạt động là yếu tố cơ bản cho sự
tồn tại và phát triển bền vững của các NHTM Việt Nam
Tiếp tục nhiệm vụ trong những năm tiếp theo, các NHTM Việt Nam bên
cạnh những lợi thế sẵn có sẽ phải đối phó với nhiều thách thức. Đặc biệt là sự
cạnh tranh giữa các NHTM Việt Nam và khó khăn hơn là các NHTM nước
ngoài.
Đứng trước yêu cầu thực tế của hoạt động kinh doanh trong quá trình phát
triển và hội nhập quốc tế. Chính phủ Việt Nam đã có những cam kết với các tổ
chức tài chính quốc tế về việc mở cửa thụ trường tài chính và Ngân hàng của
Việt Nam. Cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi các NHTMNN cần có
những thay đổi về định hướng để đáp ứng yêu cầu của tình hình mới.
Để giành thế chủ động trong tiến trình hội nhập, các NHTM cần xây dựng
một chiến lược kinh doanh mới để trở thành các NHTM có uy tín, có khả năng
cạnh tranh và hoạt động hiệu quả. Vai trò của chiến lược kinh doanh là rất quan
trọng nhưng hoạt động xây dựng chiến lược cũng là một hoạt động hết sức mới
mẻ đối với các NHTM.
Qua quá trình học tập, công tác và nghiên cứu. Nhận thức được tầm quan
trọng của hoạt động xây dựng chiến lược trong các NHTM, tác giả đã chọn đề
tài: “Giải pháp hoàn hiện hoạt động xây dựng chiến lược tại Ngân hàng Công
thương Việt Nam” làm đề tài luận văn Thạc sỹ của mình .
8
2.Mục đích nghiên cứu
Đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động xấy ựng chiến lược phù
hợp với thực tiễn hoạt động của Ngân hàng Công thương Việt Nam.
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động xây dựng chiến lược tại các tổ chức
nói chung và NHTM nói riêng là vấn đề lớn và hết sức phức tạp. Luận văn tập
trung nghiên cứu phương pháp và quy trình xây dựng chiến lược tại các NHTM
và lấy thực tiến tại NHCTVN làm minh chứng.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu đánh giá hoàn thiện
hoạt động xây dựng chiến lược tại Ngân hàng công thương Việt nam trên cơ sở
nghiên cứu và đánh giá chiến lược kinh doanh của Ngân hàng công thương đến
năm 2010.
Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn tổng hợp các phương pháp nghiên cứu: Duy vật biện chứng, duy
vật lịch sử, thống kê, phân tích tổng hơp
Luận văn sử dụng các bảng biểu, số liệu thực tế để chứng minh.
Những đóng góp của luận văn
Thứ nhất: Hệ thống hoá các vấn đề lý thuyết liên quan đến hoạt động xây
dựng chiến lược tại các NHTM
Thứ hai: Trên cơ sở phân tích đánh giá thực trạng, luận văn đề xuất các
kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động xây dựng chiến lược tại Ngân
hàng Công thương Việt nam.
Kết cấu luận văn:
Luận văn bao gồm trang và bảng biểu
9
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về xây dựng chiến lược kinh doanh
Ngân hàng
Chương 2:Thực trạng hoạt động xây dựng chiến lược kinh doanh tại
NHCTVN
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động xây dựng chiến lược tại
ngân hàng công thương Việt Nam
Chương I
10
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ
XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC KINH DOANH NGÂN HÀNG
1. XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC-NỘI DUNG QUAN TRỌNG CỦA QUẢN TRỊ KINH
DOANH NGÂN HÀNG
1.1.Khái niệm và đặc điểm của chiến lược kinh doanh Ngân hàng
1.1.1.Khái niệm chiến lược kinh doanh Ngân hàng
Thuật ngữ "chiến lược" đã được du nhập vào đời sống kinh tế và đã được
sử dụng phổ biến ở cả phạm vi vĩ mô cũng như vi mô. Có khá nhiều cách tiếp
cận khác nhau về khái niệm này. Có người cho rằng "Chiến lược là một dạng kế
hoạch thống nhất và tổng hợp nhằm dẫn dắt doanh nghiệp đi đến mục tiêu mong
muốn, nó là cơ sở để xác định chính sách và thủ pháp tác nghiệp". Quan điểm
này coi chiến lược là một kế hoạch đặc biệt.
Raymond Alain Thietart quan niệm: "Chiến lược là tổng thể các quyết
định, các hành động liên quan tới việc lựa chọn các phương tiện và phân bổ
nguồn lực nhằm đạt được một mục tiêu nhất định". Porter lại coi: "Chiến lược là
nghệ thuật xây dựng các lợi thế cạnh tranh vững chắc để phòng thủ". Quan điểm
này cho rằng kinh doanh là phải có mưu kế, tức phải biết chớp cơ hội đầu tư
nhanh, thu hồi vốn nhanh, song để tồn tại lâu dài thì mưu kế phải đi liền với đạo
đức kinh doanh. Như vậy, trường phái này coi chiến lược là một nghệ thuật.
General Aileret cho rằng: "Chiến lược là việc xác định những con đường
và những phương tiện vận dụng để đạt tới các mục tiêu đã được xác định thông
qua các chính sách".
Thông qua các quan niệm về chiến lược nêu trên, chúng ta có thể coi
"Chiến lược là định hướng kinh doanh nhằm đạt mục tiêu đã đề ra của doanh
nghiệp". Chiến lược kinh doanh được nhìn nhận như một nguyên tắc, một tôn
chỉ trong kinh doanh. Chính vì vậy doanh nghiệp muốn thành công trong kinh
doanh, điều kiện tiên quyết là phải xây dựng được chiến lược kinh doanh phù
hợp với đặc thù phát triển của doanh nghiệp .
Có nhiều quan niệm về chiến lược kinh doanh nói chung và chiến lược
kinh doanh Ngân hàng nói riêng, tuy nhiên theo cách thông dụng có thể hiểu:
11
Chiến lược kinh doanh của một Ngân hàng là một chương trình hoạt
động tổng thể và dài hạn nhằm tạo ra một bước phát triển nhất định của Ngân
hàng, là sự cam kết trước về các mục tiêu cơ bản, toàn diện mà một Ngân hàng
cần phải đạt được và sự phân bổ các nguồn lực quan trọng để đạt được các
mục tiêu đó trong môi trường hoạt động tương lai
1.1.2 Đặc điểm chiến lược kinh doanh Ngân hàng
Thứ nhất: Chiến lược kinh doanh là một loại chiến lược tổng hợp, đa
dạng của lĩnh vực kinh doanh đặc thù là kinh doanh quyền sử dụng hàng hoá
tiền tệ và các dịch vụ phục vụ cho việc sử dụng đồng tiền.
Thứ hai: Chiến lược kinh doanh của NHTM mang tính nhạy cảm cao bởi
nó chịu sự tác động mạnh mẽ của môi trường kinh doanh, vào quá trình hội nhập
và sự thay đổi của các định chế tài chính trong và ngoài nước.
Chính vì sự nhạy cảm đối với môi trường kinh doanh nên chiến lược kinh
doanh của các NHTM cần được đánh giá thường xuyên để có những điều chỉnh
kịp thời nếu thấy cần thiết.
Thứ ba: Chiến lược kinh doanh Ngân hàng có tính hệ thống cao. Các
NHTM là các doanh nghiệp kinh doanh trên rất nhiều lĩnh vực, bên cạnh đó
thường có một hệ thống tổ chức lớn với phạm vi rộng chính vì vậy chiến lược
Ngân hàng có tính hệ thống rất cao, từ chiến lược tổng thể đến các chiến lược
chức năng với lĩnh vực cụ thể, các chính sách, chương trình…
Thứ tư: Hiệu quả của chiến lược kinh doanh Ngân hàng không chỉ ảnh
hưởng đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng mà còn ảnh hưởng đến hiệu
quả của nền kinh tế. Vì vậy khi đánh giá hiệu quả chiến lược phải đánh giá cả
tác động ảnh hưởng của nó đối với nền kinh tế
1.2.Phân loại chiến lược
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về chiến lược kinh doanh. Đứng trên mỗi
góc độ khác nhau lại có những phân loại khác nhau.
*Căn cứ vào phạm vi chiến lược, chiến lược được phân thành hai loại:
- Chiến lược chung hay còn gọi là chiến lược tổng quát. Chiến lược
chung của doanh nghiệp thường đề cập tới những vấn đề quan trọng nhất, bao
12
trùm nhất và có ý nghĩa lâu dài. Chiến lược chung quyết định những vấn đề sống
còn của doanh nghiệp
-Chiến lược bộ phận. Đây là chiến lược cấp hai. Thông thường trong
doanh nghiệp, loại chiến lược bộ phận này gồm: Chiến lược sản phẩm; chiến
lược giá cả, chiến lược phân phối và chiến lược giao tiếp và khuyếch trương…
Chiến lược chung và chiến lược bộ phận liên kết với nhau thành một
chiến lược hoàn chỉnh. Không thể coi là một chiến lược kinh doanh, nếu chỉ có
chiến lược chung mà không có chiến lược bộ phận được thể hiện bằng các mục
tiêu và mỗi lại được thể hiện bằng một số chỉ tiêu nhất định.
* Căn cứ vào cấp xây dựng chiến lược.
- Chiến lược cấp công ty: Là các quyết định chiến lược của một công ty,
nó xác định và vạch rõ mục đích, các mục tiêu của công ty, xác định các hoạt
động kinh doanh mà công ty theo đuổi, tạo ra các chính sách và các kế hoạch cơ
bản để đạt được các mục tiêu của công ty, như vậy chiến lược cấp công ty là
chiến lược áp dụng chung cho toàn bộ công ty.
- Chiến lược cấp kinh doanh ( SBU):
Doanh nghiệp có thể tổ chức các đơn vị kinh doanh chiến lược(SBU_
Strategy Business Unit) chuyên kinh doanh một nhóm sản phẩm dịch vụ tương
tự nhau. Ban quản trị cấp cao của công ty thường coi mỗi SBU như là một đơn
vị tương đối độc lập có quyền phát triển chiến lược riêng cho mình để hỗ trợ
thực hiện chiến lược cấp công ty.
- Chiến lược cấp chức năng
Là các chiến lược xác định cho từng lĩnh vực hoạt động cụ thể của doanh
nghiệp.Trong hệ thống các chiến lược mà doanh nghiệp xây dựng thì các chiến
lược cấp chức năng đóng vai trò là các chiến lược giải pháp để thực hiện chiến
lược tổng quát của doanh nghiệp.Chính vì vậy các chiến lược cấp chức năng
được hình thành trên cơ sở của chiến lược tổng quát và các kết quả cụ thể về
phân tích và dự báo về môi trường, đặc biệt là thị trường.
* Căn cứ vào tính chất phạm vi áp dụng:
- Chiến lược kinh doanh kết hợp: kết hợp phía trước, kết hợp phía sau,
kết hợp theo chiều ngang, kết hợp theo chiều dọc.
13
- Chiến lược kinh doanh mở rộng: Đa dạng hóa đồng tâm, đa dạng hóa
theo chiều ngang, đa dạng hóa hoạt động theo kiểu hỗn hợp.
- Chiến lược kinh doanh đặc thù: Liên doanh liên kết, thu hẹp hoạt động,
thanh lý, bán bớt….
* Căn cứ vào hướng tiếp cận chiến lược:
- Chiến lược tập trung vào những nhân tố then chốt: Tư tưởng chỉ đạo
việc hoạch định chiến lược ở đây không dàn trải các nguồn lực, trái lại cần tập
trung cho những hoạt động có ý nghĩa quyết định đối với hoạt động sản xuất
kinh doanh ở doanh nghiệp .
- Chiến lược dựa trên ưu thế tương đối: Cơ sở cho việc hoạch định chiến
lược ở đây bắt đầu từ sự phân tích, so sánh sản phẩm hay dịch vụ của doanh
nghiệp với các đối thủ cạnh tranh. Thông qua sự phân tích để tìm ra lợi thế của
doanh nghiệp, làm chỗ dựa cho chiến lược kinh doanh.
- Chiến lược sáng tạo tấn công: Việc hoạch định chiến lược được tiếp cận
theo cách luôn nhìn thẳng vào vấn đề vốn được coi là phổ biến, khó làm khác
được để đặt câu hỏi "Tại sao?", nhằm xem xét lại những vấn đề tưởng chừng
như đã là quy luật. Từ việc liên tiếp đặt ra câu hỏi và nghi ngờ sự bất biến của
vấn đề, có thể tìm ra những khám phá mới làm cơ sở cho chiến lược kinh doanh
của doanh nghiệp.
- Chiến lược khai thác mức độ tự do: Chiến lược được hoạch định ở đây
không nhằm vào yếu tố then chốt mà nhằm khai thác khả năng có thể của các
nhân tố bao quanh nhân tố then chốt.
Có nhiều cách phân loại chiến lược, nhưng thông thường trong hoạt động
Ngân hàng người ta thường chia thành hai nhóm cơ bản: Nhóm chiến lược tăng
trưởng và nhóm chiến lược thu hẹp hoạt động.
1.2.1.Nhóm chiến lược tăng trưởng
1.2.1.1.Những chiến lược tăng trưởng hướng nội
Thứ nhất: Chiến lược tăng trưởng tập trung
Đây là loại chiến lược đặt trọng tâm vào việc cải tiến mở rộng thêm các
dịch vụ hoặc thị trường hiện có mà không thay đổi bất kỳ yếu tố nào.Có thể tiến
hành một số phương án chiến lược:
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét