Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

quản trị doanh nghiệp thương mại

Nội dung của đề tài gồm 3 chơng.
Chơng I: Những lí luận cơ bản về quản trị và quản trị cung ứng hàng hoá
trong doanh nghiệp thơng mại.
Chơng II: Khảo sát tình hình cung ứng hàng hoá tại công ty kinh doanh và
chế biến lơng thực Hà Nội.
Chơng III: Những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị cung ứng
hàng hoá tại công ty kinh doanh và chế biến lơng thực Hà Nội.
CHƯƠNG I: Những lý luận cơ bản về quản trị và quản trị
cung ứng hàng hoá trong doanh nghiệp thơng mại (Dntm)
I.Dm và môi trờng kinh doanh của DNTM
1. Khái niệm về doanh nghiệp thơng mại
a.Doanh nghiệp là gì ?
Thuật ngữ doanh nghiệp bao hàm những nội dung rất rộng. Thật vậy tất cả những
đơn vị kinh doanh là một cá nhân, một tổ chức, một tập thể hay thậm chí một cả quốc
gia khi có hoạt động mua bán hàng hoá hay dịch vụ đều đợc coi là một doanh nghiệp.
Những doanh nghiệp này có t cách pháp nhân, đợc cơ quan nhà nớc có thẩm quyền
cấp giấy phép kinh doanh và chịu sự kiểm soát của nhà nớc.
Vậy doanh nghiệp là một cộng đồng ngời liên kết thành lập nhằm mục đích chủ
yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh. Trong đó kinh doanh đợc hiểu là việc thực
hiện một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu t từ sản xuất đến tiêu thụ sản
phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trờng nhằm mục đích sinh lời. Cộng đồng ngời ở
đây liên kết với nhau chủ yếu trên cơ sở lợi ích kinh tế.
b.Doanh ngiệp th ơng mại
Doanh nghiệp thơng mại ra đời do sự phân công lao động xã hội và chuyên môn
hoá trong sản xuất: một bộ phận những ngời sản xuất kinh tách khỏi sản xuất làm
nhiệm vụ đa hàng ra ngoài thị trờng để bán. Dần dần công việc này trở thành cố định
và phát triển thành các đơn vị, các tổ chức kinh tế chuyên làm nhiệm vụ mua bán hàng
hoá để thu lợi nhuận. Đầu tiên doanh nghiệp thơng mại đợc xem nh là một doanh
nghiệp chủ yếu thực hiện các công việc mua bán hàng hoá T-H-T. Nhng ngày nay,
cùng với sự phát triển của lịch sử, sự tiến bộ của xã hội loài ngời hoạt động mua bán
không đơn thuần chỉ là T-H-T mà nó trở nên phức tạp đa dạng hơn: đã hình thành
nên những dịch vụ thơng mại và xúc tiến thơng mại. Vì vậy doanh nghiệp thơng mại
đợc hiểu nh là doanh nghiệp với chức năng chủ yếu thực hiện các hoạt động thơng
mại.
Hoạt động thơng mại chủ yếu hiện nay đợc phân thành 3 nhóm mua bán hàng
hoá, dịch vụ thơng mại, xúc tiến thơng mại trong đó dịch vụ thơng mại gắn liền với
mua bán hàng hoá, xúc tiến thơng mại là hoạt động nhằm tìm kiếm, thúc đẩy việc
mua bán hàng hoá và cung ứng dịch vụ thơng mại. Ngoài ra, doanh nghiệp thmm còn
thực hiện các hoạt động khác nh sản xuất, cung ứng dịch vụ, đầu t tài chính. Tuy
nhiên tỷ trọng hoạt động thơng mại vẫn là chủ yếu.
Tóm lại, doanh nghiệp thơng mại là một tổ chức độc lập có sự phân công lao động
rõ ràng và đợc quản lí bằng một bộ máy chính thức doanh nghiệp thơng mại có thể
thực hiện các hoạt động một cách độc lập với các thủ tục đơn giản và nhanh chóng.
c.Đặc điểm của doanh nghiệp th ơng mại
Khác với những loại hình doanh nghiệp khác nh doanh nghiệp sản xuất, doanh
nghiệp dịch vụ, đối tợng của doanh nghiệp thơng mại không ai khác chính là những
sản phẩm hàng hoá hoàn chỉnh. Nhiệm vụ của các doanh nghiệp thơng mại không
phải là tạo ra các giá trị sử dụng và giá trị mới mà ở đây doanh nghiệp thơng mại đảm
nhận công việc thực hiện giá trị: nghĩa là doanh nghiệp đa sản phẩm đến tay ngời tiêu
dùng để ngời tiêu dùng sử dụng những giá trị hữu ích của nó.
Hoạt động của doanh nghiệp thơng mại cũng giống nh một số những doanh
nghiệp khác. Nó bao gồm các quá trình kinh tế, tổ chức kĩ thuật nhng mặt kinh tế
nổi trội hàng đầu. Nhân vật quan trọng bậc nhất ở đây chính là những khách hàng,
những ngời tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cần phải hiểu
rằng lợi nhuận chỉ đặt ra trên cơ sở tăng mức độ thoả mãn nhu cầu của khách hàng mà
thôi.
Tập khách hàng của doanh nghiệp thơng mại rất đa dạng và phức tạp vì nhu cầu
của họ rất phong phú. Mọi hoạt động của doanh nghiệp suy cho cùng là hớng tới giá
trị khách hàng nên việc phân công chuyên môn hoá trong nội bộ từng doanh nghiệp
hay giữa các doanh nghiệp thơng mại cũng bị hạn chế rất nhiều.
Một đặc điểm không thể thiếu trong doanh nghiệp thơng mại, đó là sự liên kết
tất yếu của các doanh nghiệp thơng mại với nhau. Chính điều này sẽ tạo nên một
liên minh chặt chẽ trong việc chuyên môn hoá về một mặt hàng, một số sản phẩm
nhằm đạt tới sự thuận tiện trong hoạt động thơng mại của mình.
Nói tóm lại, doanh nghiệp thơng mại với những đặc điểm chủ yếu không thể tách
rời đã tạo nên một doanh nghiệp thơng mại hoàn toàn khác phân biệt rõ ràng với các
loại hình doanh nghiệp sản xuất , dịch vụ.
2. Môi trờng kinh doanh của doanh nghiệp thơng mại (DNTM)
2.1. Khái niệm môi trờng kinh doanh
Chúng ta có thể thấy rằng doanh nghiệp thơng mại là một hệ thống hoàn chỉnh có
sự phân công rõ ràng ở từng khâu, từng bộ phận. Nhng hệ thống đó không chỉ đơn
thuần nh vậy. Nó còn có các mối liên hệ phức tạp và đa dạng: mối liên hệ với khách
hàng, với thị trờng các yếu tố đầu vào: nguyên liệu, lao động, liên hệ với thị trờng, với
các doanh nghiệp, các tổ chức khác Những mối liên hệ này có ảnh hởng tiêu cực
cũng nh tích cực đến doanh nghiệp và đợc hiểu là môi trờng kinh doanh của doanh
nghiệp đó. Vậy môi trờng kinh doanh của doanh nghiệp là tổng hợp các yếu tố ( tự
nhiên và xã hội, chính trị và kinh tế, tổ chức và kĩ thuật ) các tác động và các mối
liên hệ ( trong, ngoài) của doanh nghiệp có liên quan đến sự tồn tại và sự phát triển
của doanh nghiệp. Môi trờng kinh doanh của doanh nghiệp thơng mại bao gồm môi
trờng bên ngoài, môi trờng bên trong, môi trờng tự nhiên và môi trờng xã hội.
2.2. Nội dung của môi trờng kinh doanh
a.Môi tr ờng bên ngoài
Là hệ thống toàn bộ các tác nhân bên ngoài doanh nghiệp có liên quan và có ảnh
hởng đến quá trình tồn tại vận hành và phát triển của doanh nghiệp.
*Môi trờng kinh doanh bên ngoài bao gồm:
Môi trờng đặc trng của doanh nghiệp là những yếu tố mà môi trờng kinh doanh
riêng có của từng doanh nghiệp. Đây là yếu tố môi trờng làm nó phân biệt với các
doanh nghiệp khác. Bao gồm các nhà cung cấp, các khách hàng, những tổ chức cạnh
tranh, nhà nớc
Các nhà cung cấp: phải kể đến ở đây không chỉ là những nhà cung cấp nguyên vật
liệu, thiết bị, hàng hoá mà phải đề cập đến cả những nhà cung cấp tài chính nh ngân
hàng, tín dụng hay những nhà cung cấp khác nh điện, nớc Nhìn chung, doanh
nghiệp cần phải duy trì một hệ thống các nhà cung cấp đa dạng để tránh và giảm bớt
những rủi ro đáng tiếc do một số nhà cung cấp gây ra tạo thuận lợi trong hoạt động
kinh doanh của công ty.
Khách hàng: lí do tồn tại của doanh nghiệp chính là khách hàng. Số lợng khách
hàng gia tăng đồng nghĩa với những bất trắc, rủi ro của công ty giảm xuống. Nhng
nhu cầu của khách hàng là phức tạp và việc đáp ứng nhu cầu cho họ quả là khó khăn.
Vì vậy các doanh nghiệp phải biến những khách hàng tiềm năng thành khách hàng th-
ờng xuyên, biến khách hàng thờng xuyên thành khách hàng truyền thống.
Những đối thủ cạnh tranh: đây là một trong những nhân tố quan trọng có ảnh h-
ởng mạnh mẽ và tác động trực tiếp tới doanh nghiệp. Một mặt các đối thủ cạnh tranh
làm doanh nghiệp phải giảm bớt doanh số, tăng thêm chi phí, hạ giá bán, giảm thị
phần. Nhng mặt khác họ lại là động lực - đồng nghiệp giúp doanh nghiệp luôn sáng
tạo cải tiến để hấp dẫn, thu hút lôi cuốn khách hàng.
Những nhân tố trên đây không thể không đề cập tới ở môi trờng kinh doanh đặc
thù của doanh nghiệp. Đó là những hạt nhân quan trọng chi phối mạnh mẽ đến hoạt
động của doanh nghiệp .
Môi trờng chung của doanh nghiệp: là toàn bộ các tác nhân nằm bên ngoài doanh
nghiệp. Mặc dù không có liên quan trực tiếp và rõ ràng với doanh nghiệp nhng lại có
ảnh hởng mạnh mẽ đến nó. Môi trờng kinh doanh chung bao gồm:
Những điều kiện kinh tế: đó là những vấn đề nh tăng trởng kinh tế, thu nhập quốc
dân, lạm phát thất nghiệp, lãi suất, tỉ giá hối đoái. Nếu những yếu tố này không ổn
định thì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ gặp rất nhiều khó khăn nh khó thu
hút đầu t, lợi nhuận không lớn
Những điều kiện về chính trị: Chính trị không ổn định nay thế này mai thế khác
dẫn đến những điều kiện kinh tế không chắc chắn. Chẳng có một nhà đầu t, một nhà
doanh nghiệp nào dại gì mà bỏ tiền vào những quốc gia có chế độ chính trị lộn xộn vì
mức độ mạo hiểm và tính chất rủi ro rất cao.
Những điều kiện về văn hoá xã hội: đó là những tập quán, những thói quen mang
tính truyền thống, những thị hiếu của dân c từng khu vực từng nhóm khách hàng cũng
ảnh hởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Những điều kiện về kĩ thuật công nghệ: ngày nay xã hội ngày càng phát triển
cùng với sự phát triển nh vũ bão của khoa học kĩ thuật và công nghệ, nhu càu khách
hàng cũng phức tạp đòi hỏi cao hơn vì vậy nếu doanh nghiệp với trang thiết bị và công
nghệ lỗi thời sẽ không đáp ứng đợc nhu cầu cho khách ảnh hởng tới tiến trình hoàn
thành mục tiêu của doanh nghiệp.
Các yếu tố môi trờng chung tác động không chỉ một mình doanh nghiệp nào mà
nó tác động đồng thời lên nhiều doanh nghiệp khác trong từng khu vực.
b.Môi tr ờng bên trong của doanh nghiệp
Môi trờng bên trong của doanh nghiệp đợc hiểu là nền văn hoá của tổ chức doanh
nghiệp đợc hình thành và phát triển cùng với quá trình vận hành của doanh nghiệp.
Đây chính là cái nôi nuôi dỡng bầu không khí, bản sắc tinh thần đặc trng riêng của
từng doanh nghiệp là động lực, nội lực thúc đẩy quá trình làm việc hăng say không
mệt mỏi vì doanh nghiệp, vì sự phát triển vững vàng của doanh nghiệp trong tơng lai.
Môi trờng bên trong của doanh nghiệp bao gồm 2 yếu tố: yếu tố vật chất và yếu tố
tinh thần.
*Yếu tố vật chất trong doanh nghiệp là những yếu tố nh điều kiện tài chính, cơ sở
vật chất kỹ thuật, trang thiết bị máy móc, đất đai nhà xởng Điều kiện tài chính: thể
hiện khả năng tự chủ cuả doanh nghiệp. Nếu điều kiện tài chính d dật doanh nghiệp có
thể tự quyết định mở rộng, đầu t hay tiến hành làm một công việc gì đó hết sức dễ
dàng. Ngợc lại điều kiện tài chính gặp khó khăn, các chủ nợ, các ngân hàng thúc hối
thì doanh nghiệp mất đi khả năng tự chủ, tự quyết định các kế hoạch của mình. Cơ sở
vật chất kỹ thuật, trang thiết bị máy móc, đất đai nhà xởng là tài sản quan trọng của
doanh nghiệp cũng góp phần không nhỏ trong việc thực hiện hoạt động kinh doanh có
hiệu quả. Điều này hoàn toàn đúng đối với những doanh nghiệp có khả năng tài chính
cũng nh các qui mô cơ sở vật chất hiện đại nhà xởng rộng lớn.
*Yếu tố tinh thần : một yếu tố quan trọng nhất tạo nên nền văn hoá của công ty.
Nó bao gồm những nhân tố nh con ngời, lợi thế kinh doanh, uy tín của doanh nghiệp.
Ngời ta nói: con ngời có khả năng thay đổi cả thế giới đã khẳng định vai trò to lớn
của nhân tố này. Trong doanh nghiệp yếu tố này đợc hiểu là toàn bộ ban lãnh đạo
công ty và tập thể cán bộ công nhân viên. Nền văn hoá phát triển cao với bầu không
khí hăng say làm việc đề cao sự sáng tạo hay một nền văn hoá thấp kém phổ biến sự
bàng quan thờ ơ vô trách nhiệm đều do yếu tố con ngời chi phối. Điều kiện về tài
chính trong doanh nghiệp hay lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp trên thơng trờng
đều do yếu tố con ngời quyết định, chi phối. Thế mới biết khả năng của con ngời thật
vĩ đại. Lợi thế kinh doanh, uy tín của doanh nghiệp: một nhân tố có lợi cho hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp. Uy tín về chất lợng, giá cả, thái độ phục vụ, dịch vụ sau
bán hàng tạo lòng tin cho ngời tiêu dùng hình thành nên một hình ảnh đẹp của công
ty. Bên cạnh đó doanh nghiệp còn tham gia các hoạt động xã hội, thực hiện trách
nhiệm xã hội gây ra mối thiện cảm của khách hàng.
c.Môi tr ờng tự nhiên và xã hội : đây là yếu tố tác động trực tiếp đến con ngời đến
khả năng làm việc có hiệu quả của con ngời. Đó chính là điều kiện làm việc, điều kiện
sinh hoạt, điều kiện sống của con ngời với môi trờng làm việc trong sạch không ô
nhiễm với những yếu tố ngoại cảnh thoáng mát, sạch sẽ có khuôn viên cây xanh tơi tốt
sẽ tạo cho con ngời tinh thần sảng khoái sức khẻo đảm bảo và năng suất lao động làm
việc đợc tăng lên. Ngợc lại điều kiện làm việc chật chội, ồn ào, bẩn thỉu sẽ tạo ra sự
ức chế tâm trạng dễ bị kích thích, quan hệ xã hội sẽ bị tổn thơng, mâu thuẫn xã hội dễ
bị tích tụ và bùng nổ.
Tóm lại các yếu tố môi trờng trong, ngoài, tự nhiên và xã hội là một phần không
thể thiếu khi đề cập đến môi trờng kinh doanh của bất cứ một doanh nghiệp nào.
II.Những nội dung cơ bản của quản trị doanh nghiệp thơng mại
1.Khái niệm về QTDNTM
Nói về quản trị, ngời ta đa ra rất nhiều quan điểm khác nhau. Theo quan điểm của
Nguyễn Văn Lê quản trị đợc giải thích nh sau: quản là đa đối tợng vào mục tiêu cần
đạt và trị là áp dụng những biện pháp mang tính hành chính, pháp chế nhằm đạt đợc
mục tiêu đó.
Còn theo quan điểm của Hkoontz quản trị là hoạt động cần thiết thiết yếu, nó đảm
bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt đợc các mục đích của nhóm. Mục tiêu
của nó là hình thành một môi trờng mà trong đó con ngời có thể đạt đợc các mục đích
của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân là ít nhất.
Quan điểm của tập thể tác giả học viện chính trị quốc gia: quản trị là sự tác động
của cơ quan quản lí vào đối tợng quản lí để tạo ra sự chế biến của toàn bộ hệ thống
nhằm đạt đợc mục đích nhất định.
Theo quan điểm của trờng phái tâm lí học thì quản trị là khoa học và là nghệ
thuật. Với cách thực hành thì quản trị là nghệ thuật còn kiếm thức về quản lí là khoa
học. Quản trị là biết xét đoán và đa ra các quyết định có cơ sở nhờ thu đợc các thông
tin nhanh chóng, đầy đủ rõ ràng về nhiều mặt.
Tóm lại, từ những quan điểm trên quản trị đợc hiểu là tập hợp các hoạt động
nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc qua nỗ lực ( sự thực hiện) của ngời khác.
Quản trị vừa là khoa học vừa là nghệ thuật bởi vì quản trị có cơ sở bắt nguồn từ
những môn khoa học khác, quản trị có đối tợng nghiên cứu rất cụ thể, có phơng pháp
phân tích và có lí thuyết xuất phát từ việc nghiên cứu đó. Điều này chứng tỏ quản trị
là khoa học. Nói quản trị là nghệ thuật quả không sai vì quản trị là cách ứng xử, hành
vi của các nhà quản trị. Những cách ứng xử, những hành vi này không tuân theo một
quy luật nào, không sách vở nào đề cập đến mà nó đòi hỏi những nhà quản trị phải
biết linh hoạt, sáng tạo vận dụng tuỳ vào tình huống cụ thể. Không thể kết luận rằng
một nhà quản trị có trình độ học vấn cao mà lại là một nhà quản trị tài ba.
Một vấn đề nữa cần chú ý, quản trị chính là quản trị sự thay đổi. Thế giới kinh
doanh tiến triển rất nhanh cùng các tiến bộ khoa học công nghệ. Những sự thay đổi
nhanh đến nỗi hiện tại hình nh cha bắt đầu tơng lai đã sẵn sàng đối đầu thách thức
chúng ta. Là nhà quản trị thì phải có tầm nhìn rộng lớn đồng thời phải sẵn sàng tiếp
nhận những thay đổi, có khả năng biến thách thức thành cơ hội và nắm bắt kịp thời
những cơ hội quý báu đó. Đặc biệt là những nhà quản trị trong cơ chế thị trờng một
cơ chế cạnh tranh và thải loại, một cơ chế không hề dung nạp những nhà quản trị chỉ
biết làm theo mệnh lệnh mà không đủ năng lực gây ra những thay đổi thậm chí những
đảo lộn hợp lí mà qua đó có thể đa doanh nghiệp mình phát triển một cách nhanh
chóng.
2. Vai trò của quản trị
Có thể nói vai trò của quản trị trong doanh nghiệp thơng mại nói riêng hay bất cứ
doanh nghiệp nào nói chung cũng có tầm quan trọng rất lớn. Ngời ta ví vai trò của
quản trị trong doanh nghiệp thơng mại nh vai trò của một nhạc trởng điều khiển cả
dàn nhạc trên sân khấu. Có thể hình dung công việc của nhạc trởng thật đơn giản chỉ
có mỗi nhiệm vụ vung đũa lên cao hay xuống thấp nhng điều đó lại có tác dụng to
lớn làm cả dàn nhạc ăn khớp nhịp nhàng với nhau. Thật vậy một nhạc sĩ độc tấu vĩ
cầm thì tự điều khiển bản thân mình nhng cả một dàn nhạc thì không thể thiếu ngời
nhạc trởng. Trong quản trị cũng vậy với sự buông lỏng quản lí hay quản lí tồi sẽ mở đ-
ờng cho chủ nghĩa tự do, sự rối loạn và điều tất yêú là ảnh hởng đến những hoạt động
khác trong doanh nghiệp. Nhng nếu có một nhà quản trị lỗi lạc tài ba thì chắc chắn sự
thành công trong mọi hoạt động của doanh nghiệp là trong tầm tay. Thực tế chứng
minh rằng nguyên nhân sự phá sản của những công ty lớn nhỏ thuộc về công tác quản
trị chiếm 50 ữ 60 %.
3. Chức năng của quản trị

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét