Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014

Ngàn Năm Mới Có Một Lần

du tăng trú ngụ. Đây là những truyền thống Hòa Thượng Đức Lâm tìm cách duy trì trong khi ngài
làm việc để phục hưng tu viện này.
Khi bạn không có tiền, bạn cần uyển chuyển và làm chậm chạp. Hòa Thượng Đức Lâm đã làm
công việc phục hưng tu viện Cao Mân trong hơn 20 năm qua. Đây là một tu viện khổng lồ trải ra
trên 230 mẫu đất, với hơn 200 tăng ni. Nhưng để hoàn tất tất cả các công trình theo dự trù, Hòa
Thượng Đức Lâm phỏng đoán sẽ cần thêm khõang 20 năm nữa theo mức độ xây dựng hiện nay.
Ngòai ra, tại Trung Quốc, khi bạn không có tiền thì nhà cầm quyền không thích bạn. Trong nhiều
năm qua, nhà cầm quyền đã áp lực Chùa Cao Mân để Chùa trở thành địa điểm du lịch. Họ đã kiên
trì yêu cầu Hoà Thượng Đức Lâm thâu lệ phí vào cửa. Hòa Thượng nhận xét "Họ bảo tôi rằng tôi
cần phải cởi mở Chùa Cao Mân. Tôi nghĩ chúng tôi đã rất cởi mở vì chúng tôi miễn phí. Tôi không
biết làm sao chúng ta có thể cởi mở hơn bằng cách tính lệ phí vào cửa".
Một Thầy trụ trì của một "Trung Tâm Giải Trí Phật Giáo" (Buddhist Disneyland) giải thích cho
chúng tôi là sự thoả thuận điển hình giữa nhà cầm quyền và tu viện là tu viện sẽ được 20% của lệ
phí vào cửa và nhà cầm quyền sẽ lấy 80% để dùng giới thiệu tu viện qua việc dựng lên những
bảng hiệu ngoài đường hướng dẫn đến tu viện, phổ biến bản đồ và chương trình du lịch bao gồm
các thông tin về tu viện trên các tạp chí du lịch. Tu viện nếu muốn có thể tính thêm lệ phí phụ trội
cho các sinh họat như leo tháp, đánh chuông v.v… và còn có thể cho các cơ sở thương mại thuê
mướn chỗ. Vào dịp Tết, những tu viện nổi tiếng có những đường dây điện thoại nóng (hotlines) để
khách có thể gọi giữ chỗ cho những vé mắc tiền. Đánh chuông để được may mắn được đưa ra
đấu giá dành cho người ra giá cao nhất. Nhà cầm quyền địa phương, theo tôi tin, đánh thuế lợi
tức tu viện như là một cơ sở thương mại thông thường. Đây là một sự rộng lượng lớn lao khi so
sánh việc các tu viện thường bị đối xử trước đây: chư tăng bị đánh đập và tu viện bị phá sập. Vì
vậy hiện nay có rất ít tu viện vẫn còn cho dân chúng đến viếng miễn phí. Tôi nghe rằng ngày nay
chỉ có hai tu viện là vào cửa miễn phí. Thầy trụ trì trẻ tuổi của "Trung Tâm Giải Trí Phật Giáo"
(Buddhist Disneyland) cho chúng tôi biết rằng ông không có lựa chọn nào khác là phải thâu lệ phí
vào cửa và cho các cơ sở thương mại mướn chỗ bởi vì đó là "sự tiến bộ lịch sử không thể nào
tránh được".
Theo lý tưởng Marxist, tất cả các xã hội đều tiến hoá đến chủ nghĩa cộng sản, là xã hội lý tưởng
của nhân loại. Các tôn giáo chỉ được xem là tốt nếu tiến theo lịch trình của chủ nghĩa xã hội, trong
trường hợp này là thúc đẩy kinh tế địa phương. Những thực hành về tâm linh chối bỏ thực tế chỉ
có vật chất đều được xem là "phong kiến", một từ ngữ Marxist có nghĩa là lỗi thời. Theo quan
điểm cộng sản, chủ nghĩa Mác là "khoa học", và do đó là Chân Lý, và tìm kiếm Chân Lý bên ngoài
chủ nghĩa Mác thì không được khuyến khích. (Khoa học và Chân Lý thường được dùng lẫn nhau
tại Trung Quốc). Những người tôn giáo nên biết rằng vai trò của họ trong thời đại "khoa học" tân
thời này là không thực hành "mê tín phong kiến" nhưng là để quản lý tài sản văn hóa của xã hội
và cung cấp sự an ủi tâm lý cho những người có tâm hồn yếu đuối. Cùng một lý luận như vậy cho
rằng chư tăng nên ăn thịt và kết hôn để lôi cuốn những người "có phẩm chất cao" trở thành tăng
ni, ví dụ những người có thể điều hành tu viện như là cơ sở thương mại và những người có thể
dùng lời của họ làm an lòng người khác.
Thầy trụ trì trẻ tuổi tốt nghiệp từ tu viện Phật Giáo chính thức tại Bắc Kinh. Là một vị sư đã thấm
nhuần tư tưởng, thầy nói rằng thầy sẽ dùng tiền do tu viện này sinh ra để lo cho cơ sở Phật Giáo
và cho các công việc từ thiện. Mặc dầu còn trẻ tuổi (gần 40 tuổi hoặc hơn 40), thầy đang phụ
trách hai tu viện nổi tiếng. Thầy cũng vui vẻ cho chúng tôi biết rằng thầy sẽ có một ghế trong Bộ
Chính Trị vùng vào năm tới. Không phải một thành tựu nhỏ trong quốc gia này.
Đối với một người ươn ngạnh cứng đầu như Hòa Thượng Đức Lâm, người mà có lẽ đã bị xem là
"Hữu khuynh" trước đây, và bây giờ bị xem là "Tả khuynh", nhưng do cách nầy hoặc cách khác,
luôn ở sai phía trong lịch sử, thì cuộc sống không phải dễ dàng.
Một mảnh đất lớn của Chùa Cao Mân bị các cơ quan khác nhau chiếm dùng vì nhiều lý do khác
nhau. Phải mất nhiều năm thương thảo mới lấy lại hầu hết đất đai. Khi con sông chung quanh
Chùa Cao Mân bị ô nhiễm nước không uống được, chính quyền từ chối không cho đưa ống dẫn
nước vào. Chỉ sau khi được một số "lãnh đạo" nào đó hòa giải, Chùa mới có nước máy. Trên một
trang web của chính phủ, chính quyền chỉ trích Chùa Cao Mân là không sử dụng tài nguyên tốt
đẹp và làm sụt giảm tiềm năng du lịch trong vùng.
Khi bạn không được nhà cầm quyền tôn trọng, thì có vẻ bạn cũng không được những nông dân
láng giềng tôn trọng. Một số nông dân dựng nên những bãi đậu xe giả tạo ngày trước cổng sơn
môn của Chùa. Khi bạn nói với họ rằng bạn sẽ đậu xe bên trong Chùa thì họ đòi bạn phải trả cho
họ lệ phí vào cửa.
Chắc hẳn 20 năm qua thật là gay go đối với Hòa Thượng Đức Lâm. Như thế mới hiểu tại sao ngài
nói “Tôi không muốn gặp Bác Sĩ. Mỗi khi tôi gặp bác sĩ nào thì bác sĩ đó cũng luôn bảo tôi rằng tôi
cần phải vào nằm bệnh viện.” Thầy tôi nói rằng “Lời khuyên của tôi là Hòa Thượng ít nhất nên
nằm trên giường và để người khác phục vụ ngài.” Hòa Thượng Đức Lắm nói khôi hài “Đó chính là
điều tôi mơ ước!”.
Sau khi nói chuyện với Hòa Thượng Đức Lâm, Thầy tôi và tôi lấy ra số tiền của những người trong
gia đình và bạn bè gởi nhờ cúng dường để trao lại cho Hòa Thượng. Trong quá khứ, một vị A La
Hán đã phát nguyện giúp người tạo phước bằng cách sẽ hóa thân đến nơi nào có pháp hội trên
một ngàn vị xuất gia, như buổi lễ truyền giới này chẳng hạn. Do đó chúng tôi rất vui mừng ủng
hộ. Chúng tôi đảnh lễ Hòa Thượng và đi ra ngoài.
Sau đó chúng tôi đến viếng thăm Thầy Văn Long, người sẽ trở thành vì trụ trì kế tiếp. Do áp lực
ngày mỗi mạnh từ phía chánh quyền, Hòa Thượng Đức Lâm đã quyết định sẽ về hưu dưỡng sau
buổi lễ truyền giới này. Ngài đã chọn Thầy Văn Long là người đệ tử của ngài hơn hai mươi năm
qua sẽ kế vị ngài. Thầy Văn Long là một vị thầy rất khiêm tốn. Khi chúng tôi mới gặp thầy, chúng
tôi không biết rằng thầy là phụ tá của Hòa Thượng Đức Lâm. Thầy trò chuyện với chúng tôi và
đưa đi thăm quanh chùa. Khi chúng tôi đề cập về chuyện về hưu dưỡng của Hòa Thượng Đức
Lâm, thầy nói đừng có lo. Thầy nói Hòa Thượng Đức Lâm là Thầy của thầy, do đó thầy luôn tuân
theo chỉ dẫn của Hòa Thượng. Thầy nguyện sẽ chống lại áp lực của nhà cầm quyền đòi tính lệ phí
vào cổng. Tuy nhiên Thầy Văn Long lại rất bệnh. Một trong những mục đích của chúng tôi khi đến
thăm Chùa Cao Mân là để điều trị cho thầy. Thầy bị phong thấp dọc theo cột xương sống và năm
ngoái đã nằm liệt giường nhiều tháng. Đây là loại bệnh rất đau đớn. Thầy cảm thấy rằng sức khỏe
của thầy có thể sẽ không cho phép thầy đảm nhận trách nhiệm điều hành Chùa Cao Mân. Nhưng
sau khi dùng thuốc của thầy tôi cho, thầy đã có thể giảm bớt việc dùng thuốc giảm đau.
Thầy tôi cũng điều trị hai phụ nữ làm việc tại nhà khách. Họ yếu đuối nhưng bệnh tình không
phức tạp. Họ chỉ làm việc quá sức và thiếu dinh dưỡng. Hòa Thượng Lai Quả cho phép ăn ba bữa
ăn mỗi ngày, nhưng chỉ một đĩa rau cải và cơm. Những người phụ nữ này nói rằng vì bây giờ có
nhiều khách nên họ ăn khá hơn một chút, nhưng thông thường họ chỉ ăn cơm trắng với rau cải
ngâm chua. Họ đã sống và làm việc tại Chùa Cao Mân được khoảng ba năm và dự định sẽ xuất gia
(vào tu chính thức trong chùa). Thỉnh cầu xuất gia của họ năm nay bị Hòa Thuợng Đức Lâm từ
chối, ngài nói họ cần được huấn luyện thêm vài năm nữa. Thầy của tôi hỏi họ rằng tại sao họ
không thử đến những tu viện khác vì với sự phát triển kinh tế của Trung Quốc trong 20 năm vừa
qua, có rất ít nơi mà người ta chỉ ăn cơm với rau cải chua. Họ chỉ mỉm cười e thẹn và nói “Ở đây
thì tốt hơn.”
Ngày hôm sau, chúng tôi đến dự lễ tụng kinh sáng. Hơn 800 sa di từ khắp Trung Quốc đến để thọ
Đại Giới trở thành tu sĩ thọ cụ túc giới. Con số ít so với 1000 người như dự trù, có lẽ do thiếu
thông báo. Giới đàn và phòng ở cho các sa di chưa được hoàn tất do thiếu phương tiện. Trong
suốt những ngày lễ, các vị sa di ở trong những tòa nhà bằng xi măng chưa hoàn tất và ngủ trên
những tấm gỗ có trải chiếu. Mặc dầu tiện nghi thiếu thốn, họ vẫn tỏa ra hào quang nghiêm túc.
Các vị tăng ni đi trong Phật Điện thành từng nhóm nhỏ tùy theo tu viện liên hệ của họ và mỗi
nhóm đều được dẫn đầu bởi một vị tăng thâm niên từ tu viện của họ.
Tượng Phật tại chánh điện chùa Cao Mân (tháng
3, 2009) (nhấn chuột vào hình để xem hình lớn
hơn)
Buổi lễ tụng kinh sáng về căn bản cũng giống như Vạn Phật Thánh Thành tại California . Thật là
thích thú khi nghe mọi người tụng chú Lăng Nghiêm với những thổ âm khác nhau, và tôi nhận
thức được Phật Giáo Trung Hoa liên kết thật chặt chẽ biết bao. Tuy không có một Giáo Hội trung
ương để điều hành giáo pháp, phong tục, nghi lễ, nhưng vẫn có sự đoàn kết giữa các tu viện khác
nhau. Không cần phải thay đổi lối sống nhiều, một vị tăng có thể đi đến những tu viện khác nhau
để học hỏi và tu tập. Mặc dầu những vị đại sư không được phong thánh, cộng đồng vẫn công
nhận họ như những vị thánh. Họ không phải là những nhà thần học chia rẽ con người thành
những trường phái tin tưởng khác nhau, mà chỉ đơn giản mang lại những giáo pháp thích hợp cho
những người khác nhau tại những nơi khác nhau vào những lúc khác nhau. Những tu viện không
liên hệ với nhau vẫn tự nguyện theo sự lãnh đạo của họ. Mặc dầu môi trường như vậy đã suy
giảm rất nhiều, khi bạn thấy cả ngàn vì tăng ni từ khắp nước Trung Hoa cùng làm chung một buổi
lễ, bạn có thể chứng kiến được dấu ấn của một truyền thống vĩ đại.
Chỉ vừa tụng kinh được vài phút thì một tia chớp khổng lồ lóe sáng lên. Vạn vật sáng lên trong
chớp nhoáng, ngay cả bên trong Phật điện. Tiếp theo ngay sau đó là một tiếng sấm lớn nhất mà
tôi từng nghe và mưa bắt đầu trút xuống. Tôi cảm thấy như đang ở trên một chiếc tàu giữa cơn
bão. Mưa ngừng lại ngay trước lúc chúng tôi bước ra khỏi Phật điện. Cơn mưa chỉ kéo dài chừng
hai mươi phút và không mưa trở lại suốt ngày hôm đó. Có vẻ như các vị rồng đến để rửa sách đất
đai. Tôi hy vọng cơn mưa là điểm báo một sự khởi đầu tốt đẹp, không chỉ cho việc truyền giới mà
còn cho Phật Giáo Trung Hoa. [Trong những lần thăm viếng về sau, tôi đã hỏi hai vị tăng sĩ từ Đài
Loan đã thọ giới trong buổi lễ đó, họ nói với tôi rằng trời mưa và sấm động vào ngày đầu tiên của
mỗi lần truyền giới trong toàn buổi lễ (Tam Đàn Đại Giới là ba lần truyền giới kết hợp lại trong một
kỳ lễ)].
Thiền đường ngày nay (tháng 3, 2009)
(nhấn chuột vào hình để xem hình lớn hơn)
“Cho đến bây giờ, Chùa Cao
Mân là nơi duy nhất ở Trung
Quốc tôi được gặp những
người tu hành tinh tấn.”
Cho đến bây giờ, Chùa Cao Mân là nơi duy nhất ở Trung Quốc tôi được gặp những người tu hành
tinh tấn. Truyền thống của Chùa Cao Mân thật vĩ đại, to lớn và đáng kiêu hãnh. Nhưng dầu với sự
cống hiến của Hòa Thượng trụ trì cùng những người theo ngài, tương lai của Chùa vẫn không có
gì chắc chắn. Các vị Hoàng Để không còn đến thăm viếng nơi này và chính quyền thì không thân
thiện về những tư tưởng và sự tổ chức không theo lý tưởng của Đảng. Quốc Gia Trung Tâm -
Trung Hoa - có thời được hãnh diện gọi là Quốc Gia Trung Tâm và nổi tiếng về truyền thống phong
phú, ngày nay có thể cảm thấy như là vùng đất khô cằn về tâm linh. Tôi tự hỏi Chùa Cao Mân sẽ
duy trì là một Tu Viện Thiền Lâm như thế nào. Trong một quốc gia mà hầu hết mọi người không
còn có một chút ý niệm về Phật Giáo, sẽ có những vị du tăng từ những vùng núi non xa xôi trở
nên giác ngộ tại đây chăng ? Chùa có thể tránh khỏi trở thành một cơ quan thương mại không ?
Tôi không biết.
Tuy nhiên tôi có được sự hiểu biết rõ hơn về quyết tâm của Hòa Thượng Tuyên Hóa nhằm bảo tồn
Phật Giáo bằng cách mang hạt giống Phật Giáo đến một vùng đất mới để được phát triển tự do.
Hy vọng một ngày nào đó Phật Giáo sẽ bắt rễ trở lại tại Trung Hoa.

Chinese | English | Vietnamese
ĐỨC PHẬT THUYẾT KINH PHÁP DIỆT TẬN
Trích từ sao lục của SENG YU Bản dịch Hán văn: Vô danh
Đại Chánh Tạng Quyển 13 Hịệt 1118 Số 396 Niết Bàn Bộ
Bản dịch Anh ngữ: Tỷ-khưu THÍCH HẰNG THẬT Vạn Phật Thánh Thành -Mỹ Quốc)
Bản dịch Việt ngữ: THÍCH NHUẬN CHÂU (Tịnh thất Từ Nghiêm, Đại Tòng Lâm)
Ban Việt Dịch Vạn Phật Thánh Thành đối chiếu Hán văn và hiệu đính
Như thật tôi nghe, một thời Đức Phật ở thành Câu-thi-na. Như Lai sẽ nhập niết-bàn
trong vòng ba tháng nữa, nên các tỷ-khưu, tỷ-khưu ni cũng như vô số các loài hữu tình
đến để cung kính đảnh lễ. Thế tôn tĩnh lặng , ngài không nói một lời và hào quang
không xuất hiện. Ngài A-nan cung kính đảnh lễ và hỏi:
“Bạch Thế tôn, từ trước đến nay bất lúc (kỳ khi) nào Thế tôn thuyết pháp, ánh sáng oai
nghi của Thế tôn đều tự nhiên xuất hiện, nhưng hôm nay trong đại chúng, không thấy
ánh hào quang ấy từ Thế tôn tỏa ra nữa, chắc hẳn có nhân duyên gì, chúng con mong
muốn nghe Đức Thế tôn giảng giải.”
Đức Phật vẫn im lặng không trả lời, cho đến khi A-nan cầu thỉnh đến ba lần, lúc đó Đức
Phật mới bảo A-nan:
“Sau khi Như Lai nhập niết-bàn, khi giáo pháp bắt đầu suy yếu, trong đời ngũ trược ác
thế, ma đạo sẽ rất thịnh hành, ma quỷ biến thành sa-môn, xuyên tạc phá hoại giáo
pháp của ta. Chúng mặc y phục thế tục , ưa thích y phục đẹp đẽ, cà sa sặc sỡ; uống
rượu, ăn thịt; giết hại sinh vật tham đắm mùi vị; không có lòng từ, thường mang sân
hận, đố kỵ lẫn nhau.
“Vào lúc ấy, sẽ có các vị Bồ-tát, Bích-chi Phật, A-la-hán hết sức tôn kính, siêng năng tu
đức, được mọi người kính trọng tiếp đãi., họ đều giáo hóa bình đẳng. Những người tu
đạo này thường cứu giúp kẻ nghèo, quan tâm người già, cứu giúp người gặp cảnh
nghèo cùng khốn ách. khuyến khích mọi người thờ phượng, hộ trì kinh tượng. Họ
thường làm công đức, hết lòng từ bi làm lành, không hại kẻ khác. hy sinh giúp đỡ
không tự lợi mình , thường nhẫn nhục nhân hòa.
“Nếu có những người như vậy, thì các tỷ-khưu tà ma đều ganh ghét họ, ma quỷ sẽ nổi
ác phỉ báng , xua đuổi trục xuất các vị tỷ-khưu chân chính ra khỏi tăng viện. Sau đó,
các tỷ-khưu ác ma này không tu đạo đức , chùa chiền tu viện sẽ bị hoang vắng, cỏ dại
mọc đầy. Do không chăm sóc bảo trì, chùa chiền trở thành hoang phế và bị lãng quên,
các tỷ-khưu ác ma sẽ chỉ tham lam tài vật tích chứa vô số của cải không chịu buông bỏ,
không tu tạo phước đức.
“Vào lúc đó các ác ma tỷ-khưu sẽ buôn bán nô tỳ để cày ruộng, chặt cây đốt phá núi
rừng, sát hại chúng sanh không chút từ tâm. Những nam nô trở thành các tỷ-khưu và
nữ tỳ thành tỷ-khưu ni không có đạo đức, dâm loạn dơ bẩn, không cách biệt nam nữ.
Chính những người này làm đạo suy yếu phai dần. Những người chạy trốn luật pháp
sẽ tìm đến quy y trong đạo của ta, xin làm sa-môn nhưng không tu giới luật. Giữa tháng
cuối tháng tuy có tụng giới, nhưng chỉ là trên danh nghĩa. Do lười biếng và phóng dật,
không còn ai muốn nghe nữa. Những ác sa-môn này sẽ không muốn tụng toàn văn bản
kinh, tóm tắt đoạn đầu và cuối bản kinh theo ý của họ . Chẳng bao lâu, việc tụng tập
kinh điển cũng sẽ chấm dứt. Cho dù vẫn còn có người tụng kinh, nhưng họ lại không
hiểu câu văn. vẫn khăng khăng cho họ là đúng, tự phụ, kiêu căng mong cầu danh tiế ng
, ra vẻ tao nhã để mong cúng dường.
Khi mạng căn của các ma ác tỷ-khưu này chấm dứt, thần thức của họ liền đọa vào địa
ngục A-tỳ. Đã phạm phải 5 tội trọng, nên họ phải tái sinh liên tục chịu khổ trong loài quỷ
đói và súc sinh. Họ sẽ nếm những nỗi thống khổ trong vô số kiếp nhiều như cát sông
Hằng. Khi tội h ết, họ sẽ tái sinh ở những vùng biên địa, nơi không có Tam bảo lưu
hành.
“Khi chánh pháp sắp biến mất, phụ nữ sẽ trở nên tinh tấn và thường làm việc công đức.
Đàn ông sẽ trở nên lười biếng và sẽ không còn ai giảng pháp . Những vị sa-môn chân
chính sẽ bị xem như đất phân và không ai tin ở các vị ấy nữa. Khi chánh pháp sắp suy
tàn, chư Thiên sẽ bắt đầu khóc lóc, sông sẽ khô cạn và năm thứ cốc loại không chín
(mất mùa, đói kém). Bệnh dịch thường xuyên xảy ra, cướp đi vô số mạng người. Dân
chúng phải làm việc cực khổ, quan chức địa phương mưu tính lợi riêng, không thuận
theo đạo lý, đều ưa thích rối loạn. Người ác gia tăng nhiều như cát dưới biển, người
thiện rất ít, hầu như chỉ có được một hoặc hai người.
“Khi kiếp sắp hết, vòng quay của mặt trời và mặt trăng trở nên ngắn hơn và mạng sống
của con người giảm lại. Bốn mươi tuổi đầu đã bạc . Đàn ông dâm dục, cạn kiệt tinh
dịch nên sẽ chết trẻ, thường là trước 60 tuổi. Khi mạng sống của nam giới giảm, thì
mạng sống cuả nữ giới tăng đến 70, 80, 90 hoặc đến 100 tuổi.
«Những dòng sông lớn sẽ dâng cao bất thường không đúng với chu kỳ tự nhiên, nhưng
con nguời không để ý hoặc không quan tâm. Khí hậu khắc nghiệt được xem là điều
bình thường. Người các chủng tộc lai tạp lẫn nhau không phân quý tiện, chìm đắm, trôi
nổi như cá rùa kiếm ăn .
«Lúc đó các vị Bồ-tát, Bích-chi Phật, A-la-hán bị chúng ma xua đuổi tr ục xuất không
còn cùng dự trong chúng hội . Giáo lý Tam thừa vẫn được lưu hành ở vùng hẻo lánh,
những người tu tập vẫn tìm thấy sự an lạc và thọ mạng kéo dài. Chư thiên sẽ bảo vệ và
mặt trăng sẽ chiếu sáng họ, giáo pháp Tam thừa sẽ có dịp hòa nhập và chính đạo sẽ
hưng thịnh. Tuy nhiên, trong năm mươi hai năm , kinh Thủ-lăng-nghiêm và Kinh Bát-
chu Tam-muội sẽ bị sửa đổi trước tiên rồi biến mất. Mười hai bộ kinh sau đó sẽ dần dần
bị tiêu trầm cho đến khi hoại diệt hoàn toàn và không bao giờ xuất hiện lại nữa. Văn tự
kinh điển sau đó hoàn toàn không được biết đến , giới y của sa-môn sẽ tự bị biến thành
màu trắng.
«Khi giáo pháp của ta sắp biến mất, cũng giống như ngọn đèn dầu tỏa sáng lên trong
chốc lát trước khi tàn lụi, chánh pháp cũng bừng sáng rồi suy tàn, Từ đó về sau khó nói
chắc được điều gì sẽ xảy ra.
«Thời kỳ này sẽ kéo dài suốt mười triệu năm. Khi Đức Di-lặc sắp thị hiện ở thế gian để
thành vị Phật tiếp theo, các cõi nước đều được hoàn toàn an vui. Khí độc sẽ bị tiêu tán,
mưa nhiều và đều đặn, n ăm thứ cốc loại tươi tốt , cây cối sum suê cao lớn, và loài
người sẽ cao đến tám trượng (hơn 24 mét, ) tuổi thọ trung bình của con người sẽ đến
84.000 năm, chúng sanh được độ khó có thể tính đếm được.»
Ngài A-nan thưa thỉnh Đức Phật :
«Bạch Thế tôn, chúng con nên gọi Kinh này là gì, và làm thế nào để phụng trì kinh ấy?»
Đức Phật bảo :
«Này A-nan, kinh này gọi là Pháp Diệt Tận. Hãy dạy cho mọi người truyền bá rộng rãi
kinh này. Những ai truyền bá kinh nầy, công đức của những người ấy không thể nghĩ
bàn, không thể nào tính đếm được.»
Khi bốn chúng đệ tử nghe nói kinh này rồi, họ đều rất đau lòng và buồn tủi, mỗi người
đều phát tâm tu đạo để đạt đến quả vị Thánh tối thượng, họ cung kính đảnh lễ Đức
Phật rồi lui ra.
HẾT
Vietnamese | English
Thử Luận Về Những Cống Hiến Của Hòa Thượng Tuyên
Hóa Đối Với Nền Phật Học
Trần Do Bân
Dịch từ nguyên bản Hoa Ngữ : Thí Luận Tuyên Hóa Lão Hòa Thượng Đích Phật Học
Cống Hiến đăng trên nguyệt san Vajra Bodhi Sea từ số
tháng 6, 1996 đến số tháng 10, 1997.
Mục Lục:
Chương Thứ Nhất: Lời Giới Thiệu
Phần 1: Động Cơ Nghiên Cứu
Phần 2: Chọn Lựa Tài Liệu
Phần 3: Phương Pháp Nghiên Cứu và Mục Tiêu Dự Định
Phần 4: Tóm Tắt Toàn Bộ Luận Án
Phần 5: Sơ Lược Tiểu Sử Hòa Thượng Tuyên Hóa
Chương Thứ Hai: Chánh Pháp
Phần 1: Chánh Pháp và Mạt Pháp
Phần 2: Anh Linh và Sự Siêu Độ
Phần 3: Chay Thuần Khiết và Chay Giả Mặn
Phần 4: Khí Công và Tà, Chánh
Phần 5: Quy Y và Phong Bì Đỏ
Phần 6: Luôn Mặc Áo Giới và Ăn Ngày Một Bữa
Chương Thứ Ba: Giảng Kinh
Chương Thứ Tư: Lão Tử và Trang Tử
Chương Thứ Năm: Sanh Tử
Chương Thứ Sáu: Bát Nhã
Chương Thứ Bảy: Thần Dị
Chương Thứ Tám: Viên Tịch
Chương Thứ Chín: Kết Luận
Chương Thứ Nhất: Lời Giới Thiệu
 
Phần 1: Động Cơ Nghiên Cứu
 
Từ năm 1989 khi tôi quy y với Hòa Thượng Tuyên Hóa và trong suốt sáu năm kế tiếp,
tôi chưa bao giờ nghĩ rằng Hòa Thượng sẽ rời bỏ cõi Ta Bà này sớm như vậy. Phải
chăng do chúng sanh chúng ta bạc phước cho nên Đại Sư Ấn Quang, Đại Sư Hoằng
Nhất, Đại Lão Hòa Thượng Hư Vân, Đại Lão Hòa Thượng Quảng Khâm, cùng nhiều
bậc cao tăng đã theo nhau viên tịch, và luôn cả người mà Lão Hòa Thượng Hư Vân
đích thân trao truyền Pháp mạch là ngài Tuyên Hóa cũng chẳng nán lại lâu hơn nữa?
Điều này khiến cho tôi không khỏi không ngớt ngậm ngùi thương tiếc.
Những người đã biết Hòa Thượng đều biết rằng Ngài suốt đời nghiêm trì hạnh nguyện
"giữa ngày ăn một bữa, tối ngủ không nằm" và thực hành Sáu Đại Tông Chỉ. Đặc biệt
trong thời Mạt Pháp nhiễu nhương, Hòa Thượng lại càng là biểu hiệu vững chắc của
Chánh Pháp, và là ánh sáng soi đường cho chúng sanh. Hòa Thượng không sợ sự hủy
báng của loài ma - đến đâu Ngài cũng xiển dương Kinh Lăng Nghiêm, tuyên giảng
Chánh Pháp, phá tà hiển chánh. Sau khi Hòa Thượng nhập Niết Bàn, tôi muốn tổng
hợp và quy nạp những lời nói và việc làm, cũng như những điều không nói và không
làm trong suốt cuộc đời của Ngài, mục đích là để cho người đời nhân đó mà có được
"Trạch Pháp Nhãn", có thể phân biệt tà chánh, đúng sai. Chỉ bằng cách đó chúng ta
mới có thể ngăn chặn đà suy vi của Phật Giáo, giữ cho Phật Giáo khỏi bị nhận chìm bởi
tà thuyết của ngoại đạo. Tôi tin rằng tất cả các Phật tử đều không muốn thấy chuyện đó
xảy ra.
Những cống hiến trong suốt cuộc đời của Hòa Thượng cho nền Phật Học đã được các
đệ tử của Ngài sưu tập rất chi tiết, đặc biệt là trong bộ kỷ yếu "Tuyên Hóa Lão Hòa
Thượng Truy Tư Kỷ Niệm Truyền Tập” I và II mới xuất bản gần đây nhất. Những tập
sách này, nói chung, đã giới thiệu quan điểm của Ngài về vấn đề giáo dục, phiên dịch
kinh điển, hoằng dương Phật Pháp, chế độ Tăng Già, tinh thần yêu nước yêu dân, luân

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét