Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Nâng cao khả năng cạnh tranh của Cty thiết bị & phụ tùng Machinco

1.2.2 Căn cứ theo phạm vi ngành kinh tế
Ngời ta chia cạnh tranh thành hai loại:
1.2.2.1 Cạnh tranh trong nội bộ ngành
Là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất hoặc tiêu thụ một loại
hàng hoá hoặc dịch vụ nào đó. Trong cuộc cạnh tranh này có sự thôn tính lẫn nhau.
Những doanh nghiệp chiến thắng sẽ mở rộng phạm vi hoạt động của mình trên thị
trờng. Những doanh nghiệp thua cuộc sẽ phải thu hẹp kinh doanh thậm chí phá sản.
1.2.2.2 Cạnh tranh giữa các ngành.
Là sự cạnh tranh giữa các chủ doanh nghiệp trong các ngành kinh tế khác
nhau, nhằm giành lấy lợi nhuận lớn nhất. Trong quá trình cạnh tranh này, các chủ
doanh nghiệp luôn say mê với những ngành đầu t có lợi nhuận nên đã chuyển vốn
từ ngành ít lợi nhuận sang ngành nhiều lợi nhuận. Sự điều chuyển tự nhiên theo
tiếng gọi của lợi nhuận này sau một thời gian nhất định sẽ hình thành nên một sự
phân phối vốn hợp lý giữa các ngành sản xuất, để rồi kết quả cuối cùng là, các chủ
doanh nghiệp đầu t ở các ngành khác nhau với số vốn nh nhau thì cũng chỉ thu đợc
nh nhau, tức là hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân giữa các ngành.
1.2.3 Căn cứ vào mức độ, tính chất của cạnh tranh trên thị trờng
Ngời ta chia cạnh tranh thành ba loại:
1.2.3.1 Cạnh tranh hoàn hảo
Là hình thức cạnh tranh mà trên thị trờng có rất nhiều ngời bán, ngời mua
nhỏ, không ai trong số họ đủ lớn để bằng hành động của mình ảnh hởng đến giá cả
dịch vụ. Điều đó có nghĩa là không cần biết sản xuất đợc bao nhiêu, họ đều có thể
bán đợc tất cả sản phẩm của mình tại mức giá thị trờng hiện hành. Vì vậy một hãng
trong thị trờng cạnh tranh hoàn hảo không có lý do gì để bán rẻ hơn mức giá thị tr-
ờng. Hơn nữa sẽ không tăng giá của mình lên cao hơn giá thị trờng vì nếu thế thì
hãng sẽ chẳng bán đợc gì. Nhóm ngời tham gia vào thị trờng này chỉ có cách là
thích ứng với mức giá bởi vì cung cầu trên thị trờng đợc tự do hình thành, giá cả
theo thị trờng quyết định, tức là ở mức số cầu thu hút đợc tất cả số cung có thể cung
cấp. Đối với thị trờng cạnh tranh hoàn hảo sẽ không có hiện tợng cung cầu giả tạo,
5
không bị hạn chế bởi biện pháp hành chính nhà nớc. Vì vậy trong thị trờng này giá
cả thị trờng sẽ dần tới mức chi phí sản xuất.
1.2.3.2 Cạnh tranh không hoàn hảo
Nếu một hãng có thể tác động đáng kể đến giá cả thị trờng đối với đầu ra của
hãng thì hãng ấy đợc liệt vào hãng cạnh tranh không hoàn hảo Nh vậy cạnh
tranh không hoàn hảo là cạnh tranh trên thị trờng không đồng nhất với nhau. Mỗi
loại sản phẩm có thể có nhiều loại nhãn hiệu khác nhau, mỗi loại nhãn hiệu lại có
hình ảnh và uy tín khác nhau mặc dù xem xét về chất lợng thì sự khác biệt giữa các
sản phẩm là không đáng kể. Các điều kiện mua bán cũng rất khác nhau. Những ng-
ời bán có thể cạnh tranh với nhau nhằm lôi kéo khách hàng về phía mình bằng
nhiều cách nh : quảng cáo, khuyến mại, những u đãi về giá các dịch vụ trớc, trong
và sau khi mua hàng. Đây là loại hình cạnh tranh rất phổ biến trong giai đoạn hiện
nay.
1.2.3.3 Canh tranh độc quyền
Là cạnh tranh trên thị trờng mà ở đó một số ngời bán một số sản phẩm thuần
nhất hoặc nhiều ngời bán một loại sản phẩm không đồng nhất. Họ có thể kiểm soát
gần nh toàn bộ số lợng sản phẩm hay hàng hoá bán ra thị trờng. Thị trờng này có
pha trộn lẫn giữa độc quyền và cạnh tranh gọi là thị trờng cạnh tranh độc quyền, ở
đây xảy ra cạnh tranh giữa các nhà độc quyền. Điều kiện ra nhập hoặc rút lui khỏi
thị trờng cạnh tranh độc quyền có nhiều trở ngại do vốn đầu t lớn hoặc do độc
quyền về bí quyết công nghệ, thị trờng này không có cạnh tranh về giá cả mà một
số ngời bán toàn quyền quyết định giá cả. Họ có thể định giá cao hơn tuỳ thuộc vào
đặc điểm tiêu dùng của từng sản phẩm, cốt sao cuối cùng họ thu đợc lợi nhuận tối
đa. Những nhà doanh nghiệp nhỏ tham gia vào thị trờng này phải chấp nhận bán
hàng theo giá của nhà độc quyền.
Trong thực tế có thể có tình trạng độc quyền xảy ra nếu không có sản phẩm
nào thay thế sản phẩm độc quyền hoặc các nhà độc quyền liên kết với nhau. Độc
quyền gây trở ngại cho sự phát triển sản xuất và làm phơng hại đến ngời tiêu dùng.
6
Vì vậy ở mỗi nớc cần có luật chống độc quyền nhằm chống lại sự liên minh độc
quyền giữa các nhà kinh doanh.
1.3 các công cụ cạnh tranh chủ yếu của doanh nghiệp
Sự cạnh tranh gay gắt nhất luôn là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
cùng sản xuất, cùng cung ứng một loại hàng hoá hay dịch vụ. Do vậy các công cụ
cạnh tranh ở đây chủ yếu xem xét theo các doanh nghiệp trong cùng một ngành.
1.3.1 giá cả
Giá cả là phạm trù trung tâm của kinh tế hàng hoá của cơ chế thị trờng. Giá
cả là một công cụ quan trọng trong cạnh tranh. Giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của
giá sản phẩm mà ngời bán có thể dự tính nhận đợc từ ngời mua thông qua sự trao
đổi giữa các sản phẩm đó trên thị trờng giá cả phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Các yếu tố kiểm soát đợc: Đó là chi phí sản xuất, chi phí bán hàng, chi phí
lu thông, chi phí yểm trợ và tiếp xúc bán hàng.
- Các yếu tố không thể kiểm soát đợc : Đó là quan hệ cung cầu trên thị trờng,
cạnh tranh trên thị trờng, sự điều tiết của nhà nớc.
1.3.1.1 Các chính sách để định giá
Trong doanh nghiệp chiến lợc giá cả là thành viên thực sự của chiến lợc sản
phẩm và cả hai chiến lợc này lại phụ thuộc vào mục tiêu chiến lợc chung của doanh
nghiệp. Một trong những nội dung cơ bản của chiến lợc giá cả là việc định giá,
Định giá là việc ấn định có hệ thống giá cả cho đúng với hàng hoá hay dịch vụ bán
cho khách hàng. Việc định giá này căn cứ vào các mặt sau:
- Lợng cầu đối với sản phẩm : Doanh nghiệp cần tính toán nhiều phơng án
giá ứng với mỗi loại giá là một lợng cầu. Từ đó chọn ra phơng án có nhiều lợi
nhuận nhất, có tính khả thi nhất.
- Chi phí sản xuất và giá thành đơn vị sản phẩm: giá bán là tổng giá thành và
lợi nhuận mục tiêu cần có những biện pháp để giảm giá thành sản phẩm. Tuy nhiên
không phải bao giờ giá bán cũng cao hơn giá thành, nhất là trong điều kiện cạnh
tranh gay gắt nh hiện nay. Vì vậy doanh nghiệp cần nhận dạng đúng thị trờng cạnh
tranh để từ đó đa ra các định hớng giá cho phù hợp với thị trờng.
7
1.3.1.2 Các chính sách để định giá
- Chính sách giá thấp : Là chính sách định giá thấp hơn thị trờng để thu hút
khách hàng về phía mình. Chính sách này đòi hỏi doanh nghiệp phải có tiềm lực
vốn lớn, phải tính toán chắc chắn và đầy đủ mọi tình huống rủi ro có thể xẩy ra đối
với doanh nghiệp khi áp dụng chính sách giá này.
- Chính sách giá cao : Là chính sách định giá cao hơn giá thị trờng hàng hoá.
Chính sách này áp dụng cho các doanh nghiệp có sản phẩm độc quyền hay dịch vụ
độc quyền không bị cạnh tranh.
- Chính sách giá phân biệt : Nếu các đối thủ cạnh tranh cha có mức giá phân
biệt thì cũng là một thứ vũ khí cạnh tranh không kém phần lợi hại của doanh
nghiệp. Chính sách giá phân biệt của doanh nghiệp đợc thể hiện là với cùng một
loại sản phẩm nhng có nhiều mức giá khác nhau và mức giá đó đợc phân biệt theo
các tiêu thức khác nhau.
- Chính sách phá giá : Giá bán thấp hơn giá thị trờng thậm chí thấp hơn giá
thành.
Doanh nghiệp dùng vũ khí giá làm công cụ cạnh tranh để đánh bại đối thủ ra
khỏi thị trờng. Nhng bên cạnh vũ khí này doanh nghiệp phải mạnh về tiềm lực tài
chính, về khoa học công nghệ, và uy tín của sản phẩm trên thị trờng. Việc bán phá
giá chỉ nên thực hiện trong một thời gian nhất định mà chỉ có thể loại bỏ đợc đổi
thủ nhỏ mà khó loại bỏ đợc đối thủ lớn.
1.3.2 Chất lợng và đặc tính sản phẩm
Nếu lựa chọn sản phẩm là công cụ cạnh tranh thì phải tập trung vào giải
quyết toàn bộ chiến lợc sản phẩm, làm cho sản phẩm thích ứng nhanh chóng với thị
trờng. Chất lợng sản phẩm là tổng thể các chỉ tiêu, những thuộc tính của sản phẩm
thể hiện mức độ thoả mãn nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng xác định phù
hợp với công dụng của sản phẩm.
Chất lợng sản phẩm trở thành công cụ cạnh tranh quan trọng của doanh
nghiệp trên thị trờng bởi nó biểu hiện sự thoả mãn nhu cầu khách hàng của sản
phẩm.
8
Chất lợng sản phẩm ngày càng cao tức là mức độ thoả mãn nhu cầu ngày
càng lớn dần đến sự thích thú tiêu dùng sản phẩm ở khách hàng tăng lên, do đó làm
tăng khả năng thắng thế trong cạnh tranh của doanh nghiệp.
Tuy nhiên nhiều khi chất lợng quá cao cũng không thu hút đợc khách hàng vì
khách hàng sẽ nghĩ rằng những sản phẩm có chất lợng cao luôn đi kèm với giá cao.
Khi đó, họ cho rằng họ không có đủ khả năng để tiêu dùng những sản phẩm này
Nói tóm lại muốn sản phẩm của doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh đợc
trên thị trờng thì doanh nghiệp phải có chiến lợc sản phẩm đúng đắn, tạo ra đợc
những sản phẩm phù hợp, đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trờng với chất lợng tốt.
1.3.3 Hệ thống kênh phân phối
Trớc hết để tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp cần phải chọn các kênh phân
phối, lựa chọn thị trờng, nghiên cứu thị trờng và lựa chọn kênh phân phối để sản
phẩm sản xuất ra đợc tiêu thụ nhanh chóng, hợp lý và đạt đợc hiệu quả cao. Chính
sách phân phối sản phẩm đạt đợc các mục tiêu giải phóng nhanh chóng lợng hàng
tiêu thụ, tăng nhanh vòng quay của vốn thúc đẩy sản xuất nhờ vậy tăng nhanh khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Thông thờng kênh phân phối của doanh nghiệp đợc chia thành 5 loại sau:

9
Ngời
sản
xuất
Ngời bán lẻ
Bán buôn
Ngời
tiêu
dùng
Ngời bán buôn
Ngời bán lẻĐại lý
Bán lẻ
Đại lý
Ngời bán lẻ
Sơ đồ 1 : Hệ thống kênh phân phối trong các doanh nghiệp
Theo sự tác động của thị trờng, tuỳ theo nhu cầu của ngời mua và ngời bán,
tuỳ theo tính chất của hàng hoá và quy mô của doanh nghiệp theo các kênh mà có
thể sử dụng thêm vai trò của ngời môi giới. Bên cạnh việc tổ chức tiêu thụ sản
phẩm, doanh nghiệp có thể đẩy mạnh các hoạt động tiếp thị, quảng cáo, yểm trợ
bán hàng để thu hút khách hàng. Nhng nhìn chung việc lựa chọn kênh phân phối
phải dựa trên đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng nh đặc điểm
kinh tế kỹ thuật của sản phảm cần tiêu thụ. Đồng thời việc lựa chọn kênh phân phối
cũng nh lựa chọn trên đặc điểm thị trờng cần tiêu thụ, đặc điểm về khoảng cách đến
thị trờng, địa hình và hệ thống giao thông của thị trờng và khả năng tiêu thụ của thị
trờng. Từ việc phân tích các đặc điểm trên doanh nghiệp sẽ lựa chọn cho mình một
thệ thống kênh phân phối hợp lý, đạt hiệu quả cao.
1.3.4 Các công cụ cạnh tranh khác
1.3.4.1 Dịch vụ sau bán hàng
Hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp không dừng lại sau lúc bán hàng thu
tiền của khách hàng mà để nâng cao uy tín và trách nhiệm đến cùng đối với ngời
tiêu dùng về sản phẩm của doanh nghiệp thì doanh nghiệp cần phải làm tốt các dịch
vụ sau bán hàng.
Nội dung của hoạt động dịch vụ sau bán hàng:
- Cam kết thu lại sản phẩm và hoàn trả tiền cho khách hoặc đổi lại hàng nếu
nh sản phẩm không theo đúng yêu cầu ban đầu của khách hàng
- Cam kết bảo hành trong thời gian nhất định
Qua các dịch vụ sau bán hàng, doanh nghiệp sẽ lắm bắt đợc sản phẩm của
mình có đáp ứng đợc nhu cầu của ngời tiêu dùng hay không.
1.3.4.2 Phơng thức thanh toán
10
Đây cũng là một công cụ cạnh tranh đợc nhiều doanh nghiệp sử dụng, phơng
thức thanh toán gọn nhẹ, rờm rà hay nhanh chậm sẽ ảnh hởng đến công tác tiêu thụ
và do đó ảnh hởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trờng.
Các doanh nghiệp có thể áp dụng các phơng pháp nh:
- Đối với khách hàng ở xa thì có thể trả tiền hàng qua ngân hàng, vừa nhanh
vừa đảm bảo an toàn cho cả khách hàng lẫn doanh nghiệp.
- Với một số trờng hợp đặc biệt, các khách hàng có uy tín với doanh nghiệp
hoặc khách hàng là ngời mua sản phẩm thờng xuyên của doanh nghiệp thì có thể
cho khách hàng trả chậm tiền hàng sau một thời gian nhất định.
- Giảm giá đối với khách hàng thanh toán tiền ngay hoặc mua với số lợng
lớn.
1.3.4.3 Vận dụng yếu tố thời gian
Những thay đổi nhanh chóng của khoa học công nghệ làm thay đổi nhanh
cách nghĩ, cách làm việc của con ngời, tạo thời cơ cho mỗi ngời, mỗi đất nớc tiến
nhanh về phía trớc. Đối với các doanh nghiệp yếu tố quyết định trong chiến lợc
kinh doanh hiện đại là tốc độ chứ không phải là yếu tố cổ truyền nh nguyên liệu lao
động. Muốn chiến thắng trong công cuộc cách mạng này, các doanh nghiệp phải
biết tổ chức nắm bắt thông tin nhanh chóng, phải chớp lấy thời cơ, lựa chọn mặt
hàng theo yêu cầu, triển khai sản xuất, nhanh chóng tiêu thụ để thu hồi vốn nhanh
trớc khi chu kỳ sản xuất sản phẩm kết thúc.
1.4 Nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thơng mại
1.4.1 Các yếu tố tạo nên khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp đợc hiểu là những lợi thế của doanh
nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh đợc thực hiện trong việc thoả mãn đến mức
cao nhất các yêu cầu của thị trờng.
11
Các yếu tố đợc coi là lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp so với các đối thủ
có thể là chất lợng sản phẩm, giá cả, mạng lới tiêu thụ, những tiềm lực về tài chính,
trình độ của đội ngũ lao động.
+ Chất lợng sản phẩm : Là tập hợp các thuộc tính của sản phẩm trong điều
kiện nhất định về kinh tế kỹ thuật. Chất lợng sản phẩm đợc hình thành từ khi thiết
kế sản phẩm cho đến khi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Doanh nghiệp muốn cạnh
tranh đợc với doanh nghiệp khác thì việc đảm bảo đến chất lợng sản phẩm là vấn đề
có ý nghĩa sống còn.
+ Giá cả : Là một công cụ quan trọng trong cạnh tranh, với doanh nghiệp
phải có những biện pháp hợp lý nhằm tiết kiệm chi phí hạ thấp giá thành của sản
phẩm. Từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của mình.
+ Mạng lới tiêu thụ.
+ Tiềm lực về tài chính : khi doanh nghiệp có tiềm lực tài chính mạnh, nhiều
vốn thì sẽ có đủ khả năng cạnh tranh đợc với các doanh nghiệp khác khi họ thực
hiện đợc các chiến lợc cạnh tranh , các biện pháp hỗ trợ tiêu thụ nh khuyến mại
giảm giá
+ Trình độ của đội ngũ lao động : Nhân sự là nguồn lực quan trọng nhất của
bất kỳ một doanh nghiệp nào vì vậy đầu t vào việc nâng cao chất lợng đội ngũ lao
động là một hớng đầu t hiệu quả nhất, vừa có tính cấp bách, vừa có tính lâu dài,
chính vì vậy công ty cần phải tổ chức đào tạo huấn luyện nhằm mục đích nâng cao,
chuẩn bị cho họ theo kịp với những thay đổi của cơ cấu tổ chức và của bản thân
công việc.
Vì vậy có thể nói rằng cả các yếu tố nh, chất lợng sản phẩm hình thức mẫu
mã sản phẩm, giá cả tiềm lực tài chính, trình độ lao động thiết bị kỹ thuật, việc tổ
chức mạng lới tiêu thụ các dịch vụ trớc, trong và sau khi bán hàng là những yếu tố
trực tiếp tạo nên khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
1.4.2 Các chỉ tiêu đánh giá khả năng canh tranh của doanh nghiệp
1.4.2.1 Thị phần
12
Là chỉ tiêu mà các doanh nghiệp thờng dùng để đánh giá mức độ chiếm lĩnh
thị trờng của mình so với đối thủ cạnh tranh.
Khi xem xét ngời ta đề cập đến các loại thị phần sau:
- Thị phần của toàn bộ công ty so với thị trờng : Đó chính là tỷ lệ phần trăm
giữa doanh số của doanh nghiệp so với doanh số của toàn ngành
- Thị phần của công ty so với phân khúc mà nó phục vụ : Đó là tỷ lệ phần
trăm giữa doanh số của công ty so với doanh số của toàn phân khúc.
- Thị phần tơng đối : Đó là tỷ lệ so sánh về doanh số của công ty so với đối
thủ cạnh tranh mạnh nhất, nó cho biết vị thế của công ty cạnh tranh trên thị trờng
nh thế nào?
Thông qua sự biến động của các chỉ tiêu này, doanh nghiệp biết mình đang
đứng ở vị trí nào và cần vạch ra chiến lợc hành động nh thế nào.
Ưu điểm : Chỉ tiêu này đơn giản dễ hiểu.
Nhợc điểm : Phơng pháp này khó đảm bảo tính chính xác do khó lựa chọn
những doanh nghiệp mạnh nhất, đặc biệt là kinh doanh trong nhiều lĩnh vực khác
nhau và thông thờng mỗi doanh nghiệp có thế mạnh trong một vài lĩnh vực nào đó
và để đảm bảo hiệu quả thì phải phân nhỏ sự lựa chọn này thành nhiều lĩnh vực.
1.4.2.2 Tỷ suất lợi nhuận
Một trong các chỉ tiêu thể hiện tiềm năng cạnh tranh của doanh nghiệp là.
Lợi nhuận
Tỷ suất doanh lợi =
Doanh thu
Hoặc
( Giá bán Giá thành )
Tỷ suất doanh lợi =
Giá bán
Nếu chỉ tiêu này thấp chứng tỏ cạnh tranh trên thị trờng rất gay gắt, ngợc lại
nếu chỉ tiêu này cao có nghĩa là doanh nghiệp kinh doanh rất thuận lợi.
13
1.4.2.3 Doanh số bán ra
Là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp. Khi doanh số bán của doanh nghiệp càng lớn thì thị phần của doanh nghiệp
trên thị trờng càng cao. Doanh số bán lớn đảm bảo có doanh thu để trang trải các
chi phí bỏ ra, mặt khác thu đợc một phần lợi nhuận và có tích luỹ để tái mở rộng
sản xuất. Doanh số bán ra càng lớn thì tốc độ chu chuyển hàng hoá và chu chuyển
vốn càng nhanh, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng của doanh nghiệp. Nh
vậy số bán ra càng lớn thì khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp càng cao.
1.4.2.4 Tỷ lệ chi phí marketing/ tổng doanh thu
Ngày nay không một doanh nghiệp nào bắt tay vào kinh doanh lại không
muốn gắn doanh nghiệp của mình với thị trờng. Vì trong cơ chế thị trờng chỉ có nh
vậy doanh nghiệp mới hy vọng tồn tại và phát triển đợc.
Một doanh nghiệp có thể cho rằng cứ tập trung mọi cố gắng của mình để sản
xuất ra thật nhiều sản phẩm, để làm ra những sản phẩm cực kỳ hoàn mĩ với chất l-
ợng cao, là chắc chắn sẽ thu đợc nhiều tiền từ ngời tiêu dùng. Điều đó, trên thực tế,
chẳng có gì đảm bảo. Bởi vì đằng sau phơng châm hành động đó còn ẩn náu hai trở
ngại lớn, hai câu hỏi lớn mà nếu không giải đáp đợc nó thì mọi cố gắng của doanh
nghiệp cũng chỉ là một con số không.
Một là, liệu thị trờng có cần hết, mua hết số sản phẩm doanh nghiệp tạo ra
không?
Hai là, liệu cái giá mà doanh nghiệp định bán, ngời tiêu ding có đủ tiền mua
hay không? Kết cục là cái mối liên hệ giữa doanh nghiệp với thị trờng cha đợc giải
quyết thoả đáng.
Để giải quyết đợc hai câu hỏi nhà lãnh đạo doanh nghiệp cần phải xác định
đợc, liệu tăng thêm chi phí này có ảnh hởng tới việc tối đa hoá lợi nhuận hay
không?
Tỷ lệ chi phí marketing/ tổng doanh thu cho phép doanh nghiệp đánh giá đợc
liệu một đồng chi phí marketing bỏ ra thu về đợc bao nhiêu đồng lợi nhuận trên
một đơn vị sản phẩm.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét