CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
• Khối nghiệp vụ (front office): Là khối thực hiện các giao dịch kinh doanh và
dịch vụ chứng khoán. Khối này đem lại thu nhập cho công ty bằng cách đáp ứng nhu
cầu của khách hàng và tạo ra các sản phẩm phù hợp với các nhu cầu đó. Khối này
thường do một phó tổng giám đốc trực tiếp phụ trách. Tương ứng với các nghiệp vụ của
khối này sẽ có những bộ phận phòng ban nhất định tùy thuộc quy mô họat động của
công ty :
+ Phòng môi giới
+ Phòng tự doanh chứng khoán
+ Phòng bảo lãnh phát hành chứng khoán
+ Phòng quản lý danh mục đầu tư và quỹ đầu tư
+ Phòng tư vấn cho người đầu tư chứng khoán
+ Phòng tư vấn tài chính cho công ty….
• Khối phụ trợ (back office): Là khối không trực tiếp thực hiện các nghiệp vụ
kinh doanh, nhưng nó không thể thiếu được trong vận hành của CTCK, vì hoạt động của
nó mang tính chất trợ giúp cho khối nghiệp vụ. Khối này thường cũng do một phó tổng
giám đốc phụ trách, thực hiện các công việc yểm trợ cho khối nghiệp vụ.
Ngoài sự phân biệt rõ ràng như vậy, do mức độ phát triển của TTCK mà có thể
có thêm các bộ phận khác như: mạng lưới chi nhánh, văn phòng trong và ngoài nước,
đại lý nhận lệnh…
1.1.4. Chức năng và vai trò của công ty chứng khoán
Hoạt động của TTCK trước hết cần những người môi giới trung gian, đó là các
CTCK- một định chế tài chính trên TTCK có đội ngũ chuyên viên lành nghề và bộ máy
tổ chức phù hợp để thực hiện vai trò trung gian môi giới mua- bán chứng khoán, tư vấn
cho người đầu tư và thực hiện một số dịch vụ khác cho cả người đầu tư lẫn tổ chức phát
hành.
Công ty Chứng khoán là các tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền
kinh tế nói chung và TTCK nói riêng. Nhờ các CTCK mà chứng khoán được lưu thông
từ nhà phát hành tới người đầu tư và có tính thanh khoản, qua đấy thì có thể huy động
nguồn vốn từ nơi nhàn rỗi để phân bổ vào những nơi sử dụng có hiệu quả.
a) Chức năng cơ bản của công ty chứng khoán
SV: NGUYỄN THỊ MẾN LỚP: TCDN 47C
5
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
• Tạo ra cơ chế huy động vốn linh hoạt bằng cách nối bên có vốn với bên cần
huy động vốn (thông qua cơ chế phát hành và bảo lãnh phát hành)
• Cung cấp cơ chế giá cả cho cho giá trị các khoản đầu tư: Thông qua sở Giao
dịch chứng khoán và thị trường OTC; giúp nhà đầu tư có sự đánh giá tốt hơn về giá trị
khoản đầu tư, đồng thời góp phần điều tiết giá chứng khoán
• Tạo tính thanh khoản cho chứng khoán: Các CTCK đảm nhận chức năng
chuyển mặt thành chứng khoán có giá và ngược lại, giúp cho nhà đầu tư phải chịu ít
thiệt hại nhất khi tiến hành đầu tư.
• Góp phần điều tiết và bình ổn thị trường (thông qua hoạt động tự doanh hoặc
vai trò tạo lập thị trường) .
b) Vai trò của các công ty chứng khoán
Với những chức năng cơ bản như trên, CTCK có vai trò quan trọng đối với những
chủ thể khác nhau trên TTCK.
• Đối với các tổ chức phát hành: Mục tiêu tham gia của TTCK của các tổ chức
phát hành là huy động vốn thông qua việc phát hành các chứng khoán. Vì vậy, thông
qua các đại lý phát hành, bảo lãnh phát hành, các CTCK có vai trò tạo ra cơ chế huy
động vốn phục vụ các nhà phát hành. Một trong những nguyên tắc hoạt động của TTCK
là nguyên tắc trung gian. Nguyên tắc này yêu cầu những nhà đầu tư và những nhà phát
hành không được mua bán trực tiếp chứng khoán mà phải thông qua các trung gian mua
bán. Các CTCK sẽ thực hiện vai trò trung gian cho cả nhà đầu tư và nhà phát hành. Khi
thực hiện công việc này, CTCK đã tạo ra cơ chế huy động vốn cho nền kinh tế thông
qua TTCK.
• Đối với các nhà đầu tư: Thông qua các hoạt động như môi giới, tư vấn đầu
tư, CTCK có vai trò làm giảm chi phí và thời gian giao dịch, do đó nâng cao
hiệu quả đầu tư. Đối với hàng hóa thông thường, mua bán qua trung gian sẽ
làm tăng chi phí cho người mua và người bán. Tuy nhiên, đối với TTCK, sự
biến động thường xuyên của biến động giá cả chứng khoán cũng như mức rủi
ro cao sẽ làm cho nhà đầu tư tốn kém chi phí, công sức và thời gian tìm hiểu
thông tin trước khi quyết định đầu tư. Nhưng nếu được thông qua các công ty
chứng khoán, với trình độ chuyên môn cao và uy tín nghề nghiệp sẽ giúp cho
các nhà đầu tư thực hiện các khoản đầu tư một cách hiệu quả.
SV: NGUYỄN THỊ MẾN LỚP: TCDN 47C
6
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
• Đối với TTCK thì công ty chứng khoán có hai vai trò chính:
Góp phần tạo lập giá cả, điều tiết thị trường. Giá cả chứng khoán là do thị
trường quyết định. Tuy nhiên, để đưa ra mức giá cuối cùng, người mua và bán phải
thông qua các CTCK vì họ không được trực tiếp tham gia vào quá trình mua bán. Các
CTCK là những thành viên của thị trường, do vậy họ cũng góp phần tạo lập giá cả của
thị trường thông qua đấu giá. Trên thị trường sơ cấp, các CTCK cùng với nhà phát hành
cùng với nhà phát hành là những người đưa ra mức giá đầu tiên. Chính vì vậy giá của
mỗi loại chứng khoán giao dịch đều có sự tham gia định giá của các CTCK . Các CTCK
còn thể hiện vai trò lớn khi tham gia điều tiết thị trường. Để bảo vệ khoản đầu tư của
khách hàng và bảo vệ lợi ích cho chính mình, nhiều công ty chứng khoán đã dành một
tỷ lệ nhất định các giao dịch để thực hiện vai trò bình ổn thị trường .
Góp phần làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính.
TTCK có vai trò là môi trường làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài
chính. Nhưng các CTCK mới là người thực hiện tốt vai trò đó bởi vì CTCK tạo tạo ra cơ
chế giao dịch trên thị trường. Trên thị trường cấp 1, do thực hiện các hoạt động như bảo
lãnh phát hành, chứng khoán hóa, các CTCK không những huy động một lượng vốn lớn
đưa vào sản xuất kinh doanh cho nhà phát hành mà còn làm tăng tính thanh khoản của
các tài sản tài chính được đầu tư vì các chứng khoán qua các đợt phát hành sẽ được mua
bán trên thị trường cấp thứ cấp, do thực hiện các giao dịch mua và bán các CTCK sẽ
giúp người đầu tư chuyển đổi chứng khoán thành tiền mặt và ngược lại. Những hoạt
động đó có thể làm tăng tính thanh khoản của những tài sản tài chính.
• Đối với các cơ quan quản lý thị trường: CTCK có vai trò cung cấp thông tin
về TTCK cho các cơ quan quản lý thị trường. Các công ty chứng khoán có
thể thực hiện vai trò này bởi vì họ vừa là người bảo lãnh phát hành cho các
chứng khoán mới, vừa là trung gian mua bán chứng khoán và thực hiện các
giao dịch trên thị trường. Một trong những yêu cầu của TTCK là các thông tin
cần phải được công khai hóa dưới sự giám sát của các cơ quan quản lý thị
trường. Việc cung cấp các thông tin minh bạch và công khai vừa là qui định
của hệ thống luật pháp, vừa là nguyên tắc nghề nghiệp của các CTCK. Các
thông tin công ty chứng khoán cung cấp có thể bao gồm thông tin về các giao
dịch mua và bán trên thị trường, thông tin về các cổ phiếu, trái phiếu và tổ
SV: NGUYỄN THỊ MẾN LỚP: TCDN 47C
7
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
chức phát hành, thông tin về các nhà đầu tư…Nhờ các thông tin này, các cơ
quan quản lý thị trường có thể kiểm soát và chống hiện tượng thao túng, lũng
đoạn bóp méo thị trường .
Tóm lại, CTCK là một tổ chức chuyên nghiệp trên TTCK có vai trò cần thiết và
quan trọng đối với các nhà đầu tư, các nhà phát hành đối với các cơ quan quản lý thị
trường và đối với TTCK nói chung.
1.1.5. Các hoạt động cơ bản của công ty chứng khoán
Tùy theo quy mô hoạt động, mỗi một CTCK tại Việt Nam có thể có tối đa 5 nghiệp
vụ sau:
1.1.5.1. Hoạt động môi giới chứng khoán
Môi giới chứng khoán là hoạt động kinh doanh chứng khoán trong đó CTCK đại
diện cho khách hàng giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán
hay thị trường OTC mà chính khách hàng phải chịu trách nhiệm đối với quyết định mua
bán của mình.
Nghiệp vụ môi giới có 2 nhiệm vụ chính là:
+ Nối liền khách hàng với bộ phận nghiên cứu đầu tư, cung cấp cho khách hàng
các báo cáo phân tích và các kiến nghị đầu tư.
+ Nối liền những người bán và những người mua: Đem đến cho khách hàng các
loại sản phẩm và dịch vụ tài chính.
Xuất phát từ những yêu cầu trên, nhân viên môi giới chứng khoán đòi hỏi phải có
những phẩm chất đạo đức tốt, kỹ năng mẫn cán trong công việc và với thái độ công tâm,
cung cấp cho khách hàng những dịch vụ tốt nhất. Nhà môi giới không được xúi giục
khách hàng mua bán chứng khoán để kiếm hoa hồng, mà nên đưa ra những lời khuyên
hợp lý để hạn chế đến mức thấp nhất về thiệt hại cho khách hàng.
1.1.5.2. Hoạt động bảo lãnh và phát hành chứng khoán
Để thực hiện thành công các đợt chào bán chứng khoán ra công chúng đòi hỏi, tổ
chức phát hành phải cần đến các CTCK tư vấn cho đợt phát hành và thực hiện bảo lãnh,
phân phối chứng khoán ra công chúng và giúp bình ổn giá trong giai đoạn đầu sau khi
phát hành. Đây chính là nghiệp vụ bảo lãnh phát hành của các CTCK, và thường là
nghiệp vụ chiếm doanh thu khá cao trong tổng doanh thu của công ty chứng khoán.
SV: NGUYỄN THỊ MẾN LỚP: TCDN 47C
8
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Như vậy, hoạt động bảo lãnh phát hành là việc CTCK tiến hành thực hiện các hoạt
động hướng dẫn cho tổ chức phát hành trong việc phát hành một loại chứng khoán ra thị
trường như: tư vấn loại chứng khoán phát hành, tiến hành thực hiện các hoạt động liên
quan như thủ tục xin phép phát hành, công bố và niêm yết thông tin ra bên ngoài, tìm
kiếm và chào bán cho các khách hàng lớn… để công việc phát hành được triển khai
đúng trình tự và quy định của pháp luật.
Trên TTCK, tổ chức bảo lãnh phát hành không chỉ có Công ty chứng khoán mà
còn bao gồm các định chế tài chính khác như ngân hàng đầu tư, nhưng thông thường các
CTCK nhận bảo lãnh phát hành thường kiêm luôn việc phân phối chứng khoán, còn các
ngân hàng đầu tư thường đứng ra nhận bảo lãnh phát hành (hoặc thành lập tổ hợp bảo
lãnh phát hành) sau đó chuyển phân phối chứng khoán cho các công ty chứng khoán tự
doanh hoặc các thành viên khác.
Các hình thức bảo lãnh phát hành:
Bảo lãnh với cam kết chắc chắn: là hình thức bảo lãnh mà tổ chức bảo lãnh cam
kết sẽ mua toàn bộ số chứng khoán của tổ chức phát hành cho dù các nhà đầu tư
có đăng ký mua hết hay không.
Bảo lãnh với cam kết tối đa: đây là hình thức bảo lãnh mà tổ chức bảo lãnh
không cam kết mua toàn bộ chứng khoán của tổ chức phát hành. Tổ chức bảo
lãnh sẽ làm đại lý phát hành cho tổ chức phát hành và hưởng hoa hồng trên số
chứng khoán phát hành được. Tổ chức bảo lãnh chỉ cam kết cố gắng để bán
chứng khoán nhiều nhất có thể, phần chứng khoán còn lại không bán được sẽ trả
lại tổ chức phát hành. Vì vậy, với hình thức này việc lựa chọn tổ chức bảo lãnh
phát hành là việc hết sức quan trọng đối với tổ chức phát hành. Uy tín, năng lực
của tổ chức bảo lãnh phát hành sẽ thể hiện qua số lượng chứng khoán phát hành
thành công.
Bảo lãnh tất cả hoặc không: Đây là hình thức phát hành mà tổ chức bảo lãnh
phát hành được dành quyền để hủy bỏ đợt phát hành nếu toàn bộ chứng khoán
không được bán hết. Hình thức bảo lãnh này đòi hỏi các tổ chức bảo lãnh phát
hành phải cố gắng tối đa để chào bán chứng khoán nhằm đảm bảo cho đợt phát
hành thành công.
Bảng 1.1: Sơ đồ quy trình hoạt động bảo lãnh phát hành.
SV: NGUYỄN THỊ MẾN LỚP: TCDN 47C
9
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Đối với những đợt phát hành quan trọng của các tổ chức phát hành mà số lượng
chứng khoán cần bảo lãnh quá lớn so với khả năng của CTCK thì những công ty này sẽ
liên kết với các CTCK khác để có thể thực hiện được nghiệp vụ bảo lãnh phát hành cho
SV: NGUYỄN THỊ MẾN LỚP: TCDN 47C
Tổ chức
phát
hành
UBCK
Công ty
Chứng
Nhận yêu cầu bảo lãnh
Ký hợp đồng tư vấn quản lý
- Đệ trình phương án,
- Cam kết bảo lãnh
Nộp hồ sơ xin phép phát hành
Lập nghiệp đoàn bảo lãnh
Phân phối cổ phiếu trên cơ sở
phiếu đăng ký
Ký hợp đồng bảo lãnh
Giấy phép phát hành CK có hiệu lực
- Công bố việc phát hành
- Phân phát báo cáo bạch
- Phân phát phiếu đăng ký mua
CK
- Nhận tiền đặt cọc
Thăm dò thị trường
Bình ổn thị trường Thanh toánLưu ký CK
10
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
tổ chức phát hành đó. Việc liên kết nhiều CTCK trong việc cùng thực hiện bảo lãnh cho
các tổ chức phát hành được gọi là tổ hợp bảo lãnh hoặc đồng bảo lãnh. Ngày nay, đa số
các CTCK đều thực hiện theo xu hướng này vì như vậy ngoài sự đảm bảo tối ưu trong
việc thực hiện đợt phát hành, nó còn chia sẻ làm giảm mức độ rủi ro đối với từng đơn vị
kinh doanh chứng khoán.
1.1.5.3. Hoạt động tư vấn
Cũng như các loại hình tư vấn khác, hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán là công
việc CTCK thông qua hoạt động phân tích để đưa ra các lời khuyên, phân tích các tình
huống và có thể thực hiện một số công việc dịch vụ khác liên quan tới phát hành, đầu tư
và cơ cấu tài chính cho khách hàng. Đặc biệt, ở Việt Nam hiện nay trong chủ trương
quản lý và phát triển đối với các doanh nghiệp nhà nước thì dịch vụ tư vấn cổ phần hóa
được triển khai nhiều nhất.
Theo đối tượng của hoạt động tư vấn, thì có thể phân chia hoạt động tư vấn thành
2 loại là : Tư vấn cho người phát hành và tư vấn đầu tư.
Tư vấn cho tổ chức phát hành: Là hoạt động mà các CTCK sử dụng các
kiến thức đặc thù của mình nhằm giúp cho khách hàng trong việc xác định
giá trị doanh nghiệp, phát hành và niêm yết chứng khoán. Đây là một mảng
hoạt động quan trọng vì nếu như hoạt động này được thực hiện một cách tốt
đẹp thì sẽ hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp và tạo ra những loại hàng hóa
có chất lượng cao trên thị trường. Trong đó:
- Xác định giá trị doanh nghiệp: Là việc CTCK định giá doanh nghiệp trước khi
chào bán chứng khoán ra công chúng. Là cơ sở để đánh giá trong việc mua bán
và sát nhập công ty.
- Tư vấn tái cơ cấu nguồn vốn: Khi một doanh nghiệp nhận thấy cơ cấu vốn của
mình không phù hợp với điều kiện kinh doanh hiện tại hay không phù hợp với
nghành nghề của mình thì họ sẽ tìm cách tái cơ cấu nguồn để nâng cao hiệu quả
và đảm bảo kinh doanh an toàn. Khi đó, CTCK là một nhà đối tác thích hợp vì nó
có chuyên môn trong lĩnh vực tài chính.
- Tư vấn quản trị công ty: CTCK tư vấn cho khách hàng của mình trong việc xây
dựng điều lệ, cơ cấu tổ chức, hoạt động nhằm giúp các CTCP hoạt động hiệu quả
hơn trong giai động mới thành lập
SV: NGUYỄN THỊ MẾN LỚP: TCDN 47C
11
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
- Tư vấn phát hành: CTCK tư vấn cho tổ chức phát hành về cách thức phát hành,
xây dựng hồ sơ, bản cáo bạch…, và giúp tổ chức phát hành trong việc lựa chọn
tổ chức bảo lãnh và phân phối chứng khoán.
- Tư vấn niêm yết: Là việc CTCK giúp các doanh nghiệp thực hiện các thủ tục
theo quy định của pháp luật để đưa doanh nghiệp đó lên niêm yết tại SGDCK
hay TTGDCK.
Tư vấn đầu tư chứng khoán
Tư vấn đầu tư chứng khoán là việc đội ngũ tư vấn CTCK sử dụng các công cụ
phân tích cơ bản, phân tích kỹ thuật và thu thập các thông tin để đưa ra các lời khuyên
cho khách hàng về thời điểm mua, bán, thời gian nắm giữ, xu hướng và biền động của
thị trường. Hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán được phân loại theo các tiêu chi sau:
a) Theo hình thức của hoạt động tư vấn:
- Tư vấn trực tiếp: Khách hàng có thể gặp gỡ trực tiếp với các nhà tư vấn hoặc sử
dụng các phương tiện truyền thông như điện thoại, internet, fax… để hỏi ý kiến.
- Tư vấn gián tiếp: Là cách nhân viên tư vấn xuất bản các ấn phẩm hay đưa thông
tin lên những phương tiện truyền thông như internet để bất kỳ khách hàng nào
cũng có thể tiếp cận nếu muốn.
b) Theo mức độ ủy quyền của hoạt động tư vấn:
- Tư vấn gợi ý: Ở mức độ này, nhân viên tư vấn chỉ có quyền nêu ý kiến của mình
về những phương pháp, cách thức xử lý nhưng quyền quyết định là của khách
hàng.
- Tư vấn ủy quyền: Với nghiệp vụ này, nhà tư vấn sẽ tư vấn và quyết định thay
cho khách hàng tùy theo mức độ mà khách hàng đó ủy quyền.
Nguyên tắc cơ bản của hoạt động tư vấn:
• Không đảm bảo chắc chắn về giá trị chứng khoán: Giá trị chứng khoán không
phải là một số cố định, nó luôn thay đổi theo các yếu tố kinh tế và tâm lý của nhà
đầu tư.
• Luôn nhắc nhở khách hàng rằng những lời tư vấn của mình dựa trên những cơ sở
phân tích các yếu tố lý thuyết và những diễn biến trong quá khứ có thể là không
hoàn toàn chính xác và khách hàng là người quyết định cuối cùng. Trong việc sử
SV: NGUYỄN THỊ MẾN LỚP: TCDN 47C
12
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
dụng các thông tin từ nhà đầu tư cung cấp, nhà tư vấn sẽ không chịu trách nhiệm
về những thiệt hại kinh tế do lời khuyên đưa ra.
• Không được dụ dỗ, mời chào khách hàng mua, bán bất kỳ một chứng khoán nào
đó, những lời tư vấn phải được xuất phát từ cơ sở khách quan là quá trình phân
tích, tổng hợp một cách khoa học, logic các vấn đề nghiên cứu.
1.1.5.4. Hoạt động tự doanh
Tự doanh là việc công ty chứng khoán tự tiến hành các giao dịch mua, bán chứng
khoán cho chính mình.
Hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán được thực hiện thông qua cơ chế
giao dịch trên SGDCK hoặc thị trường OTC. Vì vậy, chứng khoán mà CTCK nắm giữ
có thể là chứng khoán niêm yết hoặc chưa niêm yết.
Đây là vấn đề nghiên cứu của chính đề tài nên em sẽ đề cập chi tiết ở những phần
sau.
1.1.5.5. Các nghiệp vụ phụ trợ
+ Lưu kí chứng khoán: Là việc lưu giữ, bảo quản chứng khoán của khách hàng
thông qua các tài khoản lưu ký chứng khoán. Khi thực hiện dịch vụ lưu ký chứng khoán
cho khách hàng, CTCK sẽ nhận được các khoản thu phí lưu kí chứng khoán (phí gửi,
phí rút và chuyển nhượng chứng khoán).
+ Quản lý thu nhập của khách hàng (quản lý cổ tức): Xuất phát từ việc lưu
kí chứng khoán cho khách hàng, công ty chứng khoán sẽ theo dõi tình hình thu lãi, cổ
tức của chứng khoán đồng thời CTCK đứng ra làm dịch vụ thu nhận và chi trả cổ tức
cho khách hàng thông qua tài khoản mở của khách hàng.
+ Nghiệp vụ tín dụng: Đối với các thị trường chứng khoán phát triển, bên cạnh
nghiệp vụ môi giới chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng, các CTCK còn
triển khai dịch vụ cho vay chứng khoán để khách hàng thực hiện giao dịch bán khống
(short sale) hoặc cho vay tiền để khách hàng thực hiện nghiệp vụ mua ký quỹ.
+ Nghiệp vụ quản lý quỹ: Ở một số TTCK, pháp luật còn cho phép CTCK được
quản lý được thực hiện nghiệp vụ quản lý quỹ đầu tư. Theo đó, CTCK cử đại diện của
mình để quản lý quỹ và sử dụng vốn, tài sản của quỹ để đầu tư. CTCK được quyền thu
phí dịch vụ quản lý quỹ đầu tư.
SV: NGUYỄN THỊ MẾN LỚP: TCDN 47C
13
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
1.2. Hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán
1.2.1. Khái niệm tự doanh chứng khoán
“Tự doanh chứng khoán là việc các CTCK tự tiến hành các giao dịch mua bán
chứng khoán cho chính mình”.
(Theo “Giáo trình thị trường chứng khoán” NXB Tài chính- 2002-Trường ĐH
Kinh Tế Quốc Dân)
1.2.2. Mục đích của hoạt động tự doanh
Hoạt động tự doanh của CTCK có thể được thực hiện trên các thị trường giao dịch
tập trung (trung tâm giao dịch chứng khoán, sở giao dịch chứng khoán), hoặc trên thị
trường OTC…Hoạt động tự doanh ngoài mục đích đem lại lợi nhuận cho công ty thì nó
còn góp phần can thiệp, điều tiết giá chứng khoán, tạo lập thị trường cho các chứng
khoán mới phát hành và thu gom cổ phiếu lô lẻ cho các khách hàng của mình.
Bên cạnh đó, hoạt động tự doanh còn gắn liền với hoạt động đầu tư của CTCK
thông qua việc tham gia đấu giá cổ phần, đấu thầu trái phiếu, các hoạt động thâu tóm và
sát nhập (M&A). Trong quá trình thâu tóm và sát nhập các CTCK có thể phối hợp với
các tổ chức tài chính góp vốn đầu tư vào các doanh nghiệp tư vấn, tái cơ cấu tài chính
và nâng cao giá trị doanh nghiệp để từ đó đưa ra niêm yết trên thị trường chứng khoán.
1.2.3. Đặc điểm của hoạt động tự doanh của CTCK
- Tự doanh chứng khoán của CTCK có tính chuyên nghiệp, chuyên môn hóa cao.
Tính chuyên nghiệp thể hiện trước nhất ở trình độ và khả năng của các cán bộ thực
hiện họat động tự doanh của CTCK. Họ là những người có kiến thức chuyên môn, có
khả năng phân tích, đưa ra các quyết định đầu tư đúng đắn và có thể làm việc dưới áp
lực rất cao. Mặc dù tính năng động và tự chủ được đề cao trong hoạt động tự doanh ở
các CTCK song mọi hoạt động đầu tư kinh doanh cổ phiếu, trái phiếu của các CTCK
đều phải tuân theo một quy trình đầu tư chặt chẽ để đảm bảo tính hiệu quả và an toàn
trong đầu tư. Quy trình đầu tư quy định rõ quyền hạn, trách nhiệm của tất cả các đối
tượng tham gia hoạt động tự doanh của công ty, đồng thời cũng đưa ra các bước đầu tư
cần thiết để thực hiện một phương án đầu tư. Bên cạnh đó hoạt động tự doanh của
CTCK luôn mang tính chiến lược, có mục đích và định hướng lâu dài. Dựa vào các phân
tích vĩ mô về thị trường và các điểm mạnh, yếu của công ty trong từng giai đoạn hoạt
SV: NGUYỄN THỊ MẾN LỚP: TCDN 47C
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét