Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

Bài học từ gói kích cầu - hướng đi cho Việt Nam đối phó với khủng hoảng

4

4.2.3 Xét về tính chất ngắn hạn 63
4.2.4 Những thành tựu từ gói kích cầu 65
4.2.5 Những mặt tiêu cực của gói kích cầu 66
CHƢƠNG 5 : BÀI HỌC – ĐỀ XUẤT NHỮNG BIỆN PHÁP ĐỂ VIỆT NAM CHỐNG KHỦNG
HOẢNG TRONG TƢƠNG LAI 67
5.1 Bài học 1 - Căn bệnh bất ổn kinh tế vĩ mô 67
5.1.1 Nhìn lại bất ổn kinh tế 2008 - Nguồn gốc sâu xa suy thoái Việt Nam 67
5.1.2 Giải quyết những bất ổn vĩ mô 68
5.2 Bài học 2 - Căn bệnh mô hình tăng trƣởng dựa trên xuất khẩu – thu hút vốn nƣớc ngoài 70
5.2.1 Chuyển đổi mô hình tăng trƣởng xuất khẩu sang chú trọng thị trƣờng nội địa 70
5.2.2 Cơ cấu lại xuất khẩu 71
5.3 Bài học 3 - Bài học từ gói kích cầu các nƣớc - một bƣớc đổi mới trong tƣ duy 72
5.3.1 Các biện pháp chống suy thoái ở một số nƣớc 72
5.3.2 Bài học từ biện pháp chống khủng hoảng các nƣớc- một bƣớc đổi mới trong tƣ duy 76
5.3.3 Bài học định hƣớng phân bổ vốn 78
5.3.4 Bài học từ cuộc chống suy thoái ở Việt Nam 82
KẾT LUẬN 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHỤ LỤC 1 91
PHỤ LỤC 2 109










5

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ ĐỒ THỊ

Hình 1: Sản lƣợng công nghiệp Mỹ
Hình 2: Sản lƣợng công nghiệp Thế giới
Hình 3: Sản lƣợng Thế giới 1929 – 1938 (1929=100)
Hình 4: Mậu dịch Thế giới 1929 – 1938 (1929=100)
Hình 5: Khối lƣợng mậu dịch Thế giới
Hình 6: Khối lƣợng mậu dịch Thế giới theo bình quân gia quyền
Hình 7: Thị trƣờng chứng khoán Thế giới
Hình 8: Tăng trƣởng GDP thế giới và Việt Nam
Hình 9: Diễn biễn tăng trƣởng kinh tế Việt Nam năm 2008-2009
Hình 10 : Tình hình xuất – nhập khẩu Việt Nam
Hình 11: Xuất khẩu Việt Nam tháng 11/2007 và 11/2008
Hình 12: Tỷ trọng các thị trƣờng xuất khẩu chính của Việt Nam 2008
Hình 13: Lƣợt khách quốc tế đến Việt Nam
Hình 14: Nguồn vốn FDI đầu tƣ vào các nƣớc đang phát triển và tỷ lệ giải ngân FDI thực tế của
Việt Nam
Hình 15: Tổng vốn đầu tƣ cả nƣớc và các thành phần năm 2009
Hình 16: Tình hình FDI Việt Nam 2008-2009
Hình 17: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Việt Nam
Hình 18: Doanh số bán lẻ Việt Nam từ 01/2007 đến 12/2008
Hình 19: Chỉ số CPI Việt Nam năm 2008
Hình 20: Tăng trƣởng GDP và thất nghiệp Việt Nam 1997-2008
Hình 21: Giá trị sản xuất công nghiệp Việt Nam theo giá so sánh 1994
Hình 22: Lãi suất chiết khấu của Ngân hàng trung ƣơng
Hình 23: Lãi suất chiết khấu của Ngân hàng trung ƣơng (trung bình 7 quốc gia)
Hình 24: Cung tiền, 17 quốc gia
Hình 25: Thặng dƣ ngân sách chính phủ
Hình 26: Hàm phản ứng thúc đẩy (Impulse response functions), shock to defense spending
(1%GDP)
Hình 27: Hàm phản ứng thúc đẩy (Impulse response functions), shock to discount rate
Hình 28: Hàm phản ứng thúc đẩy (Impulse response functions), shock to discount rate
(alternative ordering)
Hình 29: Hàm phản ứng thúc đẩy (Impulse response functions), shock to change in defense
6

spending. Model in Differences
Hình 30: Hàm phản ứng thúc đẩy (Impulse response functions), shock to change in discount rate.
Model in Differences
Hình 31: Hàm phản ứng thúc đẩy (Impulse response functions), shock to defense spending
(1%GDP)
Hình 32: Tăng trƣởng doanh số bán lẻ và dịch vụ tiêu dùng Việt Nam 2009
Hình 33: Tăng trƣởng GDP và ba ngành chính Việt Nam
7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1: Cơ cấu gói kích cầu của chính phủ
Bảng 2: Ảnh hƣởng
c
ủa k
íc
h
c
ầu đố
i
vớ
i

c
á
c
nhân tố
Bảng 3: Ch

số
l
an toả và độ nhạy
Bảng 4: Hiệu quả của chính sách kích cầu
Bảng 5: Mức độ lan tỏa theo ngành của 8 vùng
Bảng 6: Panel Regressions. Dependent variable: change in log real GDP
Bảng 7: Panel Regressions. Dependent variable: real GDP


8

LỜI MỞ ĐẦU

Kể từ cuộc Đại suy thoái 1929-1933, chƣa từng có cuộc khủng hoảng nào có tác động
mạnh mẽ, nặng nề và lan tỏa tới nhiều quốc gia trên thế giới nhƣ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn
cầu hiện nay; và Việt Nam lần đầu tiên chịu ảnh hƣởng nặng nề nhất từ cuộc khủng hoảng Đông
Á năm 1997. Nhận thấy những tác động mạnh mẽ từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, chúng
tôi quyết định phân tích và đề ra các biện pháp để đối phó với khủng hoảng của nƣớc ta, đặc biệt
nhấn mạnh gói kích cầu, từ đó tìm ra những thành tựu, khuyết điểm, và cuối cùng đƣa ra những
bài học đề xuất cho tƣơng lai .
Chúng tôi đã phân tích rất kỹ trên nhiều phƣơng diện của cuộc khủng hoảng toàn cầu đến
Việt Nam: từ việc so sánh mức độ trầm trọng cuộc khủng hoảng hiện nay so với Đại suy thoái,
phân tích tác động cuộc khủng hoảng toàn cầu đến Việt Nam - sự cần thiết của gói kích cầu; cho
đến việc so sánh các phản ứng chính sách của chính phủ các nƣớc đối phó cuộc khủng hoảng
trong giai đoạn Đại suy thoái và cuộc khủng hoảng toàn cầu hiện nay, “mổ xẻ” gói kích cầu; đƣa
ra các biện pháp nên kích cầu ở đâu cho hợp lý; rồi đến đo lƣờng tác động các chính sách phản
ứng trên thế giới, phân tích những mặt tích cực và tiêu cực của gói kích cầu, tất cả chỉ nhằm mục
đích duy nhất: Mục tiêu đƣa ra những đề xuất để Việt Nam chống khủng hoảng thành công trong
tƣơng lai, hoặc nếu bị tác động bởi cuộc khủng hoảng toàn cầu thì cũng chỉ ở mức độ nhẹ; đặc
biệt trong bối cảnh Việt Nam đang gia nhập vào thị trƣờng tài chính một cách mạnh mẽ. Để đạt
đƣợc mục tiêu quan trọng trên, ngoài việc chúng tôi tiến hành phân tích mổ xẻ gói kích cầu của
những nƣớc khác để thấy đƣợc triết lý hiện đại trong biện pháp chống suy thoái, chúng tôi đặc
biệt nhận thấy rằng chính phủ cần phải đặc biệt giải quyết triệt để một số “căn bệnh” để xây
dựng nền kinh tế hiện đại, vững chắc. Đây mới chính là nền tảng vững chắc để nền kinh tế Việt
Nam ít chịu tác động từ cuộc khủng hoảng. Và khi bị tác động đến nền kinh tế thì sẽ có những
biện pháp kịp thời, hợp lý để chống khủng hoảng.

9

CHƢƠNG 1: KHỦNG HOẢNG KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ ẢNH
HƢỞNG TỚI VIỆT NAM – SỰ CẦN THIẾT CỦA
GÓI KÍCH CẦU
1.1 Xu hướng tác động của khủng hoảng thế giới – So sánh mức độ tác
động của Đại suy thoái và Khủng hoảng toàn cầu hiện nay
Hình 1 (phụ lục 1) cho thấy các chỉ số sản lƣợng công nghiệp tiêu chuẩn Hoa Kỳ cho hai
giai đoạn1. Đƣờng liền nét thể hiện sản lƣợng công nghiệp tại đỉnh điểm của cuộc khủng hoảng
ở Mỹ trong tháng bảy năm 1929, trong khi đƣờng có dấu chấm thể hiện sản lƣợng công nghiệp
tại đỉnh điểm của cuộc khủng hoảng tín dụng ở Mỹ trong tháng 12 năm 2007. Mặc dù sản lƣợng
công nghiệp Mỹ giảm sâu, nhƣng nó đã không giảm nhanh nhƣ sau tháng 6 năm 1929. Kết luận
hợp lý là cuộc khủng hoảng mà nền kinh tế đối mặt trong mùa xuân năm ngoái dù khốc liệt
nhƣng không phải là cuộc đại suy thoái. Nhƣ Krugman đã đặt tên cho nó là "Một nửa cuộc đại
suy thoái".
Bây giờ chúng tôi sẽ cho thấy rằng quan điểm chính của Mỹ là quá lạc quan. Hình 2
(phụ lục 1) so sánh sự dịch chuyển sản lƣợng công nghiệp toàn cầu trong suốt hai cuộc khủng
hoảng
2
. Vì chúng tôi chỉ chú trọng sự sụt giảm sản lƣợng công nghiệp thế giới trong hai thời kỳ,
chúng tôi vẽ hai chỉ số này từ 2 đỉnh, thời điểm mà chúng tôi cho là tháng 6 năm 1929 và tháng 4
năm 2008
3
. Nhƣ có thể thấy, trong năm đầu tiên của cuộc khủng hoảng, sản lƣợng công nghiệp
toàn cầu giảm nhanh nhƣ trong năm đầu tiên của cuộc đại suy thoái
4
. Sau đó sản lƣợng dƣờng
nhƣ chạm đáy vào mùa xuân và từ đó có dấu hiệu hồi phục trở lại. Điều này trái ngƣợc với cuộc
đại suy thoái: mặc dù có hai giai đoạn hồi phục (giai đoạn hai vào năm 1931 là khá đáng kể),
nhƣng sản lƣợng vẫn giảm trung bình trong ba năm liền.
Một khác biệt giữa hôm nay và 80 năm trƣớc liên quan đến sản lƣợng công nghiệp và địa
điểm của sự sụt giảm sản lƣợng công nghiệp. Tám thập kỷ trƣớc đây, ngành công nghiệp chủ yếu
tập trung ở Châu Âu và Bắc Mỹ
5
. Sự sụp đổ sản lƣợng công nghiệp lúc đó là thiếu cân xứng, vì

1
Đây là những dữ liệu cùng một ngày Mỹ sản xuất công nghiệp hàng tháng đƣợc sử dụng bởi Krugman (trích dẫn ở trên), rút ra
từ Trang web của Ngân hàng Dự trữ liên bang St Louis. Nguồn:
http://research.stlouisfed.org/fred2/series/INDPRO/downloaddata?rid=13
2
Các dữ liệu gần đây là từ IMF, trong khi dữ liệu giữa hai cuộc chiến tranh đến từ hai nguồn. Bao gồm cả tháng 9 năm 1932,
chúng từ nghiên cứu Rolf Wagenführ về sản lƣợng công nghiệp thế giới năm 1860-1932 thực hiện ở Institut für
Konjunkturforschung, Berlin. Ngoài việc biên soạn chỉ số nhiều quốc gia, Wagenführ (1933) cũng cung cấp các chỉ số sản xuất
công nghiệp thế giới (bảng 7, trang 68). Sau tháng 9 năm 1932, các chuỗi đƣợc ghép vào chỉ số sản lƣợng công nghiệp thế giới
đƣợc sản xuất tại Institut für Konjunkturforschung và xuất bản trong Vierteljahrshefte zur Konjunkturforschung và Statistik des
In-inda
3
Chúng tôi nhấn mạnh rằng chúng tôi không cố gắng xác định ngày đỉnh chu kỳ kinh doanh thế giới trong bất kì giai đoạn nào.
Chúng tôi chỉ quan tâm so sánh sản lƣợng bị suy sụp nhƣ thế nào trong suốt hai thời kỳ đó ,có ý nghĩa để các biện pháp giảm từ
các tháng, trong đó sản lƣợng đạt đỉnh.
4
So sánh là kém thuận lợi với thời kỳ giữa hai cuộc chiến nếu Stalin nhanh chóng công nghiệp hóa ngoại trừ Liên Xô. Tuy nhiên
sẽ đƣợc nhắc đến trong các mục sau đó.
5
Xem chú thích 11.
10

thế sản lƣợng và việc làm ở châu Âu và Bắc Mỹ cũng đã bị ảnh hƣởng một cách thiếu cân xứng.
Trong khi đó, thƣơng mại quốc tế vẫn còn phần lớn diễn ra dƣới hình thức trao đổi hàng hoá
công nghiệp phía Bắc cho các hàng hoá cơ bản ở miền Nam, phản ánh sự phân chia lao động
quốc tế nổi lên sau Cuộc cách mạng Công nghiệp (Findlay và O'Rourke 2007). Kể từ khi khủng
hoảng diễn ra, tất cả sản lƣợng công nghiệp đã sụt giảm (xem thêm Hình 3 phụ lục 1), trong khi
đó sản lƣợng ở châu Mỹ Latinh, Châu Á và các nƣớc đang phát triển khác trên thế giới, nơi mà
sản xuất nông nghiệp và sản xuất sơ cấp khác thống trị, thì lại ổn định hơn. Tƣơng tự, trao đổi
ngoại thƣơng hàng công nghiệp sụt giảm nhanh hơn các sản phẩm sơ cấp (xem thêm Hình 4 phụ
lục 1). Do vậy, giá thƣơng mại của Miền Nam đã sụt giảm, vì giá cả hàng hóa cơ bản giảm nhanh
hơn giá của hàng công nghiệp. Đây là một cơ chế quan trọng làm giảm thu nhập ở phía Nam mặc
dù sản lƣợng của nó ổn định hơn. (Chuyện tƣơng tự đã xảy ra cho các nền kinh tế sản xuất dầu
trong cuộc khủng hoảng năm 2008-2009.)
Ngƣợc lại, ngày nay, ngành công nghiệp phân bổ rộng khắp trên thế giới, và do vậy sản
lƣợng đã sụt giảm nhanh chóng ở khắp mọi nơi trong năm đầu tiên của cuộc khủng hoảng
6
.
Nhìn chung, sản lƣợng công nghiệp giảm nhanh trong mƣời hai tháng đầu tiên bắt đầu
vào tháng Tƣ 2008, giống nhƣ đã từng xảy ra trong giai đoạn đầu của cuộc Đại khủng hoảng. Có
thể lập luận rằng, sự sụt giảm ban đầu này không nên xem là đáng báo động bởi vì ngày nay
ngành công nghiệp chỉ chiếm một phần nhỏ trong GDP và việc làm so với hơn 80 năm trƣớc
đây. Mặc dù điều này có thể đúng cho các nền công nghiệp phát triển sớm nhƣ Anh, Pháp, Đức
và Hoa Kỳ, nhƣng lại không đúng đối với các nền công nghiệp hóa mới ở châu Âu sau này nhƣ
Phần Lan, Hungary, Ireland, Ba Lan và Bồ Đào Nha
7
. Nó thậm chí còn đúng ít hơn đối với cả
thế giới nhƣ một tổng thể, dựa trên sự nghiệp công nghiệp hóa nhanh chóng diễn ra ở các nƣớc
đang phát triển trên thế giới trong nửa thế kỷ qua
8
.
Còn về khối lƣợng mậu dịch thì nhƣ thế nào? Theo số liệu theo quý về khối lƣợng mậu
dịch thế giới
9
, cung cấp bởi số liệu của Hội Liên Hiệp các nƣớc, nó đã giảm 36 phần trăm từ quý

6
Điều này cũng có ý nghĩa quan trọng đối với sự hiểu biết về sự sụp đổ của thƣơng mại.
7
So sánh Buyst và Franaszek (2009) và OECD (2009a).
8
Chúng tôi không có dữ liệu GDP thế giới hàng tháng hoặc hàng quý, là các dữ liệu sẽ cho phép chúng ta so sánh sự chuyển
động của GDP của thế giới trong suốt hai cuộc khủng hoảng. Chúng tôi chƣa có dữ liệu hàng năm cho cả hai năm 2008 và 2009.
Mặt khác, IMF dự báo vào tháng 10 rằng GDP toàn cầu sẽ giảm 1,1%. Quan trọng, dự báo này có tài khoản không nói lên độ lớn
của cú sốc nền kinh tế thế giới đối mặt, nhƣng các phản ứng chính sách trƣớc cuộc khủng hoảng tích cực hơn sau 1929. Trong
khi đó, từ năm 1929 và 1930, nền kinh tế Hoa Kỳ (vốn đã chiếm một phần tƣ thế giới GDP năm 1929) giảm mạnh khoảng 8,9%,
và nền kinh tế thế giới vì thế giảm mạnh khoảng 2,9%. Ngoại trừ Hoa Kỳ, nền kinh tế thế giới chỉ giảm 1% từ năm 1929 và
1930. 'Thế giới' ở đây bao gồm của 65 quốc gia mà Maddison (2009) cung cấp dữ liệu cho cả năm. Lƣu ý rằng mẫu này không
bao gồm tất cả các quốc gia Châu Phi, tất cả các nƣớc Trung Đông ngoại trừ Thổ Nhĩ Kỳ, và nhiều nƣớc khác đang phát triển .
Nếu họ đã đƣợc đƣa vào, trọng lƣợng của Mỹ trong con số GDP thế giới sẽ suy giảm, và GDP năm 1930 của thế giới sẽ giảm
cùng với nó.
9
Giá trị vàng của thƣơng mại chia cho một chỉ số giá vàng của các mặt hàng đang đƣợc giao dịch.
11

tƣ năm 1929 đến quý ba của năm 1932
10
. Hình 5 (Phụ lục 1) thể hiện sự sụt giảm này, đƣợc nội
suy theo cấp số nhân để tạo thành các chuỗi hàng tháng, cùng với chuỗi số liệu khối lƣợng mậu
dịch thế giới hàng tháng do Cục Phân tích Chính sách kinh tế Hà Lan cung cấp
11
. Có thể thấy,
mậu dịch thế giới trong năm đầu tiên của cuộc khủng hoảng gần đây đã giảm nhanh hơn nhiều so
với cùng kỳ của cuộc Đại suy thoái. Chỉ trong chín tháng kể từ tháng tƣ 2008 đến tháng 1 năm
2009, nó giảm gần 20 phần trăm, bằng hoặc hơn một nửa mức sụt giảm trong suốt cả ba năm
1929-32. Sau đó nó đã đƣợc ổn định, chỉ giảm nhẹ trong 4 tháng sau đó trƣớc khi tăng nhẹ trong
tháng Sáu và mạnh mẽ trong tháng Bảy.
Một số luận điểm đã đƣợc đƣa ra để giải thích cho hệ số co dãn của mậu dịch đối với sản
lƣợng trong cuộc khủng hoảng hiện tại cao hơn, bao gồm sự tăng trƣởng trong chuyên môn hóa
theo ngành dọc (Yi 2008, 2009 Freund, Tanaka 2009) và khó khăn trong việc huy động nguồn
tài trợ cho thƣơng mại trong cuộc khủng hoảng tín dụng (Auboin 2009a, b). Cả hai đều có vấn
đề. Bằng chứng về hiệu ứng bậc nhất (first-order effect) từ sự gián đoạn cho việc cung cấp tín
dụng thƣơng mại là tối thiểu (nhớ rằng các bên và các quốc gia xuất nhập khẩu đã nhanh chóng
đƣa ra các khoản tín dụng khẩn cấp)
12
. Và dù tốc độ tăng trƣởng của việc chuyên môn hóa theo
ngành dọc có thể giải thích cho một sự sụt giảm mậu dịch trong cuộc khủng hoảng tài chính lớn
hơn về giá trị tuyệt đối, nhƣng tự nó không thể giải thích tại sao có một sự sụt giảm lớn hơn tính
theo giá trị tƣơng đối hoặc hệ số co dãn của mậu dịch so với sản lƣợng lớn hơn
13
.
Chúng tôi xin đƣa ra những giải thích trực tiếp hơn, cụ thể là sự thay đổi thành phần của
thƣơng mại. Năm 1929, 44% của thƣơng mại thế giới là hàng hoá sản xuất công nghiệp (Liên
Hiệp Quốc năm 1962, Bảng 1), tỷ lệ đó đã tăng lên tới 70 phần trăm trong 2007
14
. Nhƣ chúng ta
đã thấy ở phần trƣớc, sản xuất công nghiệp thì biến động nhiều hơn so với các ngành còn lại của
nền kinh tế, và nó là kết quả tại sao sản lƣợng và thƣơng mại hàng hóa công nghiệp sụt giảm
mạnh hơn so với hàng hóa sơ cấp trong cuộc Đại suy thoái.
Hình 6 (Phụ lục 1) thể hiện tác động của việc thay đổi thành phần này. Các dãy số có ký
hiệu “trọng số 1929” là giá trị trung bình có trọng số của dãy số liệu về khối lƣợng thƣơng mại
hàng công nghiệp và phi công nghiệp - đã đƣợc Đánh dấu trong hình 4 (các trọng số này là tỷ

10
Biểu đồ cobweb nổi tiếng cho thấy rằng thƣơng mại thế giới ký hợp đồng bằng 69% giữa Tháng 4 năm 1929 và tháng Hai năm
1933, âm mƣu chuyển động trong giá trị danh nghĩa của thƣơng mại thế giới, nhƣng sau đó nhƣ bây giờ, giá trị danh nghĩa của
thƣơng mại đã phần lớn thúc đẩy bởi giá cả giảm (Francois và Woerz 2009).
11
http://www.cpb.nl/eng/research/sector2/data/trademonitor.html.
12
Tuy nhiên qua Amiti và Weinstein (2009) có thể thấy rằng các nhà xuất khẩu Nhật Bản phù hợp với các ngân hàng nào cung
cấp cho họ tín dụng thƣơng mại và có sự liên kết chặt chẽ giữa khả năng tài chính của các ngân hàng và sự tăng trƣởng của công
ty xuất khẩu.
13
Điều này là đơn giản nhất: thƣơng mại mở rộng ngụ ý sự tan vỡ theo chiều dọc không chỉ thể hiện ở tử số (sự suy giảm tuyệt
đối trong thƣơng mại), mà còn ở mẫu số (tổng khối lƣợng ban đầu của thƣơng mại). Mặt khác,sự tan vỡ theo chiều dọc có thể
giúp giải thích tính co dãn cao của thƣơng mại đối với GDP mà chúng tôi đã tìm ra đƣợc, cung cấp rằng (a) biên thƣơng mại bao
gồm các hàng hóa tan rã theo chiều dọc và (b) tất cả những thƣơng mại không tan rã theo chiều dọc.
Tham khảo tại http://www.irisheconomy.ie/index.php/2009/06/18/collapsing-trade-in-a-barbie-world/ với một số thí nghiệm đơn
giản.
14
Thống kê thƣơng mại quốc tế 2008, bảng II.6, có tại http://www.wto.org/english/res_e/statis_e/its2008_e/section2_e/ii06.xls
12

phần của hai nhóm trong tổng thƣơng mại năm 1929). Không ngạc nhiên khi thấy rằng sự sụt
giảm sản lƣợng trong thƣơng mại thế giới sau 1929 là gần với con số thực sự xảy ra (6 phần trăm
so với năm 1930 so với con số thực tế là 7,5 phần trăm). Các dãy số có ký hiệu “trọng số 2007”
thay thế trọng số của năm 1929 (44 phần trăm cho hàng sản xuất) bằng trọng số của năm 2007
(70 phần trăm cho hàng sản xuất). Nó cho thấy rằng nếu thƣơng mại hàng công nghiệp và phi
công nghiệp sụt giảm với với tỷ lệ sụt giảm của chúng sau năm 1929, nhƣng nếu hàng sản xuất
công nghiệp có chiếm tỷ phần quan trọng trong thƣơng mại thế giới nhƣ ngày nay, thì tổng
thƣơng mại thế giới đã phải giảm mạnh hơn nhiều - bằng 10 phần trăm năm trong năm 1930, so
với con số sụt giảm mà WTO hiện đang dự đoán cho thƣơng mại thế giới vào năm 2009
15
.
Cuối cùng, Hình 7 (Phụ lục 1) cho thấy thị trƣờng cổ phiếu toàn cầu trƣớc và nay
16
. Trên
phƣơng diện toàn cầu, thị trƣờng cổ phiếu trong năm đầu tiên của cuộc khủng hoảng tín dụng đã
lao dốc nhanh hơn so với giai đoạn đầu của cuộc Đại suy thoái. Với triển vọng hồi phục mà bắt
đầu từ tháng 3/2009, cho đến nay, nó chỉ đƣa chúng ta quay lại việc so sánh cùng kỳ với cuộc
Đại suy thoái.
Tóm lại, thông qua so sánh mức độ trầm trọng của cuộc Đại suy thoái và cuộc khủng
hoảng toàn cầu hiện nay dựa trên 3 tiêu chí: sản lƣợng công nghiệp, mậu dịch thế giới và thị
trƣờng chứng khoán chúng tôi nhận thấy rằng cuộc khủng hoảng toàn cầu hiện nay có mức độ
trầm trọng ngang bằng mà còn thậm chí nặng hơn so với cuộc Đại suy thoái. Tuy nhiên mức độ
trầm trọng này chỉ kéo dài 18 tháng. Sau 18 tháng thì sản lƣợng công nghiệp, mậu dịch thế giới
và thị trƣờng chứng khoán chạm đáy và bắt đầu đi lên. Điều này cho thấy rằng cuộc khủng hoảng
toàn cầu hiện nay có mức độ tác động trầm trọng không kéo dài và sâu nặng nhƣ thời Đại suy
thoái. Lý do chính cho nguyên nhân này chính là do các phản ứng chính sách của chính phủ hiện
nay để chống khủng hoảng tốt hơn. Vậy thì xu thế Việt Nam bị tác động khủng hoảng thế giới
nhƣ thế nào?

1.2 Tác
động
c

a kh

ng ho

ng kinh t
ế
th
ế
gi

i đ
ế
n Vi

t Nam trên
ph
ươ
ng di

n lý thuy
ế
t
Trong bối cảnh của nền kinh tế thế giới suy giảm, một câu hỏi đặt ra là nền kinh tế Việt
Nam có bị tác động không và nếu có, thì sự tác động sẽ nhƣ thế nào? Đối mặt với thực tế là kinh
tế có dấu hiệu suy thoái và nguy cơ suy thoái nặng hơn nữa, Chính phủ Việt Nam sẽ có những
lựa chọn chính sách gì?

15
Lƣu ý rằng trong khi tranh luận này có thể giúp giải thích các mức độ nghiêm trọng của sự sụp đổ nền thƣơng mại thế giới
ngày nay liên quan đến cuộc Đại khủng hoảng, nó sẽ có sức tác động ít hơn nhiều trong việc giải thích sự tăng trƣởng trong độ co
dãn của nền kinh tế với sản lƣợng trong hai hoặc ba thập kỷ vừa qua,cũng chính là sự tập trung của Freund (2009)
16
Sử dụng Cơ sở dữ liệu chỉ số tài chính toàn cầu
13

Có thể khẳng định ngay rằng, trong bối cảnh nền kinh tế thế giới suy thoái, Việt Nam khó
có thể tránh khỏi sự tác động của sự suy thoái này. Tốc độ tăng trƣởng của Việt Nam trong năm
2009 sẽ chỉ còn 5,32% - mức thấp nhất trong 10 năm qua. Tốc độ tăng trƣởng GDP ở mức 5,32%
ở các nƣớc khác thì có thể không bị coi là thấp, nhƣng với Việt Nam, một nền kinh tế có tiềm
năng tăng trƣởng 9-10%, và tốc độ tăng trƣởng trung bình trong thời gian dài là khoảng 7,5-8%,
thì việc tốc độ tăng trƣởng GDP đạt 5,32% trong năm 2009 là vô cùng đáng lo ngại.
Ta có thể sử dụng một đẳng thức căn bản trong kinh tế học vĩ mô để xem xét tác động
của cuộc suy thoái kinh tế thế giới tác động thế nào tới nền kinh tế của Việt Nam. Đẳng thức có
dạng nhƣ sau:
Y = C + I + G + (EX-IM) (1)
Trong đó, Y là tổng cầu (hoặc còn đƣợc biết tới là thu nhập quốc dân), C là tiêu dùng, I là
đầu tƣ, và G là chi tiêu của khu vực chính phủ, EX là xuất khẩu, IM là nhập khẩu. Số chênh lệch
giữa EX-IM là thâm hụt/thặng dƣ thƣơng mại. Qua đẳng thức này, ta có thể thấy suy thoái kinh
tế thế giới ảnh hƣởng trực tiếp tới tổng cầu của Việt Nam qua các kênh sau:
- Suy giảm đầu tƣ nƣớc ngoài (là một phần của I ↓)
- Suy giảm cầu đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam – trong đó bao gồm cả xuất khẩu tại chỗ
nhƣ khách du lịch sang Việt Nam giảm, qua đó làm giảm tổng cầu (EX ↓)
- Giảm nhập khẩu làm đầu vào cho xuất khẩu và FDI (IM↓) làm tăng tổng cầu (Y)
Tuy nhiên, do mức độ thâm dụng lao động của xuất khẩu của Việt Nam cao hơn so với
nhập khẩu, nên suy giảm kinh tế thế giới thông qua kênh xuất nhập khẩu cũng nhƣ kênh đầu tƣ
nƣớc ngoài còn có tác động giảm việc làm và qua đó giảm thu nhập ở Việt Nam. Giảm thu nhập
sẽ dẫn tới tiêu dùng của các hộ gia đình thấp đi (C ↓), và đầu tƣ của khu vực tƣ nhân cũng sẽ
giảm theo (I ↓). Qua đó, tổng cầu sụt giảm hơn nữa (trong nhiều năm qua, kiều hối đóng một vai
trò khá quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam. Với sự sụt giảm kinh tế tại
hầu khắp các nƣớc, lƣợng kiều hối chuyển về Việt Nam có thể cũng sẽ sụt giảm, dẫn tới sụt giảm
cầu tiêu dùng cũng nhƣ đầu tƣ trong nƣớc) (tuy nhiên, mức độ sụt giảm này có thể đỡ một phần
nào nếu ngƣời dân cắt giảm tiêu dùng hàng ngoại, tức là giảm nhập khẩu (IM↓)). Sự sụt giảm
này còn tiếp tục bị khuyếch đại bởi yếu tố tâm lý trong bối cảnh doanh nghiệp và ngƣời dân cảm
thấy rủi ro ngày một gia tăng ở cấp độ toàn cầu, dẫn đến sự điều chỉnh giảm tiêu dùng và đầu tƣ
một cách thái quá, không phù hợp với mức điều chỉnh tối ƣu (Hành vi của ngƣời dân Mỹ hiện
nay là một ví dụ điển hình: Khi nền kinh tế suy thoái, cầu suy yếu càng bị khuyếch đại bởi sự
thay đổi hành vi của ngƣời dân Mỹ, đang từ chi tiêu vƣợt mức thu nhập lại chuyển sang có mức
tiết kiệm dƣơng – hiện tƣợng xảy ra lần đầu tiên trong nhiều năm). Điều này tạo cơ sở lý thuyết
cho sự can thiệp của Chính phủ để khôi phục lại các hành vi kinh tế ở mức tối ƣu, với nguyên tắc

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét