2
hay bù đắp tương xứng. Sự tương tác cũng tạo ra nghĩa vụ lâu dài giữa các
bên.
Ngân hàng thế giới cũng đã công nhận ―vốn xã hội chỉ đến các tổ chức, các mối
quan hệ, và các khái niệm hình thành nên số lượng và chất lượng của các tương tác
xã hội trong một xã hộị. Ngày càng có nhiều minh chứng cho thấy các cố kết xã hội
rất quan trọng cho các xã hội tăng trưởng về mặt kinh tế và phát triển một cách bền
vững‖.
Mặ c dù đã có nhiề u cá ch đị nh nghĩ a khá c nhau , nhưng tự u trung vố n xã hộ i thườ ng
đượ c định nghĩ a xoay quanh ba yế u tố có liên hệ mậ t thiế t vớ i nhau : (a) khả năng
làm việc chung với nhau , (b) sự tin cậ y giữ a con ngườ i vớ i nhau , và (c) các mạng
lướ i xã hộ i.
Một trong những thành tố quan trọng của vốn xã hội là tính liên kết. Có nhiều loại
liên kết khác nhau giữa các nhóm (mua bán hàng hóa, trao đổi thông tin, giúp đỡ lẫn
nhau, cho vay, cử hành các nghi lễ chung, đọc kinh, đám cưới, cầu ma). Chúng có
thể diễn ra theo nhiều hướng, chiều ngang, chiều dọc hay đứng một mình.
- Do các hình thức liên kết này, giáo sư Robert Putnam (2000) phân biệt ra
hai loại vốn xã hội: loại co cụm vào nhau (bonding social capital) và loại
vươn ra bên ngoài (bridging social capital). Loại trước tạo nên các nhóm như
Mafia ở Ý; loại sau tạo nên các ban hợp xướng, dàn nhạc, các tổ chức phi
chính phủ hay các hội từ thiện. Khi trong nước có nhiều đoàn thể thành lập
do sự tự nguyện để bảo vệ lợi ích cục bộ của mình và tìm cách tác động
vào luật pháp thì những việc ấy sẽ tạo nên một xã hội dân sự. Xã hội này là
một xã hội trong đó các nhóm, các đoàn thể góp tay với chính quyền chăm lo
mọi mặt của đời sống xã hội mà một mình chính quyền không làm xuể.
- Tùy hình thức của vốn, cái co cụm không đem lại lợi ích cho xã hội, chỉ có
những tổ chức hay mạng lưới phát triển theo chiều ngang do các cá nhân kết
hợp với nhau một cách tự nguyện tạo nên mới làm gia tăng năng suất của xã
hội và tạo ra sự gắn bó trong đó. Trong những xã hội mà sự tin cẩn nhau
không cao, sự tương tác hàng ngang bị thay thế bởi chính trị với những hệ
3
cấp của nó đi theo hàng dọc thì không có vốn xã hội và cũng chẳng có bao
nhiêu hoạt động dân sự (Putnam, 1998).
Nói một cách đơn giản, vốn xã hội là khái niệm mô tả sự tin tưởng lẫn nhau giữa
con người với con người trong cùng một xã hội, và sự tin tưởng của những
thành viên đối với chính xã hội đó.
1.1.2 Vai trò và tầm ảnh hưởng
Nói về vai trò của vốn xã hội, trong bài viết ―Vốn xã hội và phát triển‖ đăng trên tạp
chí Tia sáng, luật sư Nguyễn Ngọc Bích có đưa ra vài quan điểm như sau:
- Trong quyển ―Trust: The Social Virtues and the Creation of Prosperity‖ xuất
bản năm 1995, giáo sư Fukuyama đã nghiên cứu niềm tin trong việc tạo nên
vốn xã hội, và chú trọng đặc biệt đến sự phát triển kinh tế. Dùng niềm tin
như là tiêu chí chính yếu để so sánh cơ cấu kinh tế và xã hội của các nước,
ông cho rằng vốn con người và vốn xã hội ảnh hưởng lẫn nhau. Vốn con
người có thể làm tăng vốn xã hội. Thí dụ, người có học sẽ ý thức hơn tầm
quan trọng của việc săn sóc con cái, và con cái sẽ cố gắng học hành, trau dồi
vốn con người của mình để đáp lại cha mẹ.
- Niềm tin có thể được hiểu như sự chấp nhận đặt lợi ích của mình vào tay của
người khác. Ông nói thẳng: ―Chất lượng cuộc sống cũng như khả năng
cạnh tranh của một quốc gia tùy thuộc vào một đặc tính văn hóa độc đáo
lan tỏa trong quốc gia ấy, đó là mức độ tin cẩn nhau trong xã hội”. Để
minh chứng, ông cho rằng Trung Quốc, Pháp, Ý vì có mức tin cẩn lẫn nhau
thấp nên đã mất thế cạnh tranh với Mỹ, Nhật và Đức là những nước có mức
tin cẩn nhau cao. Trong một xã hội mà mức tin cẩn nhau thấp thì kinh doanh
thường hạn chế trong phạm vi gia đình, không có nhiều đại công ty (nếu
không được nhà nước tổ chức hoặc giúp đỡ). Xí nghiệp sẽ dễ bành trướng
trong một xã hội mà mức tin cẩn nhau cao.
5 năm sau khi viết như thế, trong một bài tham luận trình bày tại Quỹ Tiền tệ quốc
tế, ông định nghĩa: ―Vốn xã hội là hành vi mẫu mực không chính thức (informal)
phát sinh ngay lập tức và nó thúc đẩy sự hợp tác giữa hai người hay nhiều người
4
(nhường chỗ ngồi cho người già). Các hành vi mẫu mực tạo nên vốn xã hội có thể
bắt đầu từ một sự tương tác tự nhiên giữa hai người bạn lên cao cho đến tận các học
thuyết phức tạp và tinh vi như Cơ đốc giáo và Phật giáo. Hành vi mẫu mực phải
bung ra ngay lập tức (tức thời) trong các mối quan hệ cá nhân cụ thể. Hành vi mẫu
mực có đi có lại nằm ẩn trong mọi giao dịch của tôi đối với mọi người, và chỉ trở
thành cụ thể trong sự giao dịch của tôi đối với những bạn của tôi‖.
Không phải mọi hành vi mẫu mực phát sinh tức thời đều sẽ tạo nên vốn xã hội. Trái
lại chỉ có những cái nào giúp cho các nhóm trong xã hội hợp tác với nhau, hay tạo
nên sự hợp tác, thì đó mới là hành vi mẫu mực. Đa phần chúng lại là các đức tính
truyền thống như lòng trung thực, sự giữ lời hứa, việc thi hành bổn phận một cách
đáng tin cậy, sự tương tác và tinh thần trách nhiệm.
Theo ông, vốn xã hội xuất phát từ ba nguồn:
- Thứ nhất, như các nhà kinh tế đã nêu, là từ sự giao tiếp với nhau liên tục; hai
người giao dịch với nhau lâu sẽ thấy cần phải chứng tỏ mình là người trung
thực và giữ lời hứa.
- Thứ hai, là từ các tôn giáo hay hệ thống luân lý. Đó là nguồn gốc của một
quyền uy, nó ấn định các hành vi mẫu mực và trông đợi sự tuân thủ không
cần suy nghĩ. Những mẫu mực đó không chỉ diễn ra trong các cuộc thương
thảo riêng lẻ mà còn được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, qua các
qui trình đã được xã hội hóa sử dụng tập quán và thói quen nhiều hơn là lý
lẽ.
- Thứ ba, sự chia sẻ các kinh nghiệm lịch sử cũng tạo nên những hành vi mẫu
mực một cách không chính thức và do đó cũng tạo nên vốn xã hội. Thí dụ, cả
Đức và Nhật đều đã trải qua các cuộc đình công của thợ thuyền, rồi xung đột
chủ thợ với chính quyền trong những năm 1920, 30. Hai chính quyền ấy đã
phải trấn áp các nghiệp đoàn lao động độc lập và thay thế họ bằng công đoàn
―vàng‖. Sau khi hai nước bại trận, họ có cách tiếp cận mềm dẻo hơn đối với
việc quản lý các quan hệ lao động; kết quả là ở Đức đã có chính sách kinh tế
thị trường xã hội (Sozialmarktwirtschaft) còn ở Nhật là chế độ làm việc suốt
5
đời. Dẫu cũng còn những bất cập, hai định chế này đã đóng vai trò quan
trọng trong sự phục hồi kinh tế của hai nước kia và tạo nên một loại vốn xã
hội.
Thu gọn lại những điều trên, ta thấy vốn xã hội xuất phát từ các đức tính của mỗi
cá nhân (trung thực, trách nhiệm, hợp tác…) khi họ tự nguyện kết hợp lại với
nhau để làm một công việc chung nào đó. Xin gọi chúng là các yếu tố tinh thần.
Mối tương quan giữa các công trình trong xã hội với vốn xã hội và các yếu tố tinh
thần có thể thấy qua một thí dụ là công tác đắp đê chống lụt. Công tác này chính là
một công trình của xã hội – mọi người chung sức làm, kẻ cuốc, người đào, ai cũng
chăm chỉ (đó là vốn xã hội) – sở dĩ họ làm được như thế vì mỗi người tham gia ý
thức được mối lo chung và bổn phận của mình (đó là các yếu tố tinh thần). Xã hội
sẽ hoạt động tốt đẹp nhất khi mọi công dân chung lưng đấu cật để thực hiện một
mục tiêu chung và do đó chia sẻ một văn hóa của công dân (civic culture). Khi sự
tin cẩn lẫn nhau được tích tụ lại nhờ các sinh hoạt tự nguyện, thì đó là vốn xã hội,
và nó tạo ra những tài sản chung. Vốn đó làm cho các cố gắng của chính quyền trở
nên hữu hiệu.
Theo tác giả Huỳnh Thanh Điền, gần đây các nhà nghiên kinh tế sử dụng khái
niệm vốn xã hội của các nhà xã hội học như Broudieu (1986), Coleman (1988),
Putnam(1996) để đo lường mối quan hệ với tăng trưởng và phát triển kinh tế trên
nhiều phương diện. Kết quả nghiên cứu cho thấy vốn xã hội có tác động tỷ lệ thuận
và có ý nghĩa thống kê đến thu nhập hộ, tăng trưởng và phát triển kinh tế trên nhiều
phương diện, chẳng hạn như:
- Nghiên cứu ở Indonexia của Grooteart (1998); ở TanZania của Narayan và
Pritchet (1997); ở Kenya của La Ferrar (2002) đo lường vốn xã hội bằng
cách xác định mức độ tham gia sinh hoạt cộng đồng của các cá nhân trong hộ
giá đình. Kết quả nghiên cứu cho thấy tác động của vốn xã hội đến phúc lợi
của hộ là rất lớn và tỷ lệ thuận.
- Nghiên cứu của Eward Miguel, Paul Gerler và David I Levine (2002) về sự
tác động của quá trình công nghiệp hoá ở Indonexia đến vốn xã hội. Kết quả
nghiên cứu đề nghị nên dự báo vốn xã hội trong phân tích các chính sách
6
kinh tế xã hội, nghĩa là cần có một mô hình đầu tư vốn xã hội để gợi ý chính
sách cho quá trình công nghiệp hoá của Indonexia từ năm 1997.
- Nghiên cứu của John Maliccio, Lawrance Haddad, And Julia N May (1999)
về vốn xã hội và sự sinh ra thu nhập ở Nam Phi giai đoạn 1993 – 1998.
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu điều tra từ ở những tỉnh lớn nhất của Nam Phi để
ước lượng hàm chi tiêu bình quân đầu người với vốn xã hội. Nghiên cứu cố
định các yếu tố tác động khác để xem vốn xã hội tác động đến chi tiêu. Kết
quả nghiên cứu cho thấy vốn xã hội không có tác động đến chi tiêu bình quân
đầu người trong năm 1993 nhưng lại có tác động tỷ lệ thuận và có ý nghĩa
vào năm 1998. Tác giả giải thích điều này do sự thay đổi cấu trúc nền kinh tế
Nam Phi, mà nguyên nhân là nạn phân biệt chủng tộc ở Nam phi đã được
tháo bỏ.
- Nghiên cứu của Christan Bjonskov (2004) về tác động của các yếu tố cấu
thành vốn xã hội tác động đến thu nhập. Ông chỉ ra rằng mạng lưới xã hội
của cá nhân đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra thu nhập cho người đó.
Tuy nhiên, phụ nữ nhận được thu nhập từ mạng lưới xã hội nhiều hơn nam
giới.
- Nghiên cứu tác động của vốn xã hội đến các căn bệnh xã hội được thực hiện
bởi Dr.Holtgrave và R A Crosby (2003) ở Mỹ. Kết quả nghiên cứu cho thấy
vốn xã hội có tác động đến các căn bệnh xã hội như lậu, giang mai, Aids.
Những nghiên cứu thực nghiệm trên đã khẳng định được vai trò của vốn xã hội đối
với phát triển kinh tế trên nhiều phương diện như thu nhập, chi phí giao dịch, thông
tin hòan hảo, các vấn đề xã hội Đặc tính lớn nhất của vốn xã hội là sự tín cẩn, nhờ
sự tín cẩn mà tạo nên một mạng lưới đoàn kết giữa các cá nhân, giữa các tổ chức,
thậm chí của cả hệ thống chính trị. Tính minh bạch của hệ thống chính trị, lòng tin
của người dân vào lãnh đạo cũng chính là vốn xã hội của quốc gia.
Cụ thể hơn, theo tác giả Trần Hữu Dũng, vốn xã hội mang lại những lợi ích cho
kinh tế:
7
- Vốn xã hội giúp giải quyết những ―bài toán tập thể”. Cụ thể, có những tình
huống mà mọi người đều có lợi (có thể khá lớn) nếu mỗi người làm một việc
nhỏ, song lợi ích (lớn) đó chỉ hiện thực khi mọi người đều làm việc nhỏ ấy.
Ví dụ đầy rẫy chung quanh ta: từ những việc quan trọng như đóng thuế, đến
những việc bình thường như dừng khi đèn đỏ hoặc không vứt rác nơi công
cộng. Nói theo các nhà kinh tế, vốn xã hội – như là kết tinh của một chuẩn
mực cư xử, một kì vọng chung của thành viên cùng một cộng đồng - giúp
giải quyết các ―bài toán phối hợp‖ (coordination problems). Đi xa hơn (dù
chưa thấy ai đề nghị), nhớ lại rằng nhiều nhà kinh tế đã giải thích những vấn
đề kinh tế vĩ mô như là hậu quả của sự ―thất bại phối hợp‖ (coordination
failures), người viết bài này nghĩ rằng ―tiếp cận vốn xã hội‖ có thể rất hữu
ích cho phân tích những hiện tượng vĩ mô tổng quát (như thất nghiệp, lạm
phát )
- Vốn xã hội tiết kiệm phí giao dịch (transaction costs). Mọi giao dịch xã hội
và kinh tế sẽ ít rủi ro hơn nếu những đối tác liên hệ ngầm hiểu rằng mọi
người đều theo một chuẩn tắc cư xử (tự trọng, sợ mất danh giá gia đình, giữ
lời hứa, chẳng hạn), bởi vì như vậy thì những cá nhân liên hệ sẽ không tốn
nhiều thời giờ và tiền bạc để bảo đảm rằng đối tác sẽ chu toàn trách nhiệm
của họ.
- Vốn xã hội có ảnh hưởng quan trọng đến chất lượng và tốc độ tích lũy của
những loại vốn khác. Chẳng hạn, vốn xã hội có thể làm tăng vốn con người
(Coleman 1988).
- Trong những xã hội ít tin cẩn (tức là nghèo vốn xã hội), quyết định thuê
mướn nhân viên thường bị ảnh hưởng của những đặc tính cá nhân người ấy
(chẳng hạn như thân nhân hoặc quen biết riêng), ít dính dáng đến khả năng
làm việc. Ở xã hội nhiều tin cẩn thì những yếu tố khác như học vấn, tay
nghề, sẽ được quan tâm hơn. Do đó, muốn tiến thân, người trong xã hội
thiếu tin cẩn hay tìm cách móc nối thay vì trau dồi khả năng hay kiến
thức của mình.
8
- Một xã hội nhiều vốn xã hội là một xã hội ít tội phạm. Khi sinh ra trong một
xã hội mà thành viên tin cẩn nhau thì con người cũng dễ có lòng tốt với
người khác. Hậu quả là xã hội sẽ ít tội phạm hơn. Lợi ích kinh tế không phải
nhỏ.
- Vốn xã hội của nhà nước là cái sườn, là thành tố của pháp chế. Càng nhiều
vốn xã hội thì tư pháp càng vững chắc, khế ước càng nhiều khả năng thực
thi, tham nhũng càng ít, quyết định của nhà nước càng minh bạch, dễ kiểm
soát, và bộ máy hành chính càng hữu hiệu.
- Vốn xã hội, qua dạng tin cẩn, sẽ tăng mức khả tín của quan chức nhà nước,
đặc biệt là khi họ tuyên bố về chính sách kinh tế và tài chính. Do đó vốn
xã hội sẽ nâng cao mức đầu tư và những hoạt động kinh tế khác.
- Một xã hội đoàn kết, ít chia rẽ (tức là phong phú vốn xã hội) sẽ dễ hồi phục
sau những cú ―sốc‖ kinh tế. Theo Rodrik (1999), những cú sốc này đòi hỏi sự
quản lí những quyền lợi khác nhau trong xã hội. Vốn xã hội giúp hài hòa
những xung khắc mà một cơn khủng hoảng kinh tế sẽ phơi trần. Thiếu vốn
xã hội, ảnh hưởng của các cú sốc kinh tế sẽ trầm trọng và lâu dài hơn.
Ngoài ra, theo tác giả, ý niệm ―vốn xã hội‖ là một cầu nối giữa tiếp cận kinh tế và
tiếp cận xã hội, và do đó cung cấp những lí giải phong phú và thuyết phục hơn về
hiện tượng phát triển kinh tế. Nó cho thấy bản chất và chừng mực tương tác giữa
các cộng đồng và thể chế có ảnh hưởng quan trọng đến thành tựu kinh tế. Nhận định
này có nhiều hệ luận quan trọng cho chính sách phát triển mà cho đến nay hầu như
chỉ nhắm vào mặt kinh tế.
- Mọi chính sách đều có một bối cảnh xã hội, và mỗi bối cảnh ấy là một hỗn
hợp tế nhị giữa các tổ chức không chính thức (informal), những mạng (quen
biết cá nhân), và các thể chế. Do đó, quy hoạch chính sách đòi hỏi, trước hết,
một phân tích xã hội và thể chế để nhận dạng mọi thành phần liên hệ, và liên
hệ giữa các thành phần ấy. Cụ thể, khi hoạch định một phương thức can thiệp
kinh tế hay xã hội, cần lưu ý đến khả năng các nhóm thế lực có thể động viên
ảnh hưởng của họ theo cách có hại cho cộng đồng chung.
9
- Phải xem vốn xã hội là một nguồn lực như các nguồn lực khác trong mọi
công trình xây dựng, dự án phát triển, từ cơ sở hạ tầng, đến giáo dục, y tế
Cũng nên nhớ rằng vốn xã hội là một loại ―hàng hóa công‖ và, cũng như các
loại hàng hóa công khác, nó sẽ không được thị trường cung ứng đầy đủ. Sự
hỗ trợ của nhà nước là cần thiết.
- Nói chung, cần vun quén vốn xã hội, song cũng nên nhớ (a) vốn xã hội
không phải bao giờ cũng tốt, (b) vốn xã hội thường là thuộc tính của một
―cộng đồng‖, một nhóm, đan xen, chồng chéo nhau - ít khi của toàn thể quốc
gia. Do đó, chính sách ―phát triển vốn xã hội‖ cần được cẩn thận chọn lọc, cụ
thể, trong đó có cả biện pháp kết nối những cộng đồng (mà nội bộ có vốn xã
hội riêng) trong một nước (Granovetter). Nó không thể là một chính sách
chung chung. Sự phân cực, manh mún trong xã hội sẽ làm giảm vốn xã hội.
Muốn phát triển kinh tế, chúng ta phải vượt lên những chia rẽ trong xã hội,
làm xã hội gắn kết hơn.
- Cần tăng cường khả năng tổ chức, phối hợp của người thu nhập thấp (nhưng
lại có thể rất giàu vốn xã hội) và giúp những tập thể, những nhóm xã hội liên
kết với nhau. Đặc biệt quan trọng là ―bắt cầu‖ (từ của Granovetter) giữa
những nhóm xã hội, bởi lẽ nhiều quyết định có ảnh hưởng đến người nghèo
là không xuất phát từ địa phương. Nhằm mục đích này, phải cổ động sự
tham gia đông đảo để tiến đến sự đồng thuận, cũng như tương tác xã hội,
giữa những người (khác nhau về quyền lợi và chênh nhau về nguồn lực)
trong tầm ảnh hưởng của quyết định ấy.
- Các tổ chức viện trợ của nước ngoài thường có một câu hỏi bức xúc: làm sao
để trợ giúp thành phần nào đó trong một xã hội vô cùng phức tạp, xa lạ đối
với họ? Tiếp cận ―vốn xã hội‖ nhấn mạnh rằng tiêu chuẩn chấp thuận một dự
án hỗ trợ như thế không thể chỉ dựa vào các tiêu chuẩn công nghiệp và tài
chính, mà còn phải để ý đến vốn xã hội địa phương.
- Từ quan điểm vốn xã hội, ta càng thấy cần có những chính sách ―tiết lộ
thông tin‖ (information disclosure) ở mọi cấp để công dân có nhiều thông tin
hơn, và do đó tăng cường ―tính trách nhiệm‖ ở khu vực công lẫn tư. Quan
10
niệm vốn xã hội đưa đến ý nghĩ là một chính sách tăng cường thông tin, nhất
là giữa các tầng lớp xã hội, là cần thiết – thêm một lí do để nhà nước đầu tư
vào những phương tiện truyền thông đại chúng.
- Liên hệ giữa các loại vốn xã hội thay đổi theo trình độ phát triển kinh tế.
Những lối sống ―cổ truyền‖ (dựa vào vốn xã hội giữa dân chúng) dần dần
được thay thế bằng những tổ chức xã hội có quy củ hơn. Thị trường ngày
càng mở rộng, quy mô sản xuất ngày càng lớn, nhưng sự phát triển ấy chỉ có
thể bền vững nếu số lượng và chất lượng vốn xã hội là đầy đủ và thích hợp.
Nhìn cách khác, ở mỗi giai đoạn phát triển là một tỷ lệ tổ hợp tối ưu giữa
vốn-xã-hội-dân-sự và vốn-xã-hội-nhà-nước và, trong chừng mực có thể,
chính sách phải linh động đồng nhịp với những thay đổi ấy.
1.1.3 Những nghiên cứu về tình hình vốn xã hội trên thế giới
Theo Sennett, R. (1998) thì “Dấu hiệu báo động đầu tiên của sự suy thoái nguồn
vốn xã hội là số người phát giàu mà không làm gì cả hay kiếm lợi bất chính một
cách công khai càng lúc càng đông và khoảng cách giữa những người nghèo lương
thiện và những người giàu gian manh mỗi ngày một lớn”.
Các nhà nghiên cứu về nguồn vốn xã hội trong tương quan kinh tế đều đồng ý với
nhau rằng, một nền kinh tế lành mạnh trong một đất nước có kỷ cương và văn hiến
không thể nào thiếu vắng nguồn vốn xã hội.
- Friedland (2003) đã nêu dẫn trường hợp các nước châu Mỹ La Tinh và sự èo
uột của vốn xã hội. Giới lãnh đạo và thân hào nhân sĩ trong vùng thường
vinh danh tinh thần địa phương và lòng tự hào nhân chủng một cách quá bảo
thủ và cực đoan đến độ lơ là không quan tâm đúng mức đến sự un đúc, nuôi
dưỡng và phát triển nguồn vốn xã hội. Hậu quả là sự thiếu hợp tác giữa
những thành viên xã hội và các thế lực đầu tư đã đưa đến quan hệ một chiều
và dẫn đến chỗ vốn xã hội bị phá sản. Các nhà kinh doanh đầu tư nản lòng
lui bước. Thay vì hợp tác song phương trong tinh thần ngay thẳng, bình
đẳng và danh dự thì lại biến tướng thành quan hệ ―đút‖ (bribe) và ―đớp‖
(being bribed) trong mối quan hệ bệnh hoạn của hối lộ và tham nhũng. Kết
quả là hơn một thế kỷ qua, các nước nghèo vẫn nghèo. Dân chúng vẫn lầm
11
than; nền kinh tế các nước trong vùng rất giàu tài nguyên nhưng vẫn kiệt quệ
vì giới tài phiệt sử dụng nhân lực và tài nguyên đất nước để làm giàu cho
riêng cá nhân, gia đình và dòng họ của mình rồi tìm cách chuyển tiền của và
gửi con cháu của mình ra nước ngoài du học và lập nghiệp.
- Putnam cũng đưa ra một số yếu tố để xác định vốn xã hội thông qua một số
ví dụ về sự suy giảm nguồn vốn này trong xã hội Mỹ ở thế kỉ 20:
Tham gia về chính trị và dân sự: ví dụ như tỉ lệ bỏ phiếu, mức độ hiểu biết
chính trị hay tin tưởng chính trị (politial trust). So với một thập kỉ trước
đây, hiện nay số lượng người Mỹ kí vào các thư kêu gọi giảm 30%, và
tham gia vào các cuộc tẩy chay hàng tiêu dùng giảm 40%. Điều đó cho
thấy sự suy giảm trong đời sống cộng đồng, các hoạt động của các câu lạc
bộ và các tổ chức tôn giáo cũng giảm đáng kể.
Các ràng buộc xã hội không chính thức: ví dụ vào năm 1975 trung bình
một người Mỹ mời bạn của mình về nhà chơi 15 lần một năm, con số đó
năm 1998 giảm xuống còn một nửa. Các hoạt động thể thao tập thể cũng
đang suy giảm.
Sự khoan dung và tin tưởng: mặc dù người Mỹ ngày càng khoan dung hơn
với người khác nhưng lại kém tin tưởng người khác hơn. Cơ hội nghề
nghiệp cho các ngành như cảnh sát, luật sư, và bảo vệ cá nhân đã giảm đi
trong thế kỉ 20. Ví dụ số lượng luật sư trên đầu người năm 1970 giảm so
với năm 1900.
Trong bestseller Bowling Alone của Robert Putnam, ông chiếu sáng sự suy giảm
của vốn xã hội ở Mỹ, tiết lộ như thế nào trong phần tư thế kỷ qua ―chúng tôi đã có
xu hướng tham gia các câu lạc bộ ít hơn, biết hàng xóm của chúng tôi ít hơn, đáp
ứng ít thường xuyên với bạn bè, và thậm chí cả xã hội ít thường xuyên hơn với gia
đình của chúng tôi‖. Bây giờ, trong nền dân chủ trong tuôn ra, Putnam tập hợp một
nhóm các học giả hàng đầu của những người mở rộng phát hiện của mình khi họ
kiểm tra nhà nước về vốn xã hội trong tám nền dân chủ tiên tiến trên thế giới. Cuốn
sách này được đóng gói với nhiều tiết lộ thú vị. Những người đóng góp ý, ví dụ,
rằng tham gia công đoàn, nhà thờ, và các đảng chính trị có vẻ là hầu như phổ quát,
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét