Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

Thừa kế là một trong những chế định quan trọng của dân luật các nước

A.MỞ ĐẦU:
Thừa kế là một trong những chế định quan trọng của dân luật các nước.
Quyền để lại thừa kế và quyền thừa kế là những quyền cơ bản của công dân
luôn luôn được pháp luật ở nhiều nước trên thế giới quan tâm,theo dõi và
bảo hộ. Việt Nam là một trong những nước đang phát triển với 4000 năm
lịch sử,có nền văn hóa với các truyền thống đạo đức lâu đời được truyền từ
đời này qua đời khác. Do đó đối với người Việt Nam hiện nay, việc coi
trọng các phong tục, tập quán,tình cảm cha con, vợ chồng, anh em gắn bó
keo sơn đã khiến cho không ít người bỏ qua việc đảm bảo quyền để lại thừa
kế của mình bằng cách thảo một bản di chúc. Bên cạnh đó có những người
đã lập di chúc nhưng lại chưa hiểu rõ về pháp luật khiến cho những bản di
chúc này không rõ ràng khiến cho những người thừa kế phải nhờ pháp luật
phân xử hộ (đưa ra tòa) làm giảm sút đi mối quan hệ tình cảm thân thuộc
vốn có. Chính vì vậy phần lớn các vụ việc thừa kế ở Việt Nam được giải
quyết theo qui định của pháp luật.
Việt Nam đang trên bước đường hội nhập thế giới đồng thời xu hướng toàn
cầu hoá đang diễn ra hết sức mạnh mẽ .Vì vậy tầm quan trọng của pháp luật
ngày càng nâng cao. Do đó nhu cầu nghiên cứu, sửa đổi luật pháp cho phù
hợp với tình hình đất nước đang ngày càng tiến lên là một nhu cầu cần thiết.
Phương pháp nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung tốt nhất cho pháp luật Việt Nam
có rất nhiều phương pháp,nhưng phương pháp chính và chủ yếu chính là
nghiên cứu, so sánh pháp luật Việt nam với pháp luật các nước trên thế giới
để tìm ra những yếu tố đặc sắc, phù hợp với hoàn cảnh lịch sử,điều kiện kinh
tế-xã hội-văn hoá của nước ta từ đó có những sửa đổi,bổ sung tốt nhất để áp
dụng vào thực tiễn nước ta.
Từ những lí do nêu trên ta thấy nghiên cứu vấn đề thừa kế theo qui định của
pháp luật ở một số nước trên thế giới có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn.
B.NỘI DUNG:
I.Vấn đề chung về thừa kế:
1.Khái niệm về thừa kế:
-Theo Từ Điển Tiếng Việt:
-Theo Từ Điển Luật Học: Thừa kế là sự truyền lại tài sản của người đã chết
cho người khác theo di chúc hoặc theo qui định của pháp luật.
Quyền thừa kế:cá nhân có quyền để lại di sản cho người thừa kế và người
thừa kế có quyền nhận di sản đó.
Quyền thừa kế gắn liền với quyền sở hữu của cá nhân.
- Theo quan điểm của Ăng- ghen: “là sự chuyển dịch tài sản của người chết
cho người còn sống”. Quyền thừa kế là quyền thừa hưởng tài sản của người
chết để lại theo một trình tự do pháp luật quy định. Pháp luật cho phép
những người thừa kế được hưởng di sản đồng thời buộc họ phải thực hiện
những nghĩa vụ tài sản của người chết.
- Theo pháp luật thực định: Thừa kế là một chế định pháp luật dân sự bao
gồm tổng hợp các qui phạm pháp luật do nhà nước ban hành qui định về
thừa kế,về việc bảo vệ và điều chỉnh chuyển giao tài sản của người đã chết
cho những người còn sống là người thừa kế.
2.Các hình thức thừa kế:
-Luật La Mã quy định hai hình thức cơ bản là thừa kế theo di chúc (testato)
và thừa kế theo luật (intestato), ngoài ra còn có thừa kế theo lệnh của các
quan. Ở thời kỳ đầu, hình thức chủ yếu là thừa kế theo luật, sau đó thừa kế
theo di chúc trở thành phổ biến hơn.
-Hiện nay đa số pháp luật các nuớc trên thế giới đều qui định có hai hình
thức thừa kế: thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật.
+Thừa kế theo pháp luật:là thừa kế theo hàng thừa kế,điều kiện và trình tự
thừa kế do pháp luật qui định.
+Thừa kế theo di chúc;là việc để lại di sản và việc huởng di sản theo ý chí
của người chết được thể hiên bằng văn bản hoặc bằng lời nói của người đó
trước khi chết. Đây là hình thức thừa kế nhằm bảo đảm cho cá nhân truớc
khi chết định đoạt tài sản của mình theo ý muốn của người đó,tuy nhiên sự
định đoạt đó chỉ hợp pháp khi đảm bảo các điều kiện luật định.
II. Pháp luật về thừa kế của một số nước trên thế giới.
2.1. pháp luật thừa kế ở Việt Nam
2.1.1. Diện thừa kế:
Theo pháp luật Việt Nam, diện những người thừa kế được dựa trên 3
mối quan hệ chính với người chết:
+ Thứ nhất, quan hệ hôn nhân: xuất phát từ việc kết hôn giữa vợ và
chồng.
+ Thứ hai, theo quan hệ huyết thống: Quan hệ giữa những người cùng
dòng máu (cụ với ông, bà; ông bà với cha mẹ; cha mẹ với các con; Anh chị
em ruột…)
+ Thứ ba, theo quan hệ nuôi dưỡng: xuất phát từ sự quan tâm, chăm
sóc, nuôi dưỡng lẫn nhau giữa những người không cùng huyết thống hay
không có quan hệ hôn nhân (cha mẹ nhận nuôi con nuôi).
2.1.2. Hàng thừa kế:
Hàng thừa kế theo pháp luật là nhóm những người có cùng mức độ
gần gủi với người chết và theo đó họ cùng hưởng ngang nhau đối với di sản
thừa kế mà người chết để lại.
Theo khoản 1 điều 678 BLDS 2005, pháp luật Việt Nam chia những
người trong diện thừa kế ra làm 3 hàng:
+ Hàng thứ nhất bao gồm: Vợ (chồng), cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ
nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.
+ Hàng thứ hai bao gồm: Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh
chị em ruột của người chết, cháu ruột của người chết mà người chết là ông
bà nội, ngoại.
+ Hàng thứ ba bao gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú
ruột, cô ruột, gì ruột, cậu ruột; cháu ruột của người chết mà người chết là
chú, bác, cô, dì, cậu (ruột), chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội,
ngoại.
2.2. Pháp luật thừa kế của nước Nga
Ở nước Nga cũng như VN chế định về thừa kế được chia thành thừa kế theo
pháp luật và thừa kế theo di chúc.
Trước hết, ta xem xét trên phương diện thừa kế theo pháp luật.
Nga là nước đầu tiên bước trên con đường xã hội chủ nghĩa. Do đó việc
nghiên cứu pháp luật của Nga là rất phù hợp cho việc phát triển pháp luật
Việt Nam.
2.2.1. thừa kế theo pháp luật
Hàng thừa kế
• Bộ luật dân sự Nga chia diện những người thừa kế ra 7 hàng với các
qui định tương đối giống với Việt Nam (điều 1141-BLDS Nga):
Hàng trên thừa kế trước, hàng dưới thừa kế sau; nhưng điều này vẫn
có khác so với pháp luật thừa kế ở VN. Vì theo khoản 1 điều 676
BLDS 2005 thì chia diện những người thừa kế ra 3 hàng. Theo pháp
luật nước Nga thì tại các điều 1142, điều 1143, điều 1144 thì những
người thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng
thừa kế trước hưởng di sản thừa kế ( giống khoản 2 điều 676 BLDS
2005 của VN).
• Những người thừa kế cùng hàng được chia phần bằng nhau (điều 1146
BLDS LIÊN BANG NGA)
• Cũng áp dụng các qui định về thừa kế thế vị đối với các hàng thừa kế.
(điêu 1146 blds LIÊN BANG NGA), đồng thời khi quy định về thừa
kế thế vị thì pháp luật nước nga quy định người thừa kế hợp pháp bị
tước quyền thừa kế thì không được thừa kế thế vị (khoản 2 điều 1446
BLDS LIÊN BANG NGA). Ba hàng thừa kế đầu bao gồm những
người theo trình tự ưu tiên hưởng di sản tương tự như điều 679 của
nước ta (điều 1142-1144). Những hàng thừa kế sau họ áp dụng
phương pháp tính bậc tương tự như của nước cộng hòa Pháp để xác
định mối quan hệ thân thuộc của những người thân thích khác đối với
người chết.
• Qua đó họ xác định những người thừa kế ở ba hàng sau bao gồm:
(điều 1145-BLDS Nga- Hàng thừa kế thứ 4 bao gồm những thân thích
bậc 3
- Hàng thừa kế thứ 5 bao gồm những thân thích bậc 4
- Hàng thừa kế thứ 6 bao gồm những thân thích bậc 5
- Hàng thừa kế thứ bảy là những người không có mối quan hệ huyết
thống với người chết là : Con riêng, bố dượng, mẹ kế.
Pháp luật Nga cũng có những qui định về trường hợp nuôi con nuôi
nhưng khác với Việt Nam, luật pháp Nga không công nhận quyền
thừa kế của con nuôi đối với cha mẹ nuôi và ngược lại (khoản 2 điều
1147).
Diện thừa kế
• theo pháp luật VN dựa trên 3 quan hệ là quan hệ hôn nhân, quan hệ
huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng. Và theo pháp luật Nga thì diện
thừa kế cũng tương tự như VN.
• Đặc biệt trong chế định thừa kế theo pháp luật của Liên Bang Nga còn
quy định về người nhận di sản (người hưởng thừa kế) là trẻ em (điều
1147) và người tàn tật (điều 1148).
2.2.2. THỪA KẾ THEO DI CHÚC
• Cũng như các nước khác trên thế giới thì nước Nga cũng quy định
ngoài chế định thừa kế theo pháp luật còn có thừa kế theo di chúc.
• Giống như pháp luật VN mà cụ thể là tại điều 652 BLDS 2005 quy
định các điều kiện để 1di chúc được coi là hợp pháp. Thì pháp luật
nước Nga quy định các trường hợp di chúc hợp pháp là di chúc phải
được lập thành văn bản và phải có công chứng bởi một công chứng
viên. Nếu không thỏa mãn điều kiện này thì di chúc sẽ vô hiệu ( theo
điều 1124 BLDS Liên Bang Nga) trừ trường hợp bất thường quy định
tại điều 1129 (Một công dân người đang ở trong một tình huống mà rõ
ràng là đe dọa cuộc sống của mình và những người, do đức hạnh của
hoàn cảnh bất thường hiện hành) thì không cần phải theo quy định tại
điều 1124.
• Luật cũng xác định những người không được làm chứng, chứng thực
di chúc gồm có: người liên quan đến di chúc như vợ chồng, cha mẹ,
con cái của người lập di chúc; công dân mà không có năng lực dân sự
đầy đủ;
người mù chữ;
công dân có khuyết tật về thể chất…(khoản 2 điều 1124).
• Theo pháp luật VN thì có 3 loại di chúc đó là di chúc bằng văn bản
không có người làm chứng, di chúc bằng văn bản có người làm
chứng, di chúc có công chứng hoặc chứng thực. còn theo pháp luật
liên Bang Nga thì di chúc gồm có những loại sau: di chúc được xác
nhận bởi 1 công chứng viên, di chúc bố trí nguồn kinh phí trong ngân
hàng và di chúc dưới những trường hợp bất thường.
• Pháp luật VN có quy định tuổi lập di chúc (điều 647 BLDS 2005)
nhưng BLDS Liên Bang Nga thì không quy định tuổi lập di chúc.
• Hình thức di chúc của theo pháp luật VN là bằng miệng hoặc bằng
văn bản còn theo pháp luật Nga thì hình thức chỉ bằng văn bản.
• Pháp luật nước Nga cũng như pháp luật VN đều quy định các trường
hợp sửa đổi, hủy bỏ di chúc.(điều 1130 BLDS Liên Bang Nga và điều
662 BLDS 2005 của VN).
• Tuy nhiên BLDS Liên Bang Nga không quy định về di chúc chung
của vợ chồng như BLDS VN. Và di sản dung vào việc thờ cúng và di
tặng theo pl VN không được quy định trong pl LBN.
2.2.3. So sánh với pháp luật Việt Nam
Như vậy, thông qua việc tìm hiểu về chế định thừa kế theo pl các nước
trong đó có nước Nga để đối chiếu, so sánh với pl VN chúng ta nhận thấy
chế định thừa kế giữa 2 nước có một số điểm tương đồng nhưng phần lớn
là khác nhau. Sở dĩ có sự khác nhau như vậy là vì 2 nước VN và Nga là 2
nước có chế độ chính trị khác nhau là XHCN và TBCN. Do đó pl chịu
ảnh hưởng bởi chế độ chính trị là điều tất yếu.
2.3. Thừa kế theo pháp luật cộng hoà Pháp
2.3.1. Diện và hàng thừa kế
*Diện thừa kế
Diện thừa kế là phạm vi những người có quyền hưởng di sản được xác định
trên cơ sở quan hệ huyết thống, quan hệ vợ chồng giữa người thừa kế và
người để lại di sản. So với pháp luật thừa kế của Việt Nam thì diện thừa kế
được xác định trên ba cơ sở là quan hệ huyết thống, quan hệ vợ chồng và
quan hệ nuôi dưỡng giữa người thừa kế và người để lại di sản, mặt khác
pháp luật Pháp quy định về diện thừa kế chủ yếu là thừa kế dựa trên quan hệ
huyết thống.
* Hàng thừa kế
Trên cơ sở diện thừa kế, bộ luật dân sự cộng hòa Pháp chia thành các hàng
thừa kế :
- Hàng thừa kế thứ nhất: Những người bề dưới (con của người chết,
không phân biệt độ tuổi, giới tính, không phụ thuộc vào hình thức hôn
nhân của cha mẹ)
- Hàng thừa kế thứ hai: Những người thừa kế phía trên. Nếu như không
có những người thừa kế trực hệ phía dưới thì những người thừa kế
trực hệ phía trên sẽ thừa kế di sản theo nguyên tắc người ở bậc gần
nhất sẽ loại trừ người ở bậc xa hơn và mỗi người hưởng một suất bằng
nhau.
+ Trong dòng trực hệ có bao nhiêu đời giữa mọi người là có bấy nhiêu
bậc: con đối với cha là bậc một, cháu đối với ông bà là bậc hai và
ngược lại(điều 737-BLDS cộng hòa Pháp).
+ Trong dòng bàng hệ các bậc cũng tính theo các đời : Từ một người
trong các thân thuộc đến ông tổ chung và không tính ông tổ chung rồi
từ ông tổ chung đến người kia: anh em là bậc hai, chú cháu là bậc ba
(điều 738-BLDS cộng hòa Pháp).
- Hàng thừa kế thứ ba: Anh chị em của người chết hoặc các con của
người đó ( trường hợp bố, mẹ, con của người chết không còn vào thời
điểm mở thừa kế hoặc người chết không có con thì anh chị em hoặc
các con của những người đó được hưởng thừa kế (điều 750-BLDS
cộng hoà Pháp).
- Hàng thừa kế thứ tư: vợ, chồng người chết; vợ, chồng mà bản án xử ly
thân chưa có hiệu lực pháp luật. Khi người chết không còn người thân
trực hệ và không còn một anh chị em hay cháu nữa thì vợ chồng mới
được quyền thừa kế. Chứng tỏ quyền thừa kế của vợ chồng không
được coi trọng khác hẳn với ở Việt Nam, vì theo pháp luật Việt Nam
vợ chồng của người chết thuộc hàng thừa kế thứ nhất, có sự khác biệt
về luật pháp này là do sự khác nhau giữa quan niệm đạo đức, giữa lối
sống đạo đức của người phương đông với lối sống phóng khoáng của
người phương tây. (Điều 765-BLDS cộng hòa Pháp:"Khi người chết
không còn thân thuộc đến bậc có thể thừa kế hoặc chỉ để lại những
thân thuộc bàng hệ không phải là anh chị em hoặc ti thuộc của anh,
chị, em, tài sản thừa kế đương nhiên hoàn toàn thuộc về vợ chồng
không ly hôn còn sống và không có bản án xử ly thân đã có hiệu lực
pháp luật" )
2.3.2. Thừa kế theo di chúc
Yêu cầu quan trọng nhất của chúc thư là phải tuân thủ đủ 3 nguyên tắc:
người lập di chúc phải có năng lực chủ thể, tức là phải đạt đến một độ tuổi
nhất định, có sự phát triển hoàn toàn bình thường về thể chất và tinh thần ;
người lập di chúc hoàn toàn tự nguyện, không chịu sự tác động từ bất cứ
người nào, không bị lừa dối, đe dọa hay cưỡng ép; nội dung của bản di chúc
không đi trái lại các quy định của pháp luật, không chống lại các nguyên tắc
đạo đức chung của cả xã hội.
* Hình thức di chúc :
Bộ luật dân sự Việt Nam quy định hình thức di chúc bao gồm di chúc bằng
văn bản và di chúc bằng miệng.(điều 649)
Di chúc bằng văn bản bao gồm:
- Di chúc văn bản không có người làm chứng: được áp dụng khi nó được
người lập di chúc tự tay viết và ký tên ( Điều 655).
- Di chúc văn bản có người làm chứng: khi người lập di chúc không thể tự
mình viết bản di chúc, thì có thể nhờ người khác viết hộ, nhưng phải có ít
nhất 2 người làm chứng ( Điều 656). Sau đó, người lập di chúc ký hoặc điểm
chỉ vào bản di chúc trước mặt người làm chứng, và những người này ký xác
nhận chữ ký hay điểm chỉ của người lập di chúc.
* Bộ luật Dân sự Pháp quy định rất chi tiết về hình thức di chúc, từ Điều 967
đến Điều 1001. Hình thức di chúc bao gồm 3 dạng, là: di chúc viết tay, công
chứng thư và di chúc bí mật (Điều 969)
- Di chúc viết tay chỉ có giá trị nếu người lập di chúc tự mình viết toàn bộ
phần nội dung, đề ngày, tháng, năm và ký tên. Di chúc này không bị bắt
buộc về hình thức trình bày(Điều 970).
- Công chứng thư phải do 2 công chứng viên hoặc 1 công chứng viên và 2
người làm chứng thừa nhận. Người lập di chúc đọc cho công chứng viên viết
tay, hoặc giao cho người khác viết tay, hoặc đánh máy chữ. Sau khi viết
xong thì phải đọc lại cho người lập di chúc nghe (Điều 972). Sau đó, người
lập di chúc ký tên trước mặt công chứng viên và người làm chứng (Điều
973). Cuối cùng, công chứng viên và người làm chứng phải ký tên vào văn
bản (Điều 974). Chỉ khi nào tuân thủ đủ các điều kiện cũng như các thủ tục
nêu trên thì một di chúc dưới dạng công chứng thư mới có hiệu lực.
- Di chúc bí mật là di chúc mà tờ giấy ghi nội dung di chúc hoặc tờ giấy làm
phong bì (nếu có) phải được dán kín, đóng dấu và niêm phong. Người lập di
chúc đưa bản di chúc đã được dán kín, đóng dấu và niêm phong của mình
cho công chứng viên và 2 người làm chứng; hoặc dán kín, đóng dấu và niêm
phong ngay trước mặt họ; và tuyên bố rằng nội dung ghi trong tờ giấy đó là
di chúc của mình, do tự mình viết hoặc do nhờ người khác viết nhưng đã
được mình kiểm tra nội dung. Trong mọi trường hợp, người lập di chúc đều
phải chỉ rõ lối chữ đã được dùng, là viết tay hay đánh máy. Sau đó, công
chứng viên sẽ viết bản chứng nhận ghi rõ ngày, tháng, năm, nơi lập và mô tả
rõ phong bì và con dấu cùng tất cả các thể thức trên đây. Cuối cùng, người
lập di chúc, công chứng viên và người làm chứng cùng ký vào bản chứng
nhận. Nếu một di chúc bí mật không tuân thủ đủ các thể thức đã nêu trên thì
nó không phải là di chúc bí mật, nhưng nếu vẫn thỏa mãn điều kiện của di
chúc viết tay thì nó vẫn được công nhận là di chúc viết tay.
- Ngoài ra, nhà làm luật còn dự liệu một số trường hợp đặc biệt về hình thức
di chúc, như di chúc của quân nhân, lính thủy và nhân viên quốc phòng, của
người bị ốm hoặc bị thương đang được điều trị trong bệnh viện hoặc các cơ
sở quân y Trong những trường hợp này, cấp chỉ huy hoặc y sĩ trưởng có
thể là người chứng nhận cho bản di chúc (Điều 981, 982).
- Trong mọi trường hợp, di chúc miệng đều không được công nhận. Đây
chính là quy định khác hẳn với quy định về hình thức di chúc của pháp luật
Việt Nam, trong khi pháp luật Việt Nam vẫn thừa nhận hình thức di chúc
miệng.
2.3.3. So sánh với pháp luật Việt Nam.
Nếu như ở Việt nam, những người thừa kế cùng hàng được chia phần như
nhau thì ở Phap lại có một số điểm khác biệt.Điều 733-BLDS cộng hoà Pháp
qui định di sản phải được chia làm hai phần cho bên nội và ngoại của người
chết rồi mới chia cho những người thừa kế tùy theo bên nội.Như vậy ví dụ
nếu bên nội còn một người thừa kế, bên ngoại ba người thì người thừa kế
bên nội sẽ nhận được phần di sản bằng ba người bên ngoại.Con cái được
hưởng phần thừa kế của cả hai bên nội ngoại. Đối với con cái cùng mẹ khác
cha hoặc cùng cha khác mẹ thì họ được hưởng phần tùy theo họ của mình.
Về quyền thừa kế của vợ (chồng), theo điều 765-BLDS cộng hòa Pháp:"Khi
người chết không còn thân thuộc đến bậc có thể thừa kế hoặc chỉ để lại
những thân thuộc bàng hệ không phải là anh chị em hoặc ti thuộc của anh,
chị, em, tài sản thừa kế đương nhiên hoàn toàn thuộc về vợ chồng không ly
hôn còn sống và không có bản án xử ly thân đã có hiệu lực pháp luật". Theo
điều này thì khi người chết không còn người thân trực hệ và không còn một
anh chị em hay cháu nữa thì vợ chồng mới được quyền thừa kế. Chứng tỏ
quyền thừa kế của vợ chồng không được coi trọng khác hẳn với ở Việt Nam
và càng khác xa so với Nhật. Sự khác biệt về luật pháp này có lẽ do sự khác
nhau giữa quan niệm đạo đức, giữa lối sống đạo đức của người phương đông
với lối sống phóng khoáng của người phương tây.
2.4. Thừa kế theo pháp luật Nhật Bản
2.4.1. Diện và hàng thừa kế
Luật dân sự Nhật Bản theo hệ thống pháp luật quy định tại (điều 967 và điều
984)
- Hình thực di chúc: +Di chúc viết tay không công chứng
+Di chúc viết tay có công chứng
+Di chúc bí mật
+Di chúc theo thể thức khác
* Di chúc theo pháp luật:
- Hàng thừa kế: Nhật bản có 3 hàng thừa kế:
Hàng thứ 1: Con của người chết, cháu người chết (nếu người thừa kế chết
trước người để lại di chúc, hoặc mất quyền hưởng di chúc
Hàng thứ 2: Là người cùng huyết thống thuộc trực hệ tôn(huyết thống bề
trên)
Hàng thứ 3: Anh chị em ruột của người chết
Từ đó cho thấy rằng vợ (chồng) người chết không liệt vào hàng thừa kế
nào nếu trên. Theo điều 890-BLDS Nhật bản:” Vợ chồng của người để
lại thừa kế trở thành người thừa kế trong mọi trường hip
.Trong trường hợp có bất cứ người nào trở thành người thừa kế phù hợp
với các qui định của ba điều trên thì trật tự thừa kế của vợ(chồng) sẽ
ngang hàng với người đó
- Điều 900-BLDS Nhật Bản thì việc chia thừa kế cùng hàng nếu có từ hai
người thừa kế cùng hàng trở lên sẽ được qui dịnh như sau:Khi vợ chồng,
con cái là những người thừa kế cùng hàng thì vợ chồng được 1/3, con cái
được 2/3.Khi vợ chồng và người thân trực hệ phía dưới là người thừa kế
thì mỗi người được một nửa.Khi vợ chồng và anh chị em ruột là người
thừa kế thì vợ chồng được 2/3 còn anh chị em ruột được 1/3.
- Nếu có nhiều con cái hoặc người thân trực hệ bề trên hoặc nhiều anh chị
em ruột thì các phần chia thừa kế sẽ bằng nhau.
- Diện thừa kế :Qua hàng thừa kế thì có thể đánh giá diện thừa kế có 3
diện:
+ Theo huyết thống
+ Theo hôn nhân
+ theo nuôi dưỡng
BLDS Nhật bản đã nêu rõ con của người để lại di sản là người thừa kế ngoài
ra theo điều này còn nói rõ nếu con của người để lại di sản chết trước, bị mất
quyền thừa kế trước thời điểm mở thừa kế do bị rơi vào các qui định ở điều
891 (Qui định về những người không được hưởng thừa kế) hoặc do quyết
định của tòa án thì con cái của người đó được hưởng thừa kế thay. Qui định
này có điểm tương đồng với qui định về thừa kế thế vị ở nước ta là con được
hưởng di sản thừa kế của cha nếu cha chết trước, nhưng cũng có điểm khác
là đối với những người không được quyền hưởng thừa kế thì con cháu của
người đó vẫn được hưởng.
2.4.2. so sánh với pháp luật Việt Nam
Về mối quan hệ hôn nhân.Khác với luật Việt Nam, trong bộ luật dân sự Nhật
bản ta có thể thấy rõ vợ(chồng) của người chết không được liệt vào hàng nào
trong ba hàng thừa kế nêu trên. Theo điều 890-BLDS Nhật bản:” Vợ chồng
của người để lại thừa kế trở thành người thừa kế trong mọi trường
hợp”Trong trường hợp có bất cứ người nào trở thành người thừa kế phù hợp
với các qui định của ba điều trên thì trật tự thừa kế của vợ(chồng) sẽ ngang
hàng với người đó.Theo điều này thì nếu người thừa kế là các con của người
chết thì người vợ( chồng) sẽ được tính là người thừa kế cùng hàng các con.
Nếu người chết không có con thì vợ(chồng) sẽ được tính cùng hàng với
những người thân trực hệ theo qui định hoặc cùng hàng với anh chị em
ruột.Điểm thứ ba là sự khác biệt về qui định về chia thừa kế giữa những
người cùng hàng.Ở Việt Nam những người cùng hàng được chia di sản
ngang bằng nhau nhưng theo điều 900-BLDS Nhật Bản thì việc chia thừa kế
cùng hàng nếu có từ hai người thừa kế cùng hàng trở lên sẽ được qui dịnh
như sau:Khi vợ chồng, con cái là những người thừa kế cùng hàng thì vợ
chồng được 1/3, con cái được 2/3.Khi vợ chồng và người thân trực hệ phía
dưới là người thừa kế thì mỗi người được một nửa.Khi vợ chồng và anh chị
em ruột là người thừa kế thì vợ chồng được 2/3 còn anh chị em ruột được
1/3.Nếu có nhiều con cái hoặc người thân trực hệ bề trên hoặc nhiều anh chị
em ruột thì các phần chia thừa kế sẽ bằng nhau.
Như vậy ta có thể thâý rõ dù trong bất kì trường hợp nào nếu người vợ
chồng còn sống thì họ sẽ được nhận một phần tài sản tương đối lớn so với
những người khác. Chứng tỏ pháp luật Nhật Bản coi trọng mối quan hệ hôn
nhân hơn Việt rất nhiều điều này khiến cho mối quan hệ vợ chồng càng trở
nên thiêng liêng, gắn bó hơn khi nó ràng buộc chặt chẽ vào quan hệ thừa kế.
Cũng theo điều 900 này thì phần của con không hợp pháp sẽ bằng ½ phần
của con hợp pháp; Anh chị em cùng cha khác mẹ cùng mẹ khác cha sẽ bằng
½ anh chị em cùng cha cùng mẹ đối với người thừa kế. Đây cũng là một
điểm đáng lưu ý vì theo luật Việt nam chỉ có anh chị em ruột được quyền
hưởng thừa kế của nhau, anh chị em nuôi dù hợp pháp cũng không được
hưởng. Anh chị em ngoài giá thú dù không hợp pháp theo pháp luật vẫn
được hưởng thừa kế.
III. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Thông qua việc nghiên cứu vấn đề này sẽ bổ sung 1 số ý kiến để hoàn
thiện chế định thừa kế trong pl VN.
1. Người thừa kế
Pháp luật dân sự ghi nhận quyền thừa kế của cá nhân, tổ chức. Điều 638
BLDS quy định:
” 1. Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa
kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai
trước khi người để lại di sản chết.
2. Trong trường hợp người thừa kế theo di chúc là cơ quan, tổ chức, thì phải
là cơ quan, tổ chức
tồn tại vào thời điểm mở thừa kế ” .
Tất nhiên, người thừa kế theo pháp luật chỉ có thể là cá nhân, còn người
thừa kế theo di chúc có thể là cá nhân hoặc tổ chức. Vấn đề đặt ra cần
làm rõ là:
Thứ nhất: Hiểu như thế nào về ” người còn sống vào thời điểm mở thừa
kế “, đặc biệt trong trường hợp những người thừa kế chết mà không xác
định được ai chết trước, ai chết sau. Thực tế chỉ ra rằng, có nhiều trường
hợp những người có quyền thừa kế di sản của nhau chết cách nhau một
khoảng thời gian rất ngắn, vụ việc tranh chấp thừa kế một thời gian dài
sau đó mới phát sinh, do vậy việc xác minh thời điểm chết của từng
người rất khó khăn, tạo phức tạp trong quá trình giải quyết vụ án.
Thứ hai: Điều luật cho phép người đã thành thai trước thời điểm mở thừa
kế nhưng sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế vẫn có quyền
thừa kế tài sản. Vấn đề ở chỗ: trường hợp nào được coi là sinh ra và còn
sống? Đứa trẻ ra đời có thể chỉ sống được 30 phút, 01 giờ, 7giờ, 24 giờ, 7
ngày… sau đó mới chết. Việc xác định khi nào đứa trẻ đó được coi là
người thừa kế có ảnh hưởng rất lớn đối với kỷ phần thừa kế của những
người khác.
Điều luật chưa có quy định cụ thể về vấn đề này nên có nhiều cách hiểu
khác nhau trong quá trình
áp dụng. Theo chúng tôi, nên vận dụng quy định của Nghị định
83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998
về đăng ký hộ tịch: đứa trẻ sinh ra và còn sống được 24 giờ rồi chết thì
phải khai sinh và khai tử để từ đó xác định khoảng thời gian được coi là
sinh ra và còn sống của đứa trẻ (24 giờ). Tuy nhiên,
điều này cũng cần được ghi nhận rõ ngay trong BLDS.
Thứ ba: Quyền thừa kế của các tổ chức (pháp nhân) đã sáp nhập, hợp
nhất, chia, tách, giải thể, phá sản.
- Theo quy định của pháp luật dân sự, các pháp nhân cùng loại có thể bị
chấm dứt khi sáp nhập, hợp nhất, chia, tách. Nhưng trong những trường
hợp này, pháp nhân không chấm dứt tuyệt đối mà quyền và nghĩa vụ của
nó được chuyển giao cho các pháp nhân khác. Vậy những pháp nhân này
có được thừa kế không?
- Pháp nhân cũng có thể bị chấm dứt theo quy định về giải thể hoặc phá
sản. Khi này, pháp nhân
chấm dứt “tuyệt đối”. Sau khi pháp nhân chấm dứt, một thời gian sau
mới phát sinh vụ việc tranh
chấp thừa kế mà pháp nhân đó được chỉ định là người thừa kế và tại thời
điểm mở thừa kế pháp
nhân chưa bị giải thể hoặc phá sản thì ai, cơ quan nào sẽ thay mặt pháp
nhân để nhận di sản hay khi này tài sản được coi là tài sản vô chủ và
thuộc về nhà nước?
- Mặt khác, theo quy định của pháp luật dân sự, pháp nhân đã bị giải thể,
bị tuyên bố phá sản có thể được thành lập lại theo quyết định của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền. Vậy, trường hợp pháp nhân đó bị giải thể, bị
tuyên bố phá sản trước thời điểm mở thừa kế, nhưng sau thời điểm mở
thừa kế lại được thành lập lại thì pháp nhân đó có được quyền thừa kế di
sản không?
2. Từ chối nhận di sản
Điều 645 BLDS quy định: ” 1. Người thừa kế có quyền từ chối nhận di
sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ
tài sản của mình đối với người khác.
2. Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản; người từ chối
phải báo cho những người
thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản, Công chứng
nhà nước hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có địa điểm mở
thừa kế về việc từ chối nhận di sản.
3. Thời hạn từ chối nhận di sản là sáu tháng, kể từ ngày mở thừa kế “.
Điều luật dành cho người thừa kế một quyền năng quan trọng: quyền từ
chối nhận di sản.
Về hình thức, việc từ chối phải lập thành văn bản, phải thông báo cho
một số chủ thể có liên quan.
Quy định này đặt ra một số vấn đề:
Thứ nhất: trong trường hợp người thừa kế vì những lý do khác nhau
(không nhằm trốn tránh thực

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét